Triển vọng thu hút và một số kiến nghị nhằm phát huy vai trò vốn ODA Nhật Bản tại Việt Nam - Pdf 26

Nghiên cứu khoa học sinh viên
MỤC LỤC
Khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế Đại học Kinh tế
1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Tên viết tắt Tên đầy đủ Tên Tiếng Việt
CNH-HĐH Công nghiệp hóa – HIện đại hóa
ADB Asian Development Bank Ngân hàng Phát triển Châu Á
ASEAN
Association of Southeast Asian
Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á
DAC
The Development Assistance
Committee
Ủy ban viện trợ phát triển
EVN Vietnam Electricity Tập đoàn Điện lực Việt Nam
FDI Foreign Direct Investment
Vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài
JBIC
Japan Bank for International
Cooperation
Ngân hàng Hợp tác Quốc tế
Nhật Bản
JETRO
Japan External Trade
Organization
Tổ chức Xúc tiến Thương
mại Nhật Bản

Nhà tài trợ thường niên (tháng 12 hằng năm) cho Việt
Nam (2004-2010)
21
Bảng 3
Tài trợ của Nhật Bản và các nước thuộc tổ chức DAC cho
Việt Nam thời kỳ 1978-1991
24
Bảng 4
ODA Nhật Bản cam kết cho Việt Nam vay từ năm 1992
đến 2010 (Ký kết tại các hội nghị thường niên giữa hai
quốc gia)
30
Bảng 5
Viện trợ phát triển chính thức ODA của Nhật Bản cho Việt
Nam từ năm 2002 đến 2009
31
Bảng 6
Bảng số liệu về ODA và FDI Nhật Bản vào Việt Nam từ
năm 2004 dến 2010
33
Bảng 7
Giải ngân vốn ODA của Nhật Bản vào Việt Nam trong giai
đoạn 2002-2009
35
Bảng 8
Hiệu quả của Chương trình xóa đói giảm nghèo tại Việt
Nam thời kỳ 1993 – 2008
61
Bảng 9
Phân tích các khoản cam kết theo nhóm ngành, lĩnh vực và

tài trợ ODA.
Nguồn vốn ODA cam kết tính cả số vốn cam kết tại Hội nghị Nhóm tư vấn
Các nhà tài trợ 2010 diễn ra tháng 12 vừa qua lên tới 64 tỷ USD . Đây là một con
số khá ấn tượng và đặc biệt hơn Nhật Bản vẫn là quốc gia có số vốn cam kết hỗ
trợ lớn nhất. Vốn ODA Nhật Bản đã vào Việt Nam từ năm 1992 và đến nay
lượng vốn đó không ngừng tăng, Nhật Bản và Việt Nam đã có nhiều ký kết về
vấn đề này để sự hợp tác ngày càng đạt hiệu quả cao hơn. Nhìn lại chặng đường
4
gần 20 năm tiếp nhận vốn ODA từ Nhật Bản, chúng ta nhận thấy nguồn vốn Hỗ
trợ phát triển chính thức của Nhật Bản đã góp phần rất lớn vào sự phát triển kinh
tế - xã hội của Việt Nam. Trong bối cảnh đó, nhận thấy cần thiết phải có một bài
nghiên cứu về vai trò của nguồn vốn ODA Nhật Bản tới sự phát triển của Việt
Nam, chúng em quyết định chọn đề tài: “Vai trò của ODA Nhật Bản đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam thời gian qua”.
2. Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về nguồn vốn Hỗ trợ phát triển chính thức ODA cho Việt Nam
đã có một số công trình trên nhiều khía cạnh và phương diện khác nhau và đã đạt
được những kết quả nhất định. Tiêu biểu trong số đó là:
• “Giải ngân vốn Hỗ trợ chính thức – thực trạng và giải pháp” (2005), Luận
văn Thạc sĩ, Nguyễn Thanh Hương, Khoa Kinh Tế - ĐHQGHN.
• “Một số giải pháp quản lý sư dụng vốn vay ODA ở Việt Nam” (2006),
Luận văn Thạc sĩ, Nguyễn Đình Hoan, Khoa Kinh tế - ĐHQGHN.
• “Hỗ trợ phát triển chính thức ODA của Liên minh Châu Âu (EU) đối với
phát triển của kinh tế-xã hội Việt Nam”, (2009), Luận văn Thạc sĩ, Trần
Thị Thanh Huyền, Đại học Kinh tế - ĐHQGHN.
Nhìn chung, các đề tài đã tập trung làm rõ thực trạng và tác động của
nguồn vốn ODA, đưa ra những vấn đề lý luận chung về ODA. Tuy nhiên các đề
tài này chưa đi sâu, tập trung vào nguồn vốn ODA của Nhật Bản và tác động của
nó tới phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam. Bên cạnh đó, còn có rất nhiều bài
nghiên cứu, bài báo, các website của các cơ quan chính phủ cũng như các tổ

Bài nghiên cứu sử dụng hệ thống phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác
Lê-nin, cụ thể là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương
pháp tổng hợp so sánh và phương pháp thống kê số liệu để xử lý số liệu.
6. Những đóng góp mới của Nghiên cứu khoa học
- Phân tích, làm rõ vai trò của ODA Nhật Bản đối với sự phát triển kinh tế xã hội
Việt Nam.
- Phân tích những cơ hội, thách thức thu hút ODA của Nhật Bản, từ đó dự báo
triển vọng ODA của Nhật Bản cho Việt Nam.
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa tác động tích cự của ODA
Nhật Bản tới phát triển kinh tế Việt Nam.

7. Bố cục bài Nghiên cứu khoa học
Từ những mục tiêu và phạm vi nghiên cứu nói trên, để giải quyết tốt các
nhiệm vụ đề ra, bài nghiên cứu khoa học được trình bày gồm ba chương:
CHƯƠNG I: Khái quát chung về chính sách ODA của Nhật Bản
CHƯƠNG II: Tác động của ODA Nhật Bản tới phát triển kinh tế - xã hội
Việt Nam trong thời gian qua
CHƯƠNG III: Triển vọng thu hút và một số kiến nghị nhằm phát huy vai
trò vốn ODA Nhật Bản tại Việt Nam
Ngoài ra bài nghiên cứu còn có các phần khác như: Mở đầu, Kết luận, Tài
liệu tham khảo…
7
CHƯƠNG I:
KHÁI QUÁ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH ODA CỦA NHẬT BẢN
1.1 Một số khái niệm về ODA
1.1.1 Khái niệm
Vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA đã ra đời và hình thành trong một
thời gian dài và có nhiều đóng góp tích cực cho phát triển của nhiều quốc gia và
khu vực trên thế giới. Thuật ngữ ODA được dùng chính thức lần đầu tiên vào
năm 1961 trong bản báo cáo của tổ chức DAC nhưng cho đến nay vẫn chưa có

Những chủ thể trong mối quan hệ cho vay, tiếp nhận vốn vay ODA gồm
có các nhà tài trợ (các quốc gia và tổ chức) và các quốc gia nhận viện trợ. Các
nhà tài trợ chính là Chính phủ các nước chủ yếu là các nước phát triển hoặc
tương đối phát triển, Tổ chức liên chính phủ (OECD-DAC), các tổ chức thuộc
Liên hợp quốc (United Nations), các tổ chức tài chính quốc tế: IMF, WB, WTO
(PRGF Trust, MIGA Multilateral Investment Guarantee Agency), các ngân hàng
phát triển khu vực (AsDB Asian Development Bank, Afr.DB African
Development Bank ) và các tổ chức phi chính phủ (NGOs).
Các nước nhận viện trợ: Là chính phủ các nước đang và kém phát triển.
Cá nhân và doanh nghiệp không được trực tiếp nhận ODA. Chính phủ là người
đứng ra tiếp nhận ODA, nhận nợ với các nhà tài trợ như một khoản nợ quốc gia
9
và là người phải trả nợ, là người chịu trách nhiệm trước khoản nợ này. ODA
được tính vào thu ngân sách do đó việc sử dụng vốn ODA cho một dự án cụ thể
nào đó được coi là việc sử dụng vốn ngân sách. (Tham khảo danh sách các quốc
gia và vùng lãnh thổ nhận viện trợ ODA của DAC mới nhất, công bố 8/2009 tại
Phụ lục 2).
Với mục đích khi thực hiện Viện trợ ODA là góp phần vào sự phát triển
của các nước đang và chậm phát triển nên có thể nhận thấy vốn ODA mang
nhiều tính ưu đãi, mang lại lợi ích cho cả hai bên tham gia và cũng có các ràng
buộc nhất định. Dưới đây là một số đặc điểm nổi bật của nguồn vốn ODA.
Vốn ODA là nguồn vốn có tính ưu đãi: của các nước phát triển, các tổ chức
quốc tế đối với các nước đang và chậm phát triển.Với mục tiêu trợ giúp các nước
đang và chậm phát triển, vốn ODA mang tính ưu đãi hơn bất cứ nguồn tài trợ
nào khác. Thể hiện:
• Khối lượng vốn vay lớn từ hàng chục đến hàng trăm triệu USD.
Theo công hàm trao đổi giữa Đại sứ quán Nhật Bản và Bộ Kế hoạch - Đầu
tư, trong nửa đầu năm tài khóa 2009 (năm tài khóa 2009 kéo dài từ 01/04/2009
đến 31/03/2010), Nhật Bản cung cấp cho Việt Nam nguồn vốn vay phát triển
chính thức (ODA) trị giá 65 tỷ yên, tương đương với 650 triệu USD) (21).

các ngành công nghiệp non trẻ và được yêu cầu từng bước mở cửa thị trường bảo
hộ cho những danh mục hàng hoá mới của nước tài trợ; yêu cầu có những ưu đãi
11
đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài như cho phép họ đầu tư vào những
lĩnh vực hạn chế, có khả năng sinh lời cao (25).
Nguồn vốn ODA từ các nước giàu cung cấp cho các nước nghèo cũng
thường gắn với việc mua các sản phẩm từ các nước này mà không hoàn toàn phù
hợp, thậm chí là không cần thiết đối với các nước nghèo. Bên nước tài trợ ODA
thường yêu cầu trả lương cho các chuyên gia, cố vấn dự án của họ quá cao so với
chi phí thực tế cần thuê chuyên gia như vậy trên thị trường lao động thế giới. Ví
như các dự án ODA trong lĩnh vực đào tạo, lập dự án và tư vấn kỹ thuật, phần trả
cho các chuyên gia nước ngoài thường chiếm đến hơn 90% (14).
Nguồn vốn viện trợ ODA còn được gắn với các điều khoản mậu dịch đặc
biệt nhập khẩu tối đa các sản phẩm của họ. Cụ thể là nước cấp ODA buộc nước
tiếp nhận ODA phải chấp nhận một khoản ODA là hàng hoá, dịch vụ do họ sản
xuất.
Nước tiếp nhận ODA tuy có toàn quyền quản lý sử dụng ODA nhưng
thông thường, các danh mục dự án ODA cũng phải có sự thoả thuận, đồng ý của
nước viện trợ, dù không trực tiếp điều hành dự án nhưng họ có thể tham gia gián
tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia. Ví dụ, vay của Nhật Bản thì
phải sử dụng các nhà thầu của Nhật Bản, vật liệu xây dựng, thiết kế, tư vấn giám
sát cũng phải của Nhật Bản.
ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ: Vốn ODA không có khả năng đầu
tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu trong khi việc trả nợ lại dựa vào
xuất khẩu thu ngoại tệ. Bên cạnh đó nếu không có những chính sách quản lý, sử
dụng hợp lý, kích thích tiến độ và đảm bảo chất lượng cho các dự án thì sẽ dẫn
đến chất lượng của các dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ này kém hiệu quả,
lợi ích mang lại thấp. Do đó, có thể khiến các nước tiếp nhận nguồn vốn rơi vào
12
tình trạng nợ nần. Hơn thế, khối lượng vốn vay tuy có tính ưu đãi (lãi suất thấp),

cung cấp
Tính chất tài
trợ
Hỗ trợ
căn bản:
Là nguồn
vốn cung
cấp để
xây dựng
cơ sở hạ
tầng kinh
tế, xã hội
và môi
trường.
Hỗ trợ
kĩ thuật:
là nguồn
lực dành
cho
chuyển
giao tri
thức,
công
nghệ,
xây
dựng,
phát
triển thể
chế…
ODA

lãi suất,
35% cho
khoản vay
ràng buộc
và 25%
cho khoản
vay không
ràng buộc.
ODA
không
hoàn lại:
là hình
thức
nước tiếp
nhận
không
phải
hoàn trả
lại số
vốn cho
nhà tài
trợ.
ODA hỗ
trợ dự án:
là hình
thức chủ
yếu của
ODA hỗ
trợ cho
các dự án

phủ nước
tiếp nhận.
1.2 Tổng quan về ODA của Nhật Bản
1.2.1 Lịch sử hình thành
Chính sách hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của Nhật Bản xuất phát từ
nhu cầu và chính sách bồi thường chiến tranh của Nhật Bản cho các nước sau
chiến tranh Thế giới thứ II. Sau đó khi nền kinh tế Nhật Bản đã phục hồi và phát
triển, Nhật Bản tham gia vào các Hiệp định và tổ chức thế giới thì Chính sách
ODA được mở rộng ra các nước đang phát triển ở các khu vực khác nhau. Hiện
nay Nhật Bản là một trong những quốc gia tài trợ vốn lớn trên thế giới. Năm tài
khóa 2008, Nhật Bản là nhà tài trợ song phương lớn thứ năm thế giới với tổng số
vốn là 9,579 tỷ USD.
Bảng 1: Số lượng vốn ODA của 5 nhà tài trợ song phương lớn nhất qua các
năm (Tỷ USD)
Quốc gia 1997-98 2005 2006 2007 2008
Mỹ 7,832 27,935 23,532 21,787 26,842
Anh 3,648 10,772 12,459 9,849 11,500
Đức 5,719 10,082 10,435 12,291 13,981
Pháp 6,024 10,026 10,601 9,884 10,908
Nhật Bản 9,999 13,126 11,136 7,679 9,579
Nguồn: Tổng hợp từ “Development Co-operation report 2010”(www.oecd.gov )
Chính sách ODA của Nhật Bản xuất phát từ chính sách hợp tác kinh tế lâu
đời của Nhật Bản dựa trên các học thuyết về kinh tế của Fukuda và chính sách
ngoại giao kinh tế của Chính phủ Nhật Bản, mà đích đến đầu tiên chính là các
nước láng giềng trong khu vực Đông Nam Á, sau đó được mở rộng hơn.
Chính sách ODA của Nhật Bản được chia làm 4 giai đoạn (28) :
• Giai đoạn 1945-1976: Giai đoạn hình thành và phát triển của ODA
15
Nhật Bản bắt đầu thực hiện hợp tác kỹ thuật vào năm 1954 khi tham gia
vào Kế hoạch Colombo. Từ năm 1954 đến năm 1976, Chính phủ Nhật Bản tích

công bố một kế hoạch tăng gấp đôi vốn ODA của mình trong ba năm đầu của
mục tiêu trung hạn. Với những cam kết của mục tiêu đầu tiên, ODA của Nhật
Bản đã tăng đáng kể từ cuối những năm 1970 và trong suốt những năm
1980. Nhật Bản trở thành quốc gia tài trợ lớn thứ ba trong số các thành viên của
DAC vào năm 1983 và lớn thứ hai vào năm 1986.
Trong giai đoạn này, sự phân bố địa lý của ODA Nhật Bản đã trở nên đa
dạng, tạo cho cơ hội lớn hơn để một loạt các khu vực khác ngoài châu Á, bao
gồm cả Trung Đông, châu Phi, Mỹ Latinh, và Thái Bình Dương nhận nguồn viện
trợ ODA từ Nhật Bản. Trung Đông là khu vực có ưu tiên cao trong ODA của
Nhật Bản. Năm 1972, chỉ có 0,8% nguồn vốn ODA của Nhật Bản đã cung cấp
cho Trung Đông, tuy nhiên, con số này đã tăng lên 24,5% vào năm 1977.
• Giai đoạn 1992-2002: Giai đoạn có sự thay đổi trong chính sách và quan điểm
của Nhật Bản (hình thành Hiến chương ODA năm 1992)
Tháng sáu năm 1992, Hiến chương ODA đã chính thức được công bố.
Hiến chương bao gồm chính sách ODA của Nhật Bản, được trình bày một cách
toàn diện từ các quan điểm trung hạn tới dài hạn:
Quan điểm đầu tiên là ODA của Nhật Bản được xuất phát từ quan điểm
nhân đạo. Thứ hai, ODA Nhật Bản được dựa trên các mối quan hệ phụ thuộc lẫn
nhau giữa Nhật Bản và các nước đối tác. Thứ ba, viện trợ của Chính phủ Nhật
17
Bản tập trung vào bảo vệ môi trường trong phát triển kinh tế xã hội. Thứ tư, Nhật
Bản coi trọng hỗ trợ giúp đỡ các nỗ lực của các nước đang phát triển vươn lên
theo hướng tăng trưởng phát triển.
Hiến chương cũng thể hiện rằng châu Á sẽ tiếp tục là khu vực được ưu
tiên trong chính sách ODA Nhật Bản và các vấn đề toàn cầu luôn được chú
trọng, chẳng hạn như vấn đề môi trường sẽ được nhiều sự quan tâm hơn.
• Giai đoạn 2003 - nay: Những thay đổi đáp ứng thách thức của kỷ nguyên mới
(sự thay đổi của Hiến chương ODA).
Ngày 29 tháng 8 năm 2003, Nhật Bản đã được sửa đổi Điều lệ Trong Hiến
chương ODA lần đầu tiên trong 11 năm kể từ khi cho ra mắt bản Hiến chương

+ …
Nhật Bản trong Sách Trắng về ODA công bố năm 2009 đã tổng kết và đưa
ra rất nhiều các biện pháp cho từng nhóm vấn đề ưu tiên: xóa đói giảm nghèo,
phát triển bền vững, giải quyết các vấn đề toàn cầu (lương thực, môi trường,
thiên tai, tài nguyên và năng lượng) và vấn đề tái thiết hòa bình tại các khu vực
xung đột. Trong số các vấn đề trên, Nhật Bản cũng dành rất nhiều quan tâm cho
các vấn đề toàn cầu, trong số đó có chống biến đổi khí hậu. Nhìn chung, các lĩnh
19
vực mà nguồn vốn ODA tập trung hướng tới đều có ý nghĩa góp phần phát triển
và cải tạo cuộc sống cho nước nhận viện trợ, đặc biệt là các nước đang phát triển
và kém phát triển.
1.2.2.2 Chính sách ưu tiên theo vùng địa lý
Nhật Bản luôn luôn chú trọng và ưu tiên đầu tư hỗ trợ ODA cho các nước
Đông Á và các nước thành viên ASEAN do mối quan hệ truyền thống, lâu dài và
sự gần gũi về địa lý, chính trị, kinh tế.
Chính sách ODA của Nhật Bản cũng mở rộng tới các khu vực khác trên
thế giới như: Châu Phi, Trung Đông, Châu Mỹ La Tinh, Đông Âu, Châu Đại
Dương. Trong những năm gần đây thì nguồn vốn cho khu vực châu Á vẫn ở mức
cao nhưng cũng đã giảm về tỷ lệ phần trăm trong tổng số vốn. Chúng ta có thể
nhận ra điều này khi quan sát vào biểu đồ dưới đây.
Biểu đồ 1: Xu hướng phân bổ vốn ODA song phương của Nhật Bản theo
vùng địa lý qua các năm
Nguồn: Bộ Ngoại giao Nhật Bản
Nhật Bản là một nhà tài trợ lớn, số lượng các quốc gia và vùng lãnh thổ
tiếp nhận vốn ODA song phương của Nhật Bản lên tới con số 189. Năm tài khóa
20
2008, Nhật Bản đã cung cấp vốn ODA song phương cho hơn 140 quốc gia và
vùng lãnh thổ, con số này là 146 vào giai đoạn 2007-2008 và Nhật Bản không có
ý định giảm số lượng các quốc gia và vùng lãnh thổ được nhận hỗ trợ trong
tương lai. Trong đó, năm 2008 khu vực nhận được số vốn lớn nhất từ Nhật Bản

Bản để giúp đỡ các quốc gia khác.
Các vấn đề ưu tiên
Những vấn đề chính của ODA của Nhật Bản bao gồm giảm nghèo, tăng
trưởng bền vững, giải quyết các vấn đề toàn cầu, và hòa bình xây dựng, trong khi
tính đến khoảng cách ngày càng lớn giữa các cuộc xung đột giàu nghèo, chủng
tộc và tôn giáo, các cuộc xung đột quân sự, vi phạm nhân quyền, đàn áp dân chủ,
vấn đề môi trường và các bệnh truyền nhiễm.
Các khu vực ưu tiên
Nhật Bản đặt ưu tiên vào châu Á, khu vực này đóng một vai trò quan
trọng trong an ninh và thịnh vượng của ODA Nhật Bản. Hơn nữa, các lĩnh vực
và mục tiêu ưu tiên được hỗ trợ tích cực từ chiến lược của Nhật Bản đang là tình
hình thực trạng kinh tế xã hội ở châu Á. Những thay đổi trong nhu cầu về ODA
của Nhật Bản tại các nước đối tác ưu tiên này luôn được xem xét nghiêm túc.
Nguyên tắc thực hiện ODA
22
Các nguyên tắc thực hiện ODA của Nhật Bản trong Hiến chương ODA
mới về cơ bản theo những điều lệ cũ. ODA được thực hiện bằng cách xem xét
một cách toàn diện nhu cầu của nước tiếp nhận viện trợ, tình hình kinh tế xã hội
của quốc gia đó và quan hệ song phương với Nhật Bản. Các nước tiếp nhận
ODA được sàng lọc, lựa chọn từ quan điểm khác nhau. Chúng bao gồm duy trì
sự cân bằng giữa phát triển, bảo tồn môi trường và tránh sử dụng quân sự.
Xây dựng và thực hiện chính sách ODA
Quá trình xây dựng và thực hiện chính sách ODA được tập trung xem xét,
hoàn thiện thông qua các cuộc thảo luận và tiếp nhận kiến nghị trong quá trình
thực hiện cải cách chính sách ODA.
Với mục tiêu thống nhất và xây dựng các chính sách ODA, Chính phủ
Nhật Bản đã tăng cường tham vấn chính sách với các nước tiếp nhận, tăng cường
chức năng của các cơ quan đại diện (trong quá trình hoạch định chính sách và
thực hiện), phối hợp ở mức độ rộng lớn hơn với các thực thể liên quan đến viện
trợ phi chính phủ, tăng cường sự tham gia của người dân và những tổ chức

Nhật Bản 902 835,6 890 1.100 _
(**)
1.630 1.780
Tỷ lệ phần
trăm (%)
26,52% 22,30% 20,23% 20,27% _ 20,38% 22,53%
Nguồn: Tổng hợp từ Website Bộ Kế hoạch và Đầu tư
24
(*)
: Số vốn này không tính tới nhà tài trợ Nhật Bản vì lúc đó đang tạm ngưng cung cấp ODA
cho Việt Nam
Cùng với sự tăng vốn của các nhà tài trợ khác thì Nhật Bản cũng không
ngừng tăng cường nguồn vốn ODA cho Việt Nam. Nếu như nhìn vào tỷ lệ vốn
ODA Nhật Bản trong tổng số vốn ODA của Việt Nam ta sẽ nhận thấy có sự giảm
sút song nếu nhìn vào số lượng 51 nhà tài trợ của Việt Nam thì chúng ta sẽ thấy
rằng tỷ lệ đó là không nhỏ. Nhật Bản chỉ là một nhà tài trợ song phương nhưng
quy mô vốn luôn cao, gần bằng với số vốn của các nhà tài trợ đa phương lớn cho
Việt Nam: Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), Liên
minh Châu Âu (EU). Trong khi đó số lượng vốn ODA các nhà tài trợ song
phương khác chỉ chiếm một phần nhỏ, điều này cho thấy tỷ lệ và số vốn ODA
của Nhật Bản vào Việt Nam là không nhỏ.
Hiện nay, ngay cả khi Việt Nam đã thoát khỏi danh sách các quốc gia có
thu nhập thấp, các nhà tài trợ đa phương và song phương khác đều có ý định
giảm vốn ODA cho Việt Nam thì Nhật Bản vẫn tăng liên tục vốn ODA của mình
vào Việt Nam. Điều này có thể được lý giải là do: Việt Nam tuy đã là nước có
mức thu nhập trung bình thấp nhưng còn kém xa các nước khác trong cùng
nhóm, chính vì vậy mà Việt Nam vẫn cần nhận được hỗ trợ từ các nhà tài trợ.
Một phần khác có lẽ do chính mối hợp tác lâu dài và nền văn hóa gần gũi đã
khiến cho Nhật Bản chú trọng hơn tới Việt Nam. Nhận thấy được vai trò của
Nhật Bản rất to lớn, Việt Nam đã và đang nỗ lực để sử dụng tốt nguồn vốn này.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status