Mục lục
Trang
Danh mục các chữ viết tắt 3
Danh mục các hình vẽ và biểu đồ 4
Phần mở đầu 5
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về thị trường chứng khoán Việt Nam
1.1. Một số quan điểm về thị trường chứng khoán 7
1.2. Phân loại thị trường chứng khoán 8
1.2.1. Căn cứ theo tính chất pháp lý 8
1.2.2. Căn cứ vào quá trình luân chuyển chứng khoán 9
1.2.3. Căn cứ theo phương thức giao dịch 9
1.2.4. Căn cứ vào đặc điểm hàng hóa 10
1.3. Các chủ thể hoạt động trên thị trường chứng khoán 10
1.3.1. Chủ thể phát hành 10
1.3.2. Các nhà đầu tư 10
1.3.3. Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán 11
1.3.4. Các tổ chức liên quan đến thị trường chứng khoán 11
1.4. Nguyên tắc cơ bản về hoạt động của thị trường chứng khoán 12
1.4.1. Nguyên tắc trung gian 13
1.4.2. Nguyên tắc đấu giá 13
1.4.3. Nguyên tắc tập trung 13
1.4.4. Nguyên tắc công khai 13
1.5. Vai trò của thị trường chứng khoán 14
1.5.1. Thị trường chứng khoán thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng nền kinh tế 14
1.5.2. Thị trường chứng khoán tạo điều kiện thu hút và kiểm soát vốn đầu tư
nước ngoài 14
1.5.3. Thị trường chứng khoán kích thích các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
lành mạnh và có hiệu quả 15
1.5.4. Thị trường chứng khoán là phương tiện giúp Chính phủ thực hiện chính
sách kinh tế tài chính 15
1.5.5. Thị trường chứng khoán tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán 15
TTLK CKVN: Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam
WTO: Tổ chức thượng mại quốc tế
BVH: Tập đoàn Bảo Việt
MSN: Công ty cổ phần tập đoàn Masan
Danh mục các hình vẽ và biểu đồ
Biểu đồ 1: Diễn biến hai chỉ số VN-Index và HASTC-Index trong giai đoạn tháng
12/2007 đến tháng 07/2008 22
Biểu đồ 2: Chỉ số VN-Index và HASTC-Index trong năm 2008 22
Biểu đồ 3: Chỉ số VN-Index trong năm 2009 24
Biểu đồ 4: Chỉ số HNX-Index trong năm 2009 24
Biểu đồ 5: Biến động của VN-Index và HNX-Index trong năm 2010 28
Biểu đồ 6: Diễn biến chỉ số VN-Index và HNX-Index trong năm 2011 29
Biểu đồ 7: Chỉ số VN-Index và HNX-Index trong năm 2012 30
Biểu đồ 8: Diễn biến giao dịch chứng khoán trên sàn HNX và HOSE trong
năm 2013 33
Phần mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở những nước phát triển hiện nay như Mỹ, Nhật Bản…, thị trường chứng khoán đã
ra đời từ cách đây mấy thế kỷ và đang phát triển rất sôi động và lớn mạnh. Còn ở Việt
Nam, mặc dù ra đời vào khoảng đầu năm 2000, thế nhưng cho đến nay thì thị trường
chứng khoán Việt Nam đã là một trong những thị trường tiềm năng, đang được nhận
sự quan tâm rất lớn từ công chúng cho tới Chính phủ. Bởi vì nó giữ vai trò quan trọng
trong việc huy động vốn, cung cấp môi trường đầu tư, tạo môi trường thuận lợi giúp
Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Xuất phát từ ý nghĩa lý luận và thực
tiễn của vấn đề, em chọn đề tài nghiên cứu: “Thực trạng thị trường chứng khoán tại
Việt Nam giai đoạn từ 2008 đến nay và một số kiến nghị nhằm phát triển thị trường
này”.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
− Hệ thống hóa một số vấn đề cơ bản về thị trường chứng khoán.
− Khảo sát, đánh giá thực trạng thị trường chứng khoán tại Việt Nam giai đoạn từ
được đặc trưng bởi thị trường vốn chứ không phải đồng nhất là một”. Như vậy theo
quan điểm này thị trường chứng khoán và thị trường vốn là khác nhau, trong đó thị
trường chứng khoán chỉ giao dịch, mua bán các công cụ tài chính trung và dài hạn
như trái phiếu chính phủ, cổ phiếu và trái phiếu công ty. Các công cụ tài chính
được giao dịch trên thị trường tiền tệ, không thuộc phạm vi hoạt động của thị trường
chứng khoán.
Quan điểm thứ ba: Dựa trên những gì quan sát được, tại đa số các Sở giao dịch
chứng khoán cho rằng “Thị trường chứng khoán là thị trường cổ phiếu”, hay là nơi
mua bán các cổ phiếu cổ phần được công ty phát hành ra để huy động vốn. Theo quan
điểm này thì thị trường chứng khoán được đặc trưng bởi thị trường mua bán các công
cụ tài chính mang lại quyền tham gia sở hữu.
Các quan điểm trên đều được khái quát dựa trên những cơ sở thực tiễn và trong
từng điều kiện lịch sử nhất định.
Tuy nhiên quan điểm rõ ràng và phù hợp với sự phát triển chung của thị trường
chứng khoán Việt Nam hiện nay được nêu trong khoản 18, điều 6 của Luật chứng
khoán năm 2006, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2007, quy định:
Thị trường giao dịch chứng khoán là địa điểm hoặc hình thức trao đổi thông tin
để tập hợp lệnh mua, bán và giao dịch chứng khoán.
Theo khoản 1, điều 6 trong Luật chứng khoán sửa đổi năm 2010, có hiệu lực từ
ngày 01 tháng 07 năm 2011 định nghĩa về chứng khoán như sau:
Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu
đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành.
1.2. Phân loại thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán được phân loại theo những căn cứ sau:
1.2.1. Căn cứ theo tính chất pháp lý
Căn cứ theo tính chất pháp lý, thị trường chứng khoán được chia thành các loại
sau:
− Thị trường chứng khoán chính thức hay còn gọi là Sở giao dịch chứng khoán, là
một thị trường được tổ chức tập trung có địa điểm giao dịch cố định. Chứng khoán
được mua bán là loại chứng khoán đã được niêm yết tại Sở giao dịch, việc mua bán
Căn cứ vào quá trình luân chuyển chứng khoán có thị trường phát hành và thị
trường lưu thông:
− Thị trường phát hành hay còn gọi là thị trường sơ cấp là nơi các chứng khoán
được phát hành lần đầu bởi các nhà phát hành được bán cho các nhà đầu tư. Tại thị
trường này, giá cả của chứng khoán là giá phát hành. Thông qua việc phát hành chứng
khoán, Chính phủ có thêm nguồn thu để tài trợ cho các dự án đầu tư hoặc chi tiêu của
Chính phủ, các doanh nghiệp huy động vốn trên thị trường nhằm tài trợ cho các dự án
đầu tư.
− Thị trường lưu thông hay còn gọi là thị trường thứ cấp là nơi diễn ra các giao
dịch mua bán chứng khoán sau khi đã giao dịch lần đầu. Nói cách khác thị trường thứ
cấp là thị trường mua đi bán lại các loại chứng khoán đã phát hành qua thị trường sơ
cấp, nhằm mục đích kiếm lời, di chuyển vốn đầu tư hay di chuyển tài sản xã hội.
Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp có quan hệ mật thiết, hỗ trợ lẫn nhau. Về
bản chất, mối quan hệ giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp là mối quan hệ nội
tại, biện chứng. Nếu không có thị trường sơ cấp sẽ không có thị trường thứ cấp, và
đồng thời thị trường thứ cấp lại tạo điều kiện phát triển cho thị trường sơ cấp. Mục
đích cuối cùng của các nhà quản lý là tăng cướng hoạt động huy động vốn trên thị
trường sơ cấp, vì chỉ tại thị trường này, vốn mới thực sự vận động từ người tiết kiệm
sang người đầu tư, còn sự vận động của vốn trên thị trường thứ cấp không tác động
trực tiếp tới việc tích tụ và tập trung vốn.
1.2.3. Căn cứ theo phương thức giao dịch
Căn cứ theo phương thức giao dịch có thị trường giao ngay và thị trường tương lai:
− Thị trường giao ngay là thị trường mua bán chứng khoán theo giá theo giá của
ngày giao dịch nhưng việc thanh toán và chuyển giao chứng khoán sẽ diễn ra tiếp theo
sau đó vài ngày theo quy định.
− Thị trường tương lai là thị trường mua bán chứng khoán theo một loạt hợp đồng
định sẵn, giá cả được thỏa thuận trong ngày giao dịch, nhưng việc thanh toán và
chuyển giao chứng khoán sẽ diễn ra trong một ngày kì hạn nhất định trong tương lai.
1.2.4. Căn cứ vào đặc điểm hàng hóa
Căn cứ vào đặc điểm hàng hóa có thị trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu và thị
khoán, gồm có:
− Nhà đầu tư cá nhân là các hộ gia đình, những người có vốn nhàn rỗi tạm thời
tham gia mua bán trên thị trường chứng khoán nhằm tìm kiếm lợi nhuận.
− Nhà đầu tư có tổ chức là các định chế tài chính thường xuyên mua bán chứng
khoán với số lượng lớn trên thị trường. Một số nhà đầu tư chuyên nghiệp trên thị
trường chứng khoán là các ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán, công ty đầu
tư, công ty bảo hiểm, quỹ tương hỗ.
1.3.3 Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán
− Công ty chứng khoán: là các doanh nghiệp hoạt động trên quy định của Pháp
luật trên thị trường chứng khoán. Tùy theo số vốn điều lệ và nôị dung trong đăng kí
kinh doanh mà công ty chứng khoán có thể thực hiện một số nghiệp vụ kinh doanh
như: môi giới chứng khoán, tự doanh, quản lí danh mục đầu tư, bảo lãnh phát hành, tư
vấn đầu tư và lưu ký chứng khoán.
− Các ngân hàng thương mại: ở một số nước các ngân hàng thương mại có thể sử
dụng vốn tự có để tăng và đa dạng hóa lợi nhuận qua việc đầu tư vào chứng khoán. Ở
Việt Nam các ngân hàng thương mại thành lập các công ty con chuyên doanh trong
hoạt động kinh doanh chứng khoán.
− Các trung gian tài chính khác như quỹ đầu tư…
1.3.4 Các tổ chức liên quan đến thị trường chứng khoán
− Cơ quan quản lý Nhà nước: nhận thấy cần phải có một cơ quan bảo vệ lợi ích
của nhà đầu tư và đảm bảo cho thị trường chứng khoán hoạt động một cách thông suốt
cũng như việc thanh tra giám sát hoạt động của các chủ thể tham gia trên thị trường
chính là việc cần thiết phải có một cơ quan thực hiện các nhiệm vụ trên. Ở Việt Nam
có Ủy ban chứng khoán nhà nước thuộc Bộ tài chính.
− Sở giao dịch chứng khoán là cơ quan thực hiện vận hành thị trường và ban hành
những quyết định điều chỉnh các hoạt động giao dịch chứng khoán trên Sở, phù hợp
với quy định của pháp luật và Ủy ban chứng khoán.
− Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán là tổ chức tự quản của các công ty
chứng khoán và một số thành viên khác hoạt động trong ngành chứng khoán được
thành lập và thực hiện một số chức năng chính sau: khuyến khích hoạt động đầu tư và
1.4. Nguyên tắc cơ bản về hoạt động của thị trường chứng khoán
Hầu hết hoạt động trên thị trường chứng khoán tuân thủ theo 4 nguyên tắc cơ bản sau:
1.4.1. Nguyên tắc trung gian
Mọi hoạt động giao dịch, mua bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán đều
được thông qua các trung gian hay còn gọi là các nhà môi giới. Các nhà môi giới thực
hiện theo lệnh của khách hàng và hưởng hoa hồng.
Trên thị trường sơ cấp các nhà đầu tư không mua trực tiếp của nhà phát hành mà
mua từ các nhà bảo lãnh phát hành. Trên thị trường thứ cấp, thông qua các nghiệp vụ
môi giới kinh doanh, các công ty chứng khoán mua, bán chứng khoán giúp cho khách
hàng hoặc kết nối các khách hàng với nhau qua việc thực hiện các giao dịch chứng
khoán trên tài khoản của mình.
Nguyên tắc này nhằm đảm bảo các loại chứng khoán được giao dịch là chứng khoán
thật và giúp thị trường hoạt động lành mạnh, bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư.
1.4.2. Nguyên tắc đấu giá
Giá chứng khoán được xác định thông qua việc đấu giá giữa lệnh mua và lệnh bán.
Tất cả các thành viên tham gia thị trường đều không thể can thiệp vào việc xác định
giá này. Có 2 hình thức đấu giá là đấu giá trực tiếp và đấu giá tự động:
− Đấu giá trực tiếp là việc các nhà môi giới gặp nhau trên sàn giao dịch và đấu
giá trực tiếp.
− Đấu giá tự động là việc các lệnh giao dịch từ các nhà môi giới được nhập vào
hệ thống máy chủ của sở giao dịch chứng khoán. Hệ thống máy chủ này sẽ xác định
mức giá sao cho tại mức giá này chứng khoán giao dịch với khối lượng cao nhất.
1.4.3. Nguyên tắc tập trung
Các giao dịch chứng khoán chỉ diễn ra trên Sở giao dịch (thị trường chứng khoán
chính thức) và trên thị trường OTC (thị trường chứng khoán phi chính thức) dưới sự
kiểm tra giám sát của cơ quan quản lí nhà nước và các tổ chức tự quản.
Thị trường OTC lớn hơn nhiều lần so với thị trường chính thức hay còn gọi là Sở
giao dịch. Việc bán cổ phần cho công chúng ở bên ngoài Trung tâm giao dịch chứng
khoán (thị trường OTC) diễn ra khá sôi động, nhưng hiện chưa có quy định Pháp luật
kiểm soát hoạt động này. Theo ước tính, số lượng doanh nghiệp huy động vốn cổ đông
giữa các ngành kinh tế. Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát
hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó
góp phần mở rộng sản xuất xã hội. Thông qua thị trường chứng khoán, Chính phủ và
chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử
dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ nhu cầu chung của xã hội.
1.5.2. Thị trường chứng khoán tạo điều kiện thu hút và kiểm soát vốn đầu tư nước ngoài
Việc đầu tư vốn từ nước ngoài có thể thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau,
trong đó có đầu tư vốn thông qua thị trường chứng khoán. Đây là hình thức đầu tư dễ
dàng và hữu hiệu. Với nguyên tắc công khai, thị trường chứng khoán là nơi mà các
nhà đầu tư nước ngoài có thể theo dõi và nhận định một cách dễ dàng của các ngành,
các doanh nghiệp trong nước. Hơn nữa thị trường chứng khoán còn thu hút vốn thông
qua mua bán chứng khoán, từ đó tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài.
Họ chỉ cần bỏ vốn đầu tư bằng cách mua cổ phiếu hoặc trái phiếu trên thị trường.
1.5.3. Thị trường chứng khoán kích thích các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
lành mạnh và có hiệu quả
Với nguyên tắc công khai của thị trường chứng khoán các nhà đầu tư có thể theo
dõi, đánh giá, kiểm soát các công ty một cách dễ dàng. Đồng thời, với sự tự do lựa
chọn của nhà đầu tư trong việc mua bán chứng khoán, loai chứng khoán của công ty
nào các doanh nghiệp muốn huy động được vốn và duy trì vốn hoạt động thông qua thị
trường chứng khoán phải tính toán, làm ăn đàng hoàng và có hiệu quả ngày càng cao.
Nếu không thì doanh nghiệp và ban lãnh đạo doanh nghiệp sẽ được quyết định bởi
thị trường.
1.5.4. Thị trường chứng khoán là phương tiện giúp Chính phủ thực hiện chính
sách kinh tế tài chính
Với nguyên tắc công khai của thị trường chứng khoán các nhà đầu tư có thể theo
dõi, đánh giá, kiểm soát các công ty một cách dễ dàng. Đồng thời, với sự tự do lựa
chọn của nhà đầu tư trong việc mua bán chứng khoán, loại chứng khoán của công ty
nào các doanh nghiệp muốn huy động được vốn và duy trì vốn hoạt động thông qua thị
trường chứng khoán phải tính toán, làm ăn đàng hoàng và có hiệu quả ngày càng cao.
Nếu không thì doanh nghiệp và ban lãnh đạo doanh nghiệp sẽ được quyết định bởi
quan trọng đối với nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường.
Chương 2: Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam
giai đoạn 2008 đến nay
2.1. Mô hình thị trường chứng khoán Việt Nam
2.1.1. Cơ quan quản lý thị trường chứng khoán
Đối với Việt Nam, Ủy ban chứng khoán Nhà nước đã được thành lập, là cơ quan
trực thuộc bộ tài chính, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ tài chính
quản lý Nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán, trực tiếp quản lý, giám
sát hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán, quản lý các hoạt động dịch vụ
thuộc lĩnh vực chứng khoán, thị trường chứng khoán theo quy định của pháp luật.
2.1.2. Sở giao dịch chứng khoán
Hiện nay tại Việt Nam có hai Sở giao dịch chứng khoán được đặt ở Hà Nội và
Thành phố Hồ Chí Minh, đều thuộc sở hữu của Nhà nước, được tổ chức theo mô hình
công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên , hoạt động theo Luật Chứng khoán, Luật
Doanh nghiệp, Điều lệ của Sở giao dịch chứng khoán và các quy định khác của pháp
luật có liên quan.
Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) tiền thân là Trung tâm
giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh được chuyển đổi theo quyết định
599/QĐ-TTg ngày 11/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ.
Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) được thành lập theo quyết định số
01/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở chuyển đổi từ Trung tâm giao
dịch chứng khoán Hà Nội.
Mục tiêu chung của cả hai Sở giao dịch là tổ chức vận hành thị trường giao dịch
chứng khoán hoạt động minh bạch, công bằng, hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của nhà đầu tư, xây dựng Sở giao dịch theo chuẩn mực quốc tế, nâng cao chất
lượng dịch vụ đáp ứng tốt nhất nhu cầu thị trường, đưa thị trường chứng khoán trở
thành một kênh huy động vốn chủ đạo và hiệu quả cho nền kinh tế, đóng góp vào sự
bền vững của thị trường vốn Việt Nam và tăng trưởng thịnh vượng của nề kinh tế.
Cho đến nay thì Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và T.p Hồ Chí Minh đã giành
được rất nhiều thành tựu xuất sắc góp phần phát triển thị trường chứng khoán nói riêng
chứng khoán.
− Giám sát hoạt động của các thành viên lưu ký nhằm đảm bảo sự tuân thủ các
Quy chế hoạt động nghiệp vụ của Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam nhằm bảo
vệ tài sản của người sở hữu chứng khoán.
− Quản lý tỉ lệ sở hữu của người đầu tư nước ngoài theo quy định của pháp luật.
− Hỗ trợ phát triển thị trường thông qua việc cung cấp các dịch vụ cơ sở hạ tầng
kĩ thuật, thông tin nhằm mục tiêu phát triển thị trường chứng khoán.
− Tham gia các chương trình hợp tác quốc tế trong lĩnh vực chứng khoán và thị
trường chứng khoán trong khuôn khổ quy định của Ủy ban chứng khoán Nhà nước và
Bộ tài chính.
− Thực hiện các chức năng, nhiệm vụ khác sau khi Bộ tài chính chấp nhận.
2.1.4. Các tổ chức trung gian
Ở Việt Nam, các Ngân hàng chỉ được phép kinh doanh chứng khoán dưới hình
thức thành lập các công ty độc lập, hoạt động tách rời với kinh doanh tiền tệ. Bên cạnh
đó Nhà nước cũng cho phép cả các công ty chứng khoán hình thành từ các công ty tài
chính, các tổng công ty lớn.
Ở Việt Nam, công ty chứng khoán được phép thực hiện tất cả các hình thức như:
bảo lãnh phát hành chứng khoán, môi giới chứng khoán, tư doanh chứng khoán, tư vấn
chứng khoán và quản lý quỹ đầu tư. Riêng hình thức quản lý quỹ đầu tư, yêu cầu phải
hoạt động tách rời dưới hình thức một công ty độc lập nhằm bảo vệ lợi ích của những
cổ đông của quỹ.
Ngoài ra hiện nay, Nhà nước còn cho phép hai loại doanh nghiệp tham gia kinh
doanh chứng khoán là công ty cổ phần và doanh nghiệp liên doanh.
Trên thế giới có hai loại đầu tư chứng khoán, chủ yếu là quỹ đóng và quỹ mở.
Trong thời gian đầu, Việt Nam dự kiến áp dụng hình thức quỹ đầu tư chứng khoán
dạng quỹ đóng (quỹ không mua lại cổ phần của cổ đông muốn rút vốn) để đảm bảo an
toàn trong điều kiện khả năng thanh toán của thị trường còn thấp.
Sau 14 năm ra đời và hoạt động, mô hình thị trường chứng khoán Việt Nam đã có
những bước đổi mới, phát triển để phù hợp với thời đại mới, theo kịp với thị trường
chứng khoán phát triển mạnh của các nước trên thế giới. Mỗi một tổ chức trong mô
Tính từ tháng 12/2007 đến tháng 07/2008 thì VN-Index giảm 52,92%, còn
HASTC-Index giảm 65,17%.
Biểu đồ 1: Diễn biến hai chỉ số VN-Index và HASTC-Index giai đoạn tháng 12/2007
đến tháng 7/2008.
Nguồn: Công ty Cổ phần chứng khoán Bảo Việt.
Biểu đồ 2: Chỉ số VN-Index và HASTC-Index trong năm 2008.
Vào giai đoạn cuối năm 2008, VN-Index bị ảnh hưởng mạnh do cuộc khủng hoảng
tài chính toàn cầu. 286,85 là mức điểm thấp nhất của VN-Index trong năm 2008. Tính
từ mức đầu năm 2008 là 921,07 điểm thì chỉ số này đã mất đi 65,73% giá trị,
HASTC lần đầu tiên giảm dưới mốc 100 điểm sau hơn 3 năm thành lập, đạt 971,6
vào này 27/11 và VN-Index thì gần chạm mốc 300 điểm đạt 303,54 vào ngày hôm
đó.Thống kê giao dịch cho thấy sức cầu (mua) toàn thị trường 2 sàn HOSE và
HASTC trong giai đoạn này chỉ đạt trung bình 140 tỷ đồng/ngày, mức thấp nhất từ
năm 2006 đến bấy giờ.
Những tháng cuối cùng của năm 2008, thị trường giảm điểm và kéo dài đến đầu
năm 2009.
b. Diễn biến thị trường chứng khoán năm 2009
Năm 2009, dù kinh tế gặp nhiều khó khăn nhưng là một năm đánh dấu bước phát
triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán Việt Nam. Cả hai chỉ số VN-Index và
HNX-Index đã phục hồi mạnh trên 50%. Số lượng công ty mới niêm yết tăng vọt,
trong đó nhiều doanh nghiệp lớn được niêm yết trên sàn. Trung tâm giao dịch chứng
khoán Hà Nội chuyển đổi thành Sở giao dịch chứng khoán ngày 24/06, sau 4 năm hoạt
động. Thành lập thêm sàn UPCoM cho những công ty đại chúng đăng ký giao dịch.
Trên sàn HOSE, chỉ số VN-Index đã tăng 58% trong năm 2009, từ mức 312,49
điểm vào đầu năm 2009 lên mức 494,77 điểm vào phiên giao dịch kết thúc năm 2009.
Và ở sàn HNX, mức tăng trưởng trong năm 2009 của HNX-Index là 60,9%.
Sự thăng trầm của thị trường chứng khoán trong năm 2009 có quan hệ khá chặt chẽ
với những chính sách tiền tệ và dòng tiền đổ vào thị trường. Kể từ lúc phục hồi từ mức
thấp nhất vào tháng 2, thị trường đã trải qua 2 lần điều chỉnh mạnh. Sự phục hồi của
thị trường từ mức 235,5 lên 512 điểm vào tháng 6 gắn liền với cung tiền trong nền
dịch chứng khoán Hà Nội từ Trung tâm chứng khoán Hà Nội và việc thành lập thêm
sàn UPCoM.
c. Diễn biến thị trường chứng khoán năm 2010
Năm 2010 nhìn chung là một năm đi lùi của thị trường chứng khoán Việt Nam.
Các chỉ số Index chính đều suy giảm, trong đó riêng HNX suy giảm tới xấp xỉ 30%.
Các công ty chứng khoán lớn đều công bố kết quả kinh doanh năm 2010 chỉ đạt
khoảng 50-75% kế hoạch.
Nửa đầu năm 2010, thị trường chứng khoán thế giới lao đao khi chịu ảnh hưởng
của cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu, chính sách thắt chặt tiền tệ của Trung Quốc
và tình trạng trì trệ của kinh tế Mỹ. Cho đến đầu tháng 02/2010 thì chứng khoán thế
giới đã có những bước phục hồi khi các vấn đề kinh tế vĩ mô dần được giải quyết.
Trong khi kinh tế Việt Nam vẫn giữ tốc độ tăng trưởng ổn định thì chứng khoán Việt
Nam có phần “lạc nhịp” so với thế giới và các nước trong khu vực.
Kết thúc năm 2010, chỉ số VN-Index và HNX-Index giảm lần lượt 2% và 32,1% so
với cuối năm 2009. Tuy nhiên, mức sụt giảm của nhiều cổ phiếu ở mức cao gấp nhiều
lần so với hai chỉ số, từ 50% – 60%.
Nói chung thị trường chứng khoán năm 2010 có thể chia thành các giai đoạn
như sau:
Giai đoạn từ đầu năm đến 22/01/2010:
Thị trường chứng khoán giảm nhẹ, đi ngang xen kẽ các đợt tăng nhẹ. Thị trường
chứng khoán mở của năm 2010, với liên tiếp các phiên giảm điểm ảnh hưởng bởi
thông tin không chính thức từ việc tăng lãi suất cơ bản, VN-Index rơi mạnh. Từ mức
đỉnh 543,46 điểm, VN-Index lùi sâu về mức 477,59 điểm. Thị trường biến động do lo
ngại về lạm phát khi chỉ số CPI tháng 01/2010 tăng ở mức cao 1,36% so với tháng
12/2009, khiến Ngân hàng Nhà nước vẫn thận trọng trong chính sách tiền tệ.
Tuy vậy, thanh khoản của thị trường vẫn duy trì ổn định. Triển vọng kinh tế Việt
Nam trong năm 2010 vẫn được nhận định khá lạc quan và nhà đầu tư có xu hướng tích
lũy cổ phiếu.
Giai đoạn từ ngày 23/01 đến 06/05/2010:
Thị trường phục hồi lên 549,51 điểm vào khoảng tháng 5 năm 2010, mức cao nhất
tiền tệ. Thanh khoản thị trường duy trì ở mức thấp cho thấy dòng tiền mạnh không
tham gia tích cực. Pennystocks tiếp tục là lựa chọn chủ yếu của nhà đầu tư khiến cho
thị trường chỉ dao động trong biên độ hẹp. Dấu ấn của nhà đầu tư nước ngoài trong
giai đoạn này khá đậm nét. Họ liên tục mua ròng từ đầu năm nhưng đây là khoảng thời
gian mua ròng mạnh và liên tục. Đây là lực đỡ chính cho thị trường khi nhà đầu tư
nước ngoài tập trung mua vào các mã chủ chốt như BVH, MSN…
Trong giai đoạn này, VN-Index có một khoảng đi ngang khá dài do không có tin
tức vĩ mô đột biến hỗ trợ. Đồng thời, với lực cung cổ phiếu khá mạnh trong thời điểm
từ đầu tháng 9 đến đầu tháng 11/2010 là một yếu tố cơ bản ngăn cản sự tăng giá của
VN-Index. Giữa tháng 11/2010, VN-Index giảm nhẹ do dòng tiền đã ra khỏi thị
trường, để tìm kiếm lợi nhuận ở kênh đầu tư khác như vàng, USD. Đây là thời điểm
vàng và USD tăng khá mạnh.
Xu thế đi ngang của thị trường tài chính chấm dứt vào cuối tháng 11 với dòng tiền,
bao gồm cả việc sử dụng đòn bẩy tài chính, bắt đầu quay trở lại và giúp thị trường
phục hồi khá mạnh. Các cổ phiếu chứng khoán, tài chính, bất động sản lần lượt là
điểm sang kéo thị trường tăng mạnh từ 421 đến 495 điểm vào thời điểm cuối năm.
Điểm đáng lưu ý là song phục hồi này bắt nguồn từ các cổ phiếu bluechips và ngân
hàng chứng khoán được xem như là dấu hiệu khởi đầu cho một “chu kỳ tăng điểm
dài hạn”.
Tuy vậy, các yếu tố kinh tế vĩ mô như lạm phát và lãi suất tăng cao, tỷ giá căng
thẳng…vẫn còn tồn tại và tiếp tục đè nặng lên tâm lý nhà đầu tư trong năm 2011.
Biểu đồ 5: Biến động của VN-Index và HNX-Index trong năm 2010.
Nguồn: VietstockFinance
Như vậy, trong năm 2010 biến động của thị trường bám khá sát động thái điều
hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước và triển vọng kinh tế vĩ mô. Trong
khi đó, các yếu tố khác, đặc biệt là kết quả kinh doanh không có nhiều tác động lên
diễn biến thị trường.
2.2.2. Diễn biến thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2011 đến nay
a. Diễn biến thị trường chứng khoán năm 2011
Năm 2011 là một năm khó khăn đối với nền kinh tế Việt Nam và thế giới, nó tác