thu hút và sử dụng nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức (oda) của nhật bản tại việt nam – lý thuyết và thực tiễn - Pdf 24

MỤC LỤC
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT 1
1.1.2.1. Tính ưu đãi của ODA 4
1.1.2.2. ODA gắn liền với yếu tố chính trị 5
1.1.2.3. ODA gắn với điều kiện kinh tế 5
1.1.2.4. ODA gắn liền với các nhân tố xã hội 6
1.1.3. Phân loại ODA 6
1.1.3.1. Phân loại theo nguồn cung cấp vốn 6
1.1.3.2. Phân loại theo tính chất nguồn vốn 6
1.1.3.3. Phân loại theo điều kiện 7
1.1.3.4. Phân loại theo hình thức 7
1.1.4 Vai trò của ODA đối với sự phát triển kinh tế các nước 8
1.1.4.1. Vai trò của ODA đối với nước đi tài trợ 8
1.1.4.2. Vai trò của ODA đối với nước nhận ODA 9
1.2. HOẠT ĐỘNG VIỆN TRỢ PHÁT TRIỂN CỦA NHẬT BẢN 11
1.2.1. Các cơ quan quản lý và tổ chức thực hiện cung cấp ODA tại Nhật Bản 11
1.2.2.1. ODA song phương 12
1.2.2.2. ODA đa phương 14
1.2.3. Tình hình cung cấp ODA Nhật Bản trên thế giới 14
1.2.3.1. Giai đoạn 1992-1999 14
1.2.3.2. Giai đoạn 2000 đến nay 16
1.4.2 Các vấn đề khác liên quan 22
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM THU HÚT VÀ SỬ DỤNG ODA CỦA NHẬT BẢN TẠI
VIỆT NAM 55
3.2.1. Nhóm giải pháp về chính sách và thể chế 55
3.2.1.1. Hiểu đúng bản chất và xây dựng chiến lược thu hút và sử dụng ODA phù hợp với mục tiêu phát
triển kinh tế-xã hội 55
3.2.1.2. Công tác vận động tài trợ ODA phải theo đúng chiến lược thu hút và sử dụng ODA 56
3.2.1.3. Hoàn thiện các khuôn khổ điều phối ODA 56
3.2.1.4. Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá các dự án ODA 57
3.2.2. Nhóm giải pháp tăng cường năng lực thu hút và sử dụng ODA 58

Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế
Trung ương
Central institute for economic
management
7 CG Nhóm các nhà tài trợ Consultalive Group
8 DAC Ủy ban hỗ trợ phát triển
Development Assistance
Committee
9 EU
Liên minh châu Âu
European Union
10 EPA Hiệp hội bảo vệ môi trường của Mỹ
Environmental Protection
Agency,
11 FPT
Công ty cổ phần Phát triển Đầu tư
Công nghệ
The Corporation for Financing
and Promoting Technology
12 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài Foreign direct investment
13 FY Năm tài chính Fiscal year
14 GTGT Giá trị gia tăng
15 GMS
Khu vực Tiểu vùng sông Mekong mở
rộng
Greater Mekong Subregion
16 GNP Tổng sản phẩm quốc dân Gross national product
17 GDP Tổng sản phẩm quốc nội Gross Domestic Product
18 IMF Quỹ tiền tệ quốc tế International Monetary Fund
19 JBIC Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản

operation and Development
33 PTKT-XH Phát triển kinh tế-xã hội
34 PMU
Ban Quản lý các dự án Project Management Unit
35 QĐ-BKH Quyết định – Bộ Kế hoạch
36 SAPROF Kỹ thuật hình thành dự án
Special Assistance for Project
Formulation
37 TBCN Tư bản chủ nghĩa
38 TT-BTC Thông tư - Bộ Tài chính
39 Tp HCM Thành phố Hồ Chí Minh
40 TQ Trung Quốc
41 USD Đồng Đô la Mỹ United States Dollar
42 UNDP
Chương trình phát triển Liên hợp
quốc
United Nations Development
Programme
43 UNICEF Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc
United nations international
children’s emergency fund
44 UNHCR
Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị
nạn
United Nations High
Commissioner for Refugees
45 UBND Ủy ban nhân dân
46 WTO Tổ chức thương mại thế giới World Trade Organization
47 WB Ngân hàng thế giới World Bank
48 XHCN Xã hội chủ nghĩa

cấu

vốn

ODA

theo ngành và

lĩnh

vực

giai đoạn

2001



2010
40
11 2.7 Cơ cấu vốn ODA theo vùng, lãnh thổ giai đoạn 2001 -2010 42
12 3.1


cấu

vốn

ODA


càng trở nên năng động với những biến đổi không ngừng. Khu vực Châu Á-
Thái Bình Dương được đánh giá là một khu vực giàu tiềm năng và phát triển
nhanh nhất thế giới. Việt Nam là một quốc gia nằm trong khu vực này và đang
từng bước hội nhập kinh tế quốc tế đồng thời cũng chịu ảnh hưởng không tránh
khỏi của các quy luật phát triển.Trong những năm qua Việt Nam đã có những
bước tiến vững chắc trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cho
nên rất cần thu hút nhiều nguồn vốn, trong đó nguồn vốn viện trợ phát triển
chính thức (ODA) có vai trò đặc biệt quan trọng.
Nhật Bản từ một nền kinh tế kiệt quệ sau thất bại của cuộc chiến tranh thế
giới thứ hai đã bắt đầu xây dựng lại nền kinh tế nhờ các khoản viện trợ nước
ngoài. Cho đến nay Nhật Bản đã không chỉ vươn lên trở thành cường quốc kinh
tế thứ hai thế giới mà hiện còn đang dẫn đầu là nhà tài trợ lớn nhất thế giới
trong nhiều năm liên tục. Với các nước đang phát triển, nơi đang đối mặt với
nhiều khó khăn gay gắt thì sự giúp đỡ của các nước phát triển, trong đó có Nhật
Bản là hết sức cần thiết. Không thể phủ nhận rằng ODA của Nhật Bản đã góp
phần giải quyết những khó khăn, đặc biệt là vốn, trong quá trình chuyển đổi và
cải tổ nền kinh tế, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng như cải thiện cuộc
sống ở các nước nhận viện trợ trong đó có Việt Nam.
Từ những năm đầu tiên bắt đầu tiếp nhận vốn ODA của Nhật Bản cho đến
nay, Nhật Bản vẫn luôn là một trong những nhà tài trợ lớn nhất cho Việt Nam.
Nhờ nguồn vốn ODA Nhật Bản, cơ sở hạ tầng cho phát triển kinh tế - xã hội của
Việt Nam được cải thiện đáng kể. Đó là những nhà máy điện, những tuyến
đường huyết mạch, những công nghệ được chuyển giao… Quan hệ kinh tế Việt
Nam – Nhật Bản cũng qua đó càng trở nên tốt đẹp hơn.
Mặc dù hoạt động thu hút và sử dụng ODA của Nhật Bản tại Việt Nam đã
có những thành tựu ngày càng tốt đẹp nhưng vẫn còn bộc lộ những thiếu sót
khuyết điểm cần khắc phục. Đó là việc chậm chạp trong triển khai thực hiện,
vấn đề giải phóng mặt bằng, vấn đề tốc độ giải ngân chậm… Bên cạnh đó,
trong hoàn cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới hiện tại với những diễn biến mới
nhất từ thảm hoạ động đất sóng thần kinh hoàng tại Nhật Bản tháng 3 năm 2011,

CHƯƠNG 1: Lý luận chung về nguồn vốn viên trợ phát triển chính thức
(ODA) của Nhật Bản tại Việt Nam
CHƯƠNG 2: Thực trạng thu hút và sử dụng vốn viện trợ phát triển chính
thức ( ODA) của Nhật Bản tại Việt Nam từ năm 1992 đến nay
CHƯƠNG 3:Định hướng và một số giải pháp chủ yếu của Việt Nam nhằm
thu hút và sử dụng vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) từ Nhật Bản
2
Khi tham gia nghiên cứu đề tài này em xin chân thành cảm ơn các giáo
viên, các giảng viên của trường, khoa, các cán bộ cơ quan nơi em thực tập và
đặc biệt là thạc sỹ, nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thuý Hồng đã hướng dẫn và
giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu đề tài. Tuy nhiên, với thời gian không dài
cùng khả năng nghiên cứu còn nhiều hạn chế, đề tài nghiên cứu không tránh
khỏi các thiếu sót, em kính mong nhận được những sự góp ý và chỉnh sửa để đề
tài ngày một hoàn thiện hơn.

3
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN VỐN VIỆN TRỢ
PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA) CỦA NHẬT BẢN TẠI
VIỆT NAM
1.1 . TỔNG QUAN CHUNG VỀ ODA
1.1.1. Khái niệm ODA
ODA là tất cả các khoản viện trợ không hoàn lại và các khoản tài trợ có
hoàn lại (cho vay dài hạn với một thời gian ân hạn và lãi suất thấp) của Chính
phủ, các hệ thống của tổ chức Liên hợp quốc, các tổ chức phi Chính phủ, các tổ
chức tài chính quốc tế (WB, ADB, IMF ) dành cho Chính phủ và nhân dân
nước nhận viện trợ. Các cơ quan và tổ chức viện trợ phát triển nêu trên được
gọi chung là đối tác viện trợ nước ngoài.
DAC của OECD có thành viên là các nước tài trợ chính đã đưa ra định
nghĩa về ODA như sau: ODA là sự trợ giúp của Chính phủ hoặc các cơ quan
thuộc khu vực công cộng với mục đích là góp phần vào sự phát triển kinh tế

- Vay, lãi 0.75%
- Vay, lãi 0%

11
25
25
25
25
3
7
2.5
7
7
100
0
35
45
55
70
76
Nguồn: MPI
1.1.2.2. ODA gắn liền với yếu tố chính trị
ODA là một trong những phương tiện để thực hiện ý đồ chính trị của nước
cấp viện trợ đối với nước nhận viện trợ. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh ODA
được sử dụng để lôi kéo đồng minh do có sự đối đầu Đông-Tây, giữa hệ thống
TBCN và XHCN. Sau khi hệ thống XHCN ở Đông Âu và Liên Xô cũ sụp đổ,
các nước phương Tây dùng tiền giúp đỡ các nước này trong quá trình chuyển
đổi sang nền kinh tế thị trường.
ODA cũng chịu ảnh hưởng bởi các quan hệ giữa bên cấp viện trợ và
bên nhận viện trợ. Tính chất địa lý - chính trị trong cung cấp viện trợ được

các nước viện trợ còn quan tâm đến chất lượng viện trợ. Ở nhiều nước, dân
chúng yêu cầu Chính phủ cắt giảm viện trợ để tập trung giải quyết các vấn đề
khó khăn trong nước và đặc biệt quan tâm tới một số vấn đề trong việc cung cấp
viện trợ như: tiếp thu chậm dự án, hiệu quả dự án thấp, bên nhận không thực
hiện đúng cam kết, có dấu hiệu tham nhũng viện trợ của các quan chức Ngược
lại, ở các nước nhận viên trợ, các vấn đề đó là những ảnh hưởng xấu đến cuộc
sống, bản sắc và truyền thống văn hoá dân tộc.
1.1.3. Phân loại ODA
1.1.3.1. Phân loại theo nguồn cung cấp vốn
ODA song phương: Đây là viện trợ phát triển chính thức của Chính phủ
nước này dành cho Chính phủ nước khác. Nguồn cung cấp ODA song phương
chủ yếu trên thế giới hiện nay là Nhật Bản, Mỹ, Pháp, Đức, Anh
ODA đa phương: Đây là viện trợ phát triển chính thức của một tổ chức tài
chính quốc tế (IMF, WB ) hay khu vực (ADB, EU ) hoặc của một Chính phủ
nước này dành cho Chính phủ nước kia nhưng được thực hiện thông qua các tổ
chức đa phương như: UNDP, UNICEF
1.1.3.2. Phân loại theo tính chất nguồn vốn
ODA không hoàn lại: Đây là khoản viện trợ do bên nước ngoài cung cấp và
bên nước tiếp nhận không phải hoàn trả. Khoản viện trợ không hoàn lại được sử
dụng để thực hiện các chương trình dự án theo sự thỏa thuận giữa các bên.
ODA hoàn lại (tín dụng ưu đãi): Đây là các khoản cho vay với điều kiện ưu
đãi, còn gọi là các khoản vay mềm có yếu tố không hoàn lại tối thiểu là 25%.
Các khoản vay này thường có thời gian dài và lãi suất thấp đáng kể so với các
khoản vay thương mại thông thường.
6
ODA cho vay hỗn hợp: là các khoản ODA bao gồm kết hợp một phần ODA
không hoàn lại và một phần tín dụng ưu đãi theo các điều kiện của OECD.
1.1.3.3. Phân loại theo điều kiện
ODA không ràng buộc: Đây là khoản ODA mà việc sử dụng nguồn tài trợ
không bị ràng buộc bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng.

một bộ phận chủ yếu của hỗ trợ kỹ thuật dưới dạng thuê chuyên gia nước ngoài
để kiểm tra những hoạt động nhất định nào đó hoặc để soạn thảo, xác nhận các
báo cáo cho các đối tác viện trợ.
7
Thứ hai, hỗ trợ kỹ thuật: Viện trợ tri thức (chiếm tỷ trọng lớn nhất) bao
gồm viện trợ cho hoạt động chuyển giao công nghệ, đào tạo kỹ thuật hoặc phân
tích về mặt quản lý, kinh tế, thương mại, thống kê hoặc các vấn đề xã hội; hỗ trợ
tăng cường cơ sở; lập kế hoạch tư vấn cho các chương trình; nghiên cứu tiền đầu
tư; hỗ trợ các lớp đào tạo, tham quan, khảo sát ở nước ngoài như cấp học bổng
đào tạo dài hạn hoặc thiết bị nghiên cứu.
1.1.4 Vai trò của ODA đối với sự phát triển kinh tế các nước
1.1.4.1. Vai trò của ODA đối với nước đi tài trợ
Các nhà tài trợ nói chung khi cung cấp ODA đều nhằm lợi ích nhất
định (thường là các lợi ích về mặt kinh tế và mặt chính trị). ODA được các
nhà tài trợ sử dụng như một công cụ buộc các nước tiếp nhận thay đổi
chính sách kinh tế, xã hội và đối ngoại cho phù hợp với lợi ích bên tài trợ.
Xét về mặt lợi ích kinh tế thuần túy, bên ngoài có vẻ các nước tài trợ bị
thiệt vì họ là nước đi cho (đối với viện trợ không hoàn lại) hoặc cho vay ưu
đãi với lãi suất ưu đãi và trong thời gian dài. Tuy nhiên trên thực tế, hầu
hết các nhà tài trợ đều gắn lợi ích thương mại với các khoản viện trợ, buộc
các nước tiếp nhận tài trợ phải nhập thiết bị, hàng hóa, nguyên liệu từ nước
tài trợ hoặc nơi nước tài trợ yêu cầu. Khoảng một phần năm viện trợ song
phương của DAC buộc phải mua hàng hoá và dịch vụ từ nước tài trợ.
Thông thường, các lợi ích về kinh tế chỉ là gián tiếp và phải trải qua một
thời gian sau mới phát huy tác dụng. Với mục tiêu hỗ trợ phát triển kinh tế
và xã hội của các nước đang phát triển, các nước tài trợ đặc biệt ưu tiên
cung cấp ODA cho các dự án thuộc lĩnh vực đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng
mặc dù đầu tư vào lĩnh vực này xem như hoàn toàn không có lãi. Nhưng
Chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế vẫn đầu tư vào lĩnh vực này, thậm
chí nhiều nước mặc dù phải đi vay nhưng vẫn cung cấp tài trợ cho nước

đối với các nước láng giềng. Chính phủ Nhật thấy rõ bồi thường chiến
tranh và viện trợ sẽ đóng góp rất nhiều cho sự phát triển kinh tế của đất
nước như giúp thiết lập lại những mối quan hệ thân thiện, giúp các doanh
nghiệp Nhật Bản thâm nhập vào thị trường của các nước đó Sau này,
ODA của Nhật Bản tập trung vào các lĩnh vực như hạ tầng cơ sở, đào tạo
nguồn nhân lực, đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người, quan tâm
bảo vệ môi trường ODA Nhật Bản đã, đang và sẽ tạo nên một môi trường
đầu tư thuận lợi cho các nhà đầu tư Nhật Bản, tạo nên các mối quan hệ phụ
thuộc lẫn nhau chặt chẽ hơn giữa Nhật Bản và các nước nhận viện trợ mà
các nước nhận viện trợ này bao giờ cũng ở vị thế yếu hơn. Tóm lại, ODA đã
góp phần mở rộng quan hệ hiểu biết giữa các nước với Nhật Bản và tăng
cường vai trò của Nhật Bản ở khu vực và trên thế giới cả về chính trị và
kinh tế.
1.1.4.2. Vai trò của ODA đối với nước nhận ODA
Thứ nhât, ODA bổ sung cho nguồn vốn trong nước: Lịch sử phát triển
của các nước trên thế giới đã chứng minh rằng vốn đầu tư và hiệu quả vốn
đầu tư là một trong những yếu tố quan trọng tác động đến sự phát triển nói
chung và tăng trưởng kinh tế nói riêng của mỗi quốc gia. Đặc biệt với
những nước nghèo, trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển, do mức
thu nhập thấp nên khả năng tích lũy rất khiêm tốn trong khi lại cần khoản
vốn lớn để đầu tư nhằm mục tiêu hình thành và phát triển cơ sở hạ tầng,
xây dựng các công trình nền tảng lâu dài cho phát triển kinh tế. Mặt khác,
do nền công nghiệp của các nước nghèo chưa phát triển, hàng hóa xuất
khẩu đa phần là sản phẩm sơ cấp (nông sản, hàng thủ công và nguyên liệu
thô) có giá trị thấp. Ngược lại, về phía nhập khẩu, nhu cầu phát triển đòi
hỏi phải nhập hàng cao cấp gồm máy móc, thiết bị, chất hóa học, phân
bón là những hàng có giá trị cao. Vì thế, cán cân thương mại luôn trong
tình trạng thâm hụt nặng nề. Đối với nguồn vốn FDI, do các chủ đầu tư
muốn bỏ vốn ra với mục đích thu lợi nhuận và thu hồi vốn nhanh nên
nguồn vốn này thường được đầu tư vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh.

thiện sẽ tăng sức hút với dòng vốn đầu tư bên ngoài, thúc đẩy đầu tư trong
nước. Mặt khác, việc sử dụng nguồn vốn ODA đầu tư trong nước cũng tạo
điều kiện cho các nhà đầu tư trong nước tập trung đầu tư cho các công
trình sản xuất kinh doanh có khả năng mang lại lợi nhuận.
 Tuy nhiên, đối với những nước tiếp nhận ODA cũng gặp phải những
thách thức:
Thứ nhất, do ODA có một phần là vốn vay với lãi suất thấp và thời hạn vay
dài tuy nhiên ta phải thừa nhận thực tế vay thì phải đi kèm với nghĩa vụ trả nợ
do thời hạn vay dài cho nên sẽ dẫn tới gánh nặng nợ cho tương lai. Đây là 1 sự
rủi ro tiềm ẩn đối với khả năng thanh toán của một quốc gia và Việt Nam chúng
ta cũng nằm trong tình trạng này.
Thứ hai, khi tiếp nhân ODA cũng đồng nghĩa với việc các nước này sẽ
phải chấp nhận những điều kiện của các nước cho ODA. Đó là những điều kiện
về mở rộng hàng rào thuế quan, sự phụ thuộc về thương mại quốc tế. Nguồn vốn
viện trợ ODA còn được gắn với các điều khoản mậu dịch đặc biệt nhập khẩu tối
10
đa các sản phẩm của họ. Cụ thể là nước cấp ODA buộc nước tiếp nhận ODA
phải chấp nhận một khoản ODA là hàng hoá, dịch vụ do họ sản xuất. Nước tiếp
nhận ODA tuy có toàn quyền quản lý sử dụng ODA nhưng thông thường, các
danh mục dự án ODA cũng phải có sự thoả thuận, đồng ý của nước viện trợ, dù
không trực tiếp điều hành dự án nhưng họ có thể tham gia gián tiếp dưới hình
thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia
1.2. HOẠT ĐỘNG VIỆN TRỢ PHÁT TRIỂN CỦA NHẬT BẢN
1.2.1. Các cơ quan quản lý và tổ chức thực hiện cung cấp ODA tại Nhật Bản
Trong công tác tổ chức thực hiện cung cấp ODA hiện nay của Nhật
Bản, việc xây dựng chính sách hợp tác phát triển được giao cho 4 bộ: Bộ
Ngoại giao, Bộ Tài chính, Bộ Ngoại thương và Công nghiệp, và Bộ Kế
hoạch kinh tế. Bốn bộ này tiếp nhận khoảng 95% tổng ngân sách ODA và
5% còn lại được giao cho 14 bộ và cơ quan khác tuỳ theo các lĩnh vực của
từng dự án, mà các Bộ này hoạt động mang tính chất cố vấn trong việc xây

Keidanren, thông qua JAIDO, cung cấp vốn trực tiếp cho các dự án ở các
nước đang phát triển.
1.2.2. Các loại hình ODA Nhật Bản
Hoạt động cung cấp ODA của Chính phủ được thực hiện dưới hai hình
thức song phương và đa phương.

Sơ đồ 1.1: Các loại hình ODA Nhật Bản
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
1.2.2.1. ODA song phương
ODA song phương bao gồm các hoạt động hỗ trợ trực tiếp từ Chính phủ
Nhật Bản cho Chính phủ nước tiếp nhận. ODA song phương được chia làm 2
loại: ODA không hoàn lại và tín dụng ODA.
• ODA không hoàn lại: Hầu hết các hoạt động ODA không hoàn lại
được Chính phủ Nhật Bản thực hiện thông qua JICA, gồm viện trợ chung
và hợp tác kỹ thuật.
12
ODA Nhật Bản
ODA song phương ODA đa phương
Viên trợ song
phương
Cho vay song
phương
Đóng góp cho các
tổ chức quốc tế
Viện trợ không
hoàn lại
Tín dụng dự án
Tín dụng điều
chỉnh cơ cấu
Hỗ trợ kỹ thuật

tuổi sang các nước đang phát triển trong thời gian hai năm góp phần vào
công cuộc xây dựng đất nước và đào tạo nhân lực nước tiếp nhận. Chương
trình này cũng góp phần tăng sự hiểu biết lẫn nhau, thiết lập quan hệ hữu
nghị giữa nhân dân hai nước.
Thứ năm, hợp tác kỹ thuật kiểu dự án: Đây là sự phối hợp 3 hình
thức hợp tác kỹ thuật trọn gói, gồm đào tạo kỹ thuật tại Nhật Bản, cử
chuyên gia và cung cấp máy móc thiết bị. Các dự án dạng này thường được
thực hiện trong khoảng 3-5 năm, qua đó các kiến thức chuyên môn của
Nhật Bản được áp dụng và chuyển giao cho các nước đối tác và có thể được
phổ biến rộng rãi sau khi dự án kết thúc.
Thứ sáu, nghiên cứu phát triển: Đây là hình thức Chính phủ Nhật
Bản cử các đoàn khảo sát nghiên cứu phối hợp làm việc với các cơ quan liên
quan nước tiếp nhận chuẩn bị các Quy hoạch tổng thể, Báo cáo khả thi,
Thiết kế chi tiết, nhằm hỗ trợ việc hoạch định các dự án phát triển cấp bách
và ưu tiên cao.
• Tín dụng ODA: Đây là khoản tín dụng trực tiếp của Chính phủ Nhật
Bản dành cho nước tiếp nhận để thực hiện các dự án phát triển kinh tế xã
hội, phù hợp với các tiêu chuẩn của DAC và OECD. Việc cung cấp tín dụng
ODA Nhật Bản ngày nay được thực hiện thông qua JBIC. Tín dụng ODA
13
Nhật Bản có thể được chia làm 2 nhóm chính: Tín dụng dự án và Tín dụng
phi dự án
Tín dụng dự án, bao gồm:
Thứ nhất, tín dụng dự án thông thường: Đây là dạng tín dụng ODA
cơ bản, được cung cấp với mục đích mua sắm thiết bị, máy móc; xây dựng
các công trình dân sự; dịch vụ tư vấn và các nhu cầu khác đối với dự án.
Ngoài ra còn có hình thức đồng tài trợ: được cấp trong trường hợp nhu cầu
vốn đâu tư cho một dự án lớn vượt quá khả năng của JBIC thì có thể dùng
hình thức đồng tài trợ cùng với các nhà tài trợ khác.
Thứ hai, tín dụng thiết kế dự án: Đây là khoản tín dụng được cung

của Nhật Bản gia tăng một cách đều đặn và đạt đỉnh cao vào năm1995 với
1385 tỷ Yên (tương đương 14,49 tỷ USD). Nếu tính theo đồng Yên thì năm
1991 là cao nhất với 1484,4 tỷ Yên. Năm 1994 với lượng cung cấp ODA là
1265,7 tỷ Yên (13,24 tỷ USD), Nhật Bản tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu trong số
các nhà tài trợ trong 4 năm liền, chiếm 22,9% tổng viện trợ của các nước
DAC, tuy nhiên, tỷ lệ ODA so với GNP chỉ là 0,29% đứng vị trí 14 trong số
21 nước DAC. Trong số 158 nước và vùng lãnh thổ Nhật Bản cung cấp
nhận viện trợ, Nhật Bản đứng vị trí dẫn đầu ở 34 nước và đứng ở vị trí thứ
hai tại 29 nước. Điều này cho thấy ODA của Nhật Bản có vị trí đáng kể
trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của hầu hết các nước đang phát
triển và cũng là công cụ thiết lập quan hệ thân thiện giữa Nhật Bản với các
nước nhận viện trợ.
Cũng giống như các nhà tài trợ khác, tình hình suy thoái kinh tế kéo
dài ảnh hưởng lớn đến chính sách viện trợ của Nhật Bản. Một loạt các biện
pháp kích thích kinh tế trên cơ sở những chi tiêu tài chính mà hệ quả là
đồng Yên mất giá, tỷ lệ thâm hụt ngân sách so với GDP danh nghĩa vượt
qua con số 6% và các khoản nợ trong và ngoài nước so với GDP đạt tới
90%, cao nhất trong các nước công nghiệp phát triển. Vì vậy, từ năm 1995,
Nhật Bản phải cắt giảm khối lượng viện trợ, trong ngân sách quốc gia năm
1998, ODA bị cắt giảm 10,4 % khoảng 5 tỷ Yên (40 triệu USD). Khu vực bị
ảnh hưởng nhiều nhất là chương trình cho vay bằng đồng Yên, giảm
13,8%. Viện trợ không hoàn lại và hợp tác kỹ thuật ít bị tác động, giảm lần
lượt 9,4% và 2,7%. Viện trợ đa phương bị cắt bớt 8,3%, phần lớn là do việc
giảm tới 19,2% các khoản đóng góp cho các thiết chế tài chính đa phương
(WB, ADB ), viện trợ qua các tổ chức Liên hợp quốc chỉ giảm 3,6%. Tuy
vậy, Nhật Bản vẫn là nhà tài trợ có khối lượng viện trợ lớn nhất trên thế
15
giới. Nhật Bản luôn dẫn đầu bảng xếp hạng này trong 10 năm liền (1990-
1999)
1.2.3.2. Giai đoạn 2000 đến nay

Nguyên nhân khiến Nhật Bản tụt bậc là ngân sách thông thường dành cho
ODA bị cắt giảm, trong đó chương trình cắt giảm phần lớn các khoản nợ của
17
Iraq (phần được tính vào vốn ODA của Nhật Bản cho Iraq) đã kết thúc sau hai
năm thực hiện.
Dự tính, trong tài khóa hết hạn vào tháng 3/2012, Chính phủ Nhật Bản dành
ra 572,7 tỷ yên (6,7 tỷ USD) cho viện trợ phát triển chính thức (ODA). Tuy
nhiên nguồn vốn viện trợ ODA đang còn có xu hướng bị cắt giảm hơn nữa do
chính phủ Nhật Bản sử dụng để chi cho việc tái thiết đất nước.
 Xét về cơ cấu ODA Nhật Bản theo loại hình viện trợ
Bảng 1.2: Cơ cấu ODA Nhật Bản theo loại hình viện trợ
(2009 – 2010)
Đơn vị: Tỷ Yên, %
Loại hình 2009 2010 Tăng thêm (%)
I. Viện trợ 544,9 514,3 -5,6
1. Viện trợ song phương 460,7 425,4 -7,7
1, Hỗ trợ phát triển kinh tế 160,8 154,2 -4,2
2, Hợp tác kỹ thuật
290,4 269,7 -7,2
3, Chuyển nhượng thương mại 2,4 1,6 -33,3
4, Ngân sách cho JICA 7 0 -100
2. Đóng góp và tài trợ cho các tổ
chức đa phương
84,2 88,9 +5,6
1, Các tổ chức quốc tế 58,5 61,1 +4,5
2, MDBs 25,7 27,9 +8,3
II. Khoản vay 127,3 104,4 -18,0
JBIC 127,3 104,4 -18,0
III. Tổng 672,2 618,7 -7,9
Nguồn: Japan’s ODA Annual Report 2010

Phúc lợi xã hội 1,7% 1,3%
Khác 25,8% 26,3%
Nguồn: Japan’s Annual Report 2010
Nguồn vốn dành cho hỗ trợ kỹ thuật từ ODA Nhật Bản được tập trung
nhiều cho việc lập kế hoạch và quản lý, xây dựng các công trình công cộng,
nông lâm ngư nghiệp, phát triển nguồn nhân lực và vấn đề y tế, sức khỏe.
Các lĩnh vực này chiếm tới hơn 90%, còn lại dành cho công nghiệp khai
thác mỏ, năng lượng, phúc lợi xã hội và các lĩnh vực khác.
Bảng 1.4: Cơ cấu nguồn viện trợ không hoàn lại Nhật Bản theo lĩnh
vực (2009 – 2010)
Đơn vị: Tỷ Yên, %
Ngành, lĩnh vực FY 2009 FY 2010
Sức khỏe và y tế 13,6% 11,9%
Giáo dục đào tạo 19,1% 16,4%
Môi trường và điều kiện sống 26,3% 20,9%
19
Nông lâm ngư nghiệp 16,5% 17,5%
Giao thông và truyền thông 21,5% 25,7%
Nguồn: Japan’s ODA annual report 2010
Nguồn viện trợ không hoàn lại của Nhật Bản được tập trung chủ yếu
vào các vấn đề cải thiện môi trường và điều kiện sống (trung bình gần
24%), giao thông và truyền thông (trung bình hơn 23%), giáo dục đào tạo
(trung bình gần 18%), nông lâm ngư nghiệp (trung bình 17%) và sức khỏe
y tế (trung bình gần 13%).
1.3. SỰ CẦN THIẾT PHẢI THU HÚT ODA CỦA NHẬT BẢN VÀO VIỆT
NAM
Kể từ năm 1986 là thời điểm bắt đầu công cuộc đổi mới ở Việt Nam, cho
đến nay đất nước đã thu được những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế và ổn
định xã hội. Hiện nay Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước. Để có những bước phát triển lớn hơn thì vốn và công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status