Thu hút và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của australia cho việt nam - Pdf 10

1

Thu hút và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển
chính thức (ODA) của Australia cho Việt Nam
A Study on the Attraction and Use of Australia’s ODA to Vietnam
NXB H. : ĐHKT, 2012 Số trang 111 tr. + Lê Bá Khởi Trường Đại học Quốc gia Hà Nội; Trường Đại học Kinh tế
Luận văn ThS ngành: KTTG & QHKTQT; Mã số: 60 31 07
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Kim Chi
Năm bảo vệ: 2012

Abstract. Nghiên cứu những vấn đề lý luận về nguồn vốn ODA nói chung và thực tiễn
nguồn vốn ODA của Australia nói riêng. Phân tích thực trạng thu hút và sử dụng nguồn vốn
ODA của Australia tại Việt Nam cùng những đánh giá về kết quả, hạn chế, nguyên nhân của
nguồn vốn này tại Việt Nam giai đoạn 1993 – 2010. Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng
cường khả năng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA của Australia tại Việt Nam trong thời
gian tới.

Keywords: Hỗ trợ phát triển chính thức; Viện trợ ODA; Autralia; Việt Nam

Content.
LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng tự hào trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa của mình: tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt trên 6%, các mặt của đời sống

triển chính thức (ODA) của các đối tác khác nhau, tập trung theo hai hướng chính như sau:
Hướng thứ nhất tập trung vào lĩnh vực thu hút và sử dụng ODA nói chung với một số nghiên
cứu nổi bật như: Trần Đình Tuấn và Đặng Văn Nhiên (1993), Những điều cần biết về hỗ trợ phát
triển chính thức (ODA), NXB Xây dựng, Hà Nội; Vũ Thị Kim Oanh (2002), Những giải pháp chủ
yếu nhằm sử dụng có hiệu quả ODA tại Việt Nam; Hà Thị Ngọc Oanh (2004), Hỗ trợ phát triển
chính thức (ODA) – Những hiểu biết căn bản và thực tiễn ở Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội; Tạp
chí kinh tế và dự báo (2006), Định hướng thu hút và sử dụng nguồn ODA trong thời kỳ 2006 – 2010;
Lê Quốc Hội (2007), Định hướng sử dụng ODA, Diễn đàn Phát triển Việt Nam (VDF); Vũ Ngọc
Uyên (2007), Tác động của ODA đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam; Cơ quan ngoại giao Việt
Nam ở nước ngoài (2008), Việt Nam sử dụng minh bạch và hiệu quả vốn ODA; Nguyễn Thị Huyền
(2008), Khai thác và sử dụng nguồn vốn ODA trong sự nghiệp CNH-HĐH ở Việt Nam;…
Hướng thứ hai tập trung nghiên cứu về ODA trong các ngành, lĩnh vực hoặc ODA của một số
nước cụ thể nào đó với một số công trình nổi bật như: (2001), Vietnam – 10 years of Australia Aid;
Bùi Nguyên Khánh (2002), Thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA trong xây dựng kết cấu hạ tầng của
ngành GTVT ở Việt; Phùng Tuệ Phương (2002), Tài trợ phát triển chính thức (ODA) của Nhật Bản
3

cho Việt Nam; Phạm Thị Túy (2006), Một số kinh nghiệm thu hút và sử dụng vốn ODA cho phát
triển kết cấu hạ tầng, Tạp chí Kinh tế và dự báo; Phạm Thị Túy (2006), Phát triển cơ sở hạ tầng ở
Việt Nam - Vai trò không thể phủ nhận của ODA, Tạp chí Kinh tế và dự báo; Phạm Thị Túy (2008),
Thu hút và sử dụng ODA vào phát triển kết cấu hạ tầng ở Việt Nam; Bộ Tài chính (2008), Báo cáo
đánh giá các chương trình dự án ODA của Bộ Tài chính giai đoạn 2000 – 2007; Nguyễn Hữu Dũng
(2008), Thu hút và sử dụng ODA của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam;…
Các công trình nghiên cứu trên đã đưa ra một kiến thức nền tảng phong phú về ODA nói
chung và ODA của một số nước nói riêng. Tuy nhiên các bài viết tập trung nghiên cứu về ODA của
Australia cho Việt Nam chưa nhiều và chưa hệ thống hóa được toàn bộ các hoạt động thu hút và sử
dụng vốn ODA của Australia đối với sự phát triển KT-XH của Việt Nam trong giai đoạn dài từ 1993
- 2010. Vì vậy, có thể khẳng định đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống, tương đối đầy
đủ và cập nhật về thực trạng giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường khả năng thu hút và sử dụng nguồn
vốn ODA của Australia đối với sự phát triển KT-XH Việt Nam.

Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp: duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp so
sánh, thống kê, phân tích tổng hợp… dựa trên cơ sở các quan điểm, chính sách kinh tế đối ngoại và chính
sách sử dụng nguồn vốn ODA của Đảng và Nhà nước để giải quyết các nội dung nghiên cứu.
Nguồn tư liệu được sử dụng trong bài nghiên cứu chủ yếu được lấy từ các báo cáo số liệu của
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Đại sứ quán Australia, các Tạp chí thương mại, Niên giám thống kê, Báo
kinh tế Việt Nam và thông tin từ mạng Internet…
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về nguồn vốn ODA nói chung và nguồn vốn
ODA của Australia nói riêng.
- Làm rõ những đặc điểm và vai trò của nguồn vốn ODA của Australia cho Việt Nam thời
gian qua.
- Đánh giá thực trạng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA của Australia tại Việt Nam giai
đoạn 1993 - 2010, và chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong việc thu hút và sử dụng nguồn vốn này.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường khả năng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA
của Australia tại Việt Nam trong thời gian tới.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của Australia cho Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA của Australia cho Việt Nam giai
đoạn 1993 - 2010.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường khả năng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA
của Australia ở Việt Nam trong thời gian tới.

CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA)
CỦA AUSTRALIA CHO VIỆT NAM
1.1. Tổng quan về ODA
1.1.1. Nguồn gốc lịch sử của ODA
5

ODA ra đời từ sau Chiến tranh Thế giới thứ II cùng với kế hoạch Marshall của Mỹ nhằm hỗ

chi tiêu. Ngoài ra mỗi nước cung cấp viện trợ cũng đều có những ràng buộc khác và nhiều khi các ràng
buộc này rất chặt chẽ đối với nước nhận, nổi bật là ODA gắn liền với yếu tố chính trị và ODA gắn với điều
kiện kinh tế. Chính vì vậy mà khi nhận viện trợ các nước cần cân nhắc kỹ lưỡng các điều kiện của các nhà
tài trợ, không vì lợi ích trước mắt mà đánh mất những quyền lợi lâu dài.
1.1.4.3. ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ
Khi tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA do tính chất ưu đãi nên gánh nặng nợ thường
chưa xuất hiện nhưng nếu không sử dụng hiệu quả ODA có thể tạo nên sự tăng trưởng nhất thời
6

nhưng sau một thời gian lại lâm vào vòng nợ nần do không có khả năng trả nợ. Do đó, trong
khi hoạch định chính sách sử dụng ODA cần phải phối hợp với các nguồn vốn khác để
tăng cường sức mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu.
1.1.5. Các nguồn cung cấp ODA trên thế giới
ODA trên thế giới được cung cấp chủ yếu theo hai dạng song phương và đa phương.
1.1.5.1. Các đối tác cung cấp ODA song phương
Các đối tác cung cấp ODA song phương chủ yếu bao gồm các nước công nghiệp phát triển
thuộc DAC, các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) và trước năm 1991, ODA song phương còn được
cung cấp bởi Liên Xô và một số nước Đông Âu khác.

1.1.5.2. Các đối tác cung cấp ODA đa phương
Bên cạnh việc cung cấp ODA song phương, ODA còn được chuyển giao thông qua các tổ
chức viện trợ đa phương bao gồm: Các tổ chức quốc tế và liên chính phủ: gồm Ủy ban châu Âu (EC)
và các tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc; Các định chế tài chính và các quỹ gồm: Quỹ Tiền tệ Quốc tế
(IMF),Tập đoàn Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB),…; Các tổ chức phi
chính phủ (NGOs như Greenpeace, Amnesty International, Human Rights Watch, Oxfam, Tổ chức
chữ thập đỏ và lưỡi liềm đỏ quốc tế, World Vision,…
1.1.6. Xu hướng và triển vọng của nguồn vốn ODA
Bên cạnh những đặc điểm chung đã nêu trong phần một số đặc điểm của nguồn vốn ODA thì
ODA còn có những xu hướng như sau:
Thứ nhất, tỉ trọng ODA song phương có xu thế tăng lên, ODA đa phương có xu thế giảm đi.

Australia và Việt Nam tuy là hai đất nước thuộc hai châu lục với hai hệ thống chính trị khác
nhau nhưng lại có mối quan hệ thân thiết, gắn bó. Tình hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Australia
không ngừng được củng cố và phát triển qua chặng đường gần 39 năm kể từ khi hai nước thiết lập
quan hệ ngoại giao (26/12/1973), đặc biệt là 20 năm gần đây đã chứng kiến sự khởi sắc trong quan
hệ hai nước với những chuyến viếng thăm của lãnh đạo cấp cao hai nước. Trong các chuyến thăm
này, nhiều hiệp định về kinh tế, thương mại được ký kết; đầu tư của Australia vào Việt Nam và kim
ngạch thương mại song phương không ngừng gia tăng. Hai nước đã ủng hộ và chia sẻ quan điểm trên
một số diễn đàn quốc tế và ủng hộ lẫn nhau trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới.
Về thương mại, Việt Nam là bạn hàng thứ 15 của Australia, Australia là bạn hàng thứ 13 của
Việt Nam. Kim ngạch thương mại giữa hai nước luôn tăng đều và khá cao. Các mặt hàng xuất khẩu
chủ yếu của Việt Nam sang Australia là những mặt hàng có chứa hàm lượng nguyên liệu và lao động
cao trong khi các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam: sữa và các sản phẩm từ sữa, ngũ cốc và
một số sản phẩm khác.
Về đầu tư, Australia đứng thứ 20/92 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam và tập
trung chủ yếu vào các lĩnh vực bưu chính viễn thông, công nghiệp nặng, công nghiệp thực phẩm,
giáo dục, tài chính, y tế…
Chính phủ Australia luôn coi trọng quan hệ và mong muốn thúc đẩy hợp tác nhiều mặt với
Việt Nam, thể hiện rõ và sinh động qua viện trợ phát triển chính thức dành cho Việt Nam. Các dự án
sử dụng nguồn vốn ODA được triển khai rất có hiệu quả; giải ngân vốn luôn đạt 100%.
8

Về lĩnh vực hợp tác thì phát triển nông nghiệp, nông thôn và quản lý nhà nước, giáo dục và đào tạo
vẫn là những lĩnh vực trọng tâm trong chương trình hợp tác phát triển Việt Nam - Australia.
Quan hệ hợp tác giữa hai nước đang được mở rộng sang cả an ninh, quốc phòng. Hai bên đã tiến
hành hàng năm Đối thoại chính thức về an ninh khu vực; Trao đổi tùy viên quân sự và hợp tác chống tội
phạm, ma túy. Hợp tác hai nước trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, thanh niên, du lịch, thể thao cũng
ngày càng được mở rộng, góp phần tăng cường hiểu biết và hữu nghị giữa nhân dân hai nước.
1.2.4. Đặc điểm nguồn vốn ODA của Australia cho Việt Nam
Mục tiêu chung của Chương trình hỗ trợ phát triển Việt Nam trong khuôn khổ ODA của
Australia vào Việt Nam là xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế và xã hội bền vững.

Trong lịch sử viện trợ giữa Australia và Việt Nam, các chương trình và dự án của Australia
có tốc độ giải ngân khá cao và thường trên 70%. Đây là một thành tích đáng kể trong khi xu hướng
giải ngân chung còn ở mức thấp như hiện nay.
2.2. Thực trạng thu hút và sử dụng ODA của Australia cho Việt Nam giai đoạn 1993 – 2010
Việt Nam luôn nằm trong những nước đứng đầu danh sách nhận viện trợ của Australia, tập
trung vào một số lĩnh vực chủ yếu như: Phát triển nguồn nhân lực, phát triển cơ sở hạ tầng, cải cách
kinh tế, cấp nước và vệ sinh môi trường, chống biến đổi khí hậu và một số lĩnh vực khác như y tế,
bình đẳng giới…
2.2.1. Trong lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng
Australia là nhà tài trợ quan trọng đối với việc phát triển cơ sở hạ tầng giao thông ở khu vực
đồng bằng sông Cửu Long, trong đó nổi bật nhất là công trình xây dựng cầu Mỹ Thuận. Bên cạnh đó,
các dự án có quy mô nhỏ hơn cũng góp phần không nhỏ vào việc cải thiện đời sống nhân dân như xây
dựng đường sá cầu cống, các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng có quy mô nhỏ khác giúp nhân dân có thể đến
các khu buôn bán, đến trường học, bệnh viện và có thể tiếp cận với các dịch vụ cơ bản khác.
Ngoài ra, chính phủ Australia cùng với Ngân hàng Phát triển châu Á và Ngân hàng Thế giới
đồng tài trợ nhiều dự án nhằm cải thiện điều kiện cơ sở hạ tầng đặc biệt là ở đồng bằng sông Cửu
Long. Các dự án này đã góp phần không nhỏ trong việc tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện và
cải thiện cơ sở hạ tầng giao thông ở khu vực này.
2.2.2. Trong lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực
Kể từ năm 1991, Australia đã trở thành một trong những nhà tài trợ lớn nhất cho Việt Nam
trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, và là nước có số lượng sinh viên Việt Nam theo học lớn nhất.
Hàng năm, các học bổng dưới sự quản lý của tập trung vào sự hỗ trợ phát triển của Australia tại Việt
Nam đều được trao cho các ứng viên phù hợp nhằm trang bị kiến thức và kỹ năng cần thiết nhằm tạo
ra sự thay đổi và tạo ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển kinh tế xã hội. Hầu hết các sinh viên sau
khi hoàn thành chương trình học đều trở về Việt Nam và đảm nhận các trọng trách cao trong các cơ
quan nhà nước hoặc các doanh nghiệp tư nhân.
Một số chương trình học bổng của Australia cung cấp cho Việt Nam là Chương trình học
bổng cho sinh viên ASTAS (Australian Student Tuition Assurance Scheme), Chương trình đại học
ADCOS, giáo dục đại học và sau đại học từ năm 1992, Chương trình Học bổng Phát triển Australia
(ADS, Học bổng về Năng lực lãnh đạo và Học bổng Endeavour,… Có thể nói rằng ngành giáo dục

Australia quan niệm tính hiệu quả của bộ máy quản lý là điều kiện sống còn đối với sự phát triển
bền vững của đất nước. Vì vậy mà phương châm của chương trình hỗ trợ ODA của Australia cho Việt
Nam trong lĩnh vực này là giúp Việt Nam đạt được một chế độ quản lý minh bạch và công bằng.
Viện trợ của Australia cho hoạt động quản lý bao gồm việc tài trợ cho các chương trình đào
tạo, bồi dưỡng kiến thức về nhân quyền và lập chính sách cho khu vực công cộng ở Học viện chính
trị Quốc gia Hồ Chí Minh tại Hà Nội, ủng hộ việc cải cách luật pháp trong ngành xây dựng và hầm
mỏ, đào tạo luật pháp quốc tế.
11

Chính phủ Australia cũng hỗ trợ nhiều chương trình quản lý quốc gia khác nhằm tăng cường
khu vực tư nhân và khu vực công ở Việt Nam. Các chương trình trong lĩnh vực này bao gồm: Dự án
quốc gia về Luật xây dựng, Các khóa học về tiếng Anh pháp lý và Luật thương mại nhằm giúp Việt
Nam tăng cường khả năng hội nhập và trở thành một thành viên của Cộng đồng kinh tế quốc tế và
Các chương trình viện trợ nhỏ về quyền con người,…
2.2.6. Trong lĩnh vực môi trường và chống biến đổi khí hậu
Việt Nam là một trong những nước chịu nhiều thiên tai và biến đổi khí hậu trên thế giới với
khoảng 70% dân số có nguy cơ của các trận bão và lũ lụt. Cũng như khủng hoảng kinh tế, những hiểm
họa này có thể đẩy người dân mới thoát nghèo trong những năm gần đây trở lại với cảnh nghèo đói.
Trong nhiều năm qua, sự hỗ trợ của Australia trong lĩnh vực chống biến đổi khí hậu đã giúp
Việt Nam tăng cường khả năng thích ứng và đối phó với thiên tai, đồng thời giải quyết các hậu quả
của thiên tai và biến đổi khí hậu gây ra, chủ yếu là ở đồng bằng sông Cửu Long nơi bị ảnh hưởng
nhiều nhất bởi sự dâng lên của mực nước biển và biến đổi khí hậu.
Một trong những dự án điển hình trong lĩnh vực này là Dự án kiểm soát lũ tại Bắc Vàm Nao
và dự án bảo tồn và phát triển các vùng sinh quyển trọng tâm của tỉnh Kiên Giang do Australia hợp
tác với Cơ quan viện trợ Đức (GIZ) thực hiện, đồng thời, cùng với các chương trình viện trợ nhân
đạo, và hợp tác với các tổ chức khác nhằm giúp Việt Nam phòng chống biến đổi khí hậu.
2.2.7. Trong một số lĩnh vực khác
2.2.7.1. Trong lĩnh vực y tế
Sức khỏe của người dân là điều kiện tiên quyết đối với sự nghiệp phát triển kinh tế và xã hội
và là một điều cần phải quan tâm ở Việt Nam hiện nay. Chương trình trợ giúp của Australia trong

vốn ODA hỗ trợ Việt Nam phát triển nguồn nhân lực và đào tạo thông qua các quỹ và học bổng dành
cho học sinh, sinh viên. Các lĩnh vực khác mà New Zealand ưu tiên viện trợ cũng là các lĩnh vực mà
Australia đang tiếp tục hỗ trợ Việt Nam.
2.3.2. Nhật Bản
ODA của Nhật Bản viện trợ cho Việt Nam tập trung vào năm lĩnh vực cơ bản, cụ thể là: Phát
triển nguồn nhân lực và xây dựng thể chế; xây dựng và cải tạo các công trình giao thông và điện lực;
phát triển nông nghiệp và xây dựng hạ tầng cơ cở nông thôn; phát triển giáo dục và đào tạo, y tế; bảo
vệ môi trường.
Có thể thấy rằng các lĩnh vực mà Nhật Bản ưu tiên tài trợ có nhiều điểm tương đồng với
Australia. Cũng như – cơ quan điều phối các hoạt động viện trợ của Australia, Nhật Bản cung cấp
viện trợ thông qua Tổ chức Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA – Japan International Cooperation
Agency). JICA chịu trách nhiệm thực hiện cả ba hình thức viện trợ ODA của Nhật Bản, bao gồm:
Hợp tác kỹ thuật, hợp tác vốn vay và viện trợ không hoàn lại.
Về cơ cấu viện trợ, có thể thấy nguồn vốn ODA của Nhật được hình thành chủ yếu bởi khoản cho
vay ưu đãi. Trong khi đó, khoản viện trợ không hoàn lại và hỗ trợ kỹ thuật chỉ chiếm một phần nhỏ.
Bằng việc so sánh tương quan giữa Australia và hai nhà tài trợ khác tại Việt Nam, có thể thấy
rằng nguồn vốn ODA của Australia cho Việt Nam đang đi theo hướng chung của các nhà tài trợ với
mục đích chính là giúp Việt Nam phát triển kinh tế - xã hội thông qua các lĩnh vực mà hầu hết các
13

nhà tài trợ đều quan tâm. Tuy nhiên, ODA của Australia vẫn có những đặc điểm rất riêng biệt, đó là
Australia tập trung sự hỗ trợ của mình vào việc phát triển nguồn nhân lực, cải thiện điều kiện sống
cho người dân kết hợp với các dự án thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau hướng tới việc phát triển nguồn
nhân lực và đưa Việt Nam thoát khỏi tình trạng nghèo đói một cách nhanh chóng. Ngoài ra, ODA
của Australia không gây thêm những gánh nặng lớn về nợ cho Việt Nam như ODA của Nhật Bản hay
ODA của một số nhà tài trợ khác vì phần lớn ODA của Australia là viện trợ không hoàn lại.
Cho đến nay, Australia vẫn là một trong những nước viện trợ song phương lớn nhất cho Việt Nam.
2.4. Đánh giá chung về thu hút và sử dụng ODA của Australia tại Việt Nam
2.4.1. Những thành tựu đạt được
Với các chương trình viện trợ của mình, chính phủ Australia đã giúp Việt Nam tận dụng tối

giảm sút hiệu quả của các dự án.
Thứ ba, trình độ đội ngũ cán bộ Việt Nam làm việc trong lĩnh vực ODA còn chưa đáp ứng
được điều kiện phù hợp. Không ít cán bộ chưa thực hiểu về lĩnh vực mà mình quản lý mà nhiều khi
còn thiếu cả về kiến thức lẫn kinh nghiệm cũng như phương tiện làm việc và giao tiếp. Nhiều cơ
quan hành chính ở các cấp chưa hiểu rõ về đặc điểm, tính chất, mục đích của ODA dẫn tới họ hiểu
sai và hiểu nhầm.
Thứ tư, tính minh bạch và công khai của Việt Nam còn thấp và chưa thể hiện được tính rõ
ràng, hệ thống trong sử dụng ODA. Đôi khi việc sử dụng nguồn vốn còn mập mờ kèm theo các tệ
nạn như hối lộ, tham nhũng. Những điểm này đều gây mất lòng tin đối với các nhà tài trợ và nếu
không có biện pháp xác đáng sẽ có thể dẫn tới việc nguồn viện trợ bị cắt giảm hoặc ngừng cung cấp.
2.4.3. Nguyên nhân của những tồn tại
2.4.3.1. Nguyên nhân khách quan
Khó khăn do khác biệt trong nhiều mặt như ngôn ngữ, tập quán, tác phong công việc, các quy
định về thủ tục hay trình độ kỹ thuật… làm mất thời gian thực hiện dự án.
Quy định về điều kiện tài trợ của các nhà tài trợ rất đa dạng, đôi khi là phức tạp; quy trình thực
hiện dự án của các nước và các tổ chức quốc tế và quy trình của Việt Nam có những điểm chưa phù
hợp với nhau.
2.4.3.2. Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, cơ chế quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA của nước ta còn chồng chéo, rườm rà
dẫn tới tình trạng chậm trễ trong việc thành lập các ban quản lý dự án.
Thứ hai, việc quy định trách nhiệm của từng Bộ, Ngành, chủ dự án trong từng khâu chưa
được rõ ràng, chặt chẽ, gây ra sự trùng chéo các chức năng. Đồng thời, từng Bộ, Ngành liên quan
chưa thấy được đầy đủ và cũng chưa làm được hết trách nhiệm của mình nên các dự án ODA bị
chững lại so với kế hoạch.
Thứ ba, các cơ quan quản lý chưa thực hiện đúng chu trình dự án, năng lực quản lý thấp và
lỏng lẻo, chưa đảm bảo đúng chế độ tài chính. Thêm nữa là không ít người nhầm lẫn hay cố tình hiểu
sai về ODA, coi như đây là quà biếu, tặng làm cho việc sử dụng rất lãng phí và tùy tiện; đôi khi ODA
còn được dùng để mưu cầu lợi ích riêng trong khi thực tế thì phần lớn ODA đều là các khoản vay ưu
đãi và các khoản viện trợ không hoàn lại chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số vốn. Chính điều này
15

nghèo thông qua các hội nghị như Hội nghị tài trợ cho phát triển ở Monterrey (Mexico) (03/2002),
hay tại hội nghị cấp cao của các nước G8 diễn ra tại Glaneagles (Scotland) (2005).
Mặc dù nguồn vốn ODA đã tăng đáng kể nhưng các nước giàu vẫn chưa đạt được những mục
tiêu đã thỏa thuận, nguồn vốn ODA của một số nhà tài trợ lớn nhất là Mỹ, Anh, Pháp, Đức và Nhật
cũng chỉ chiếm khoảng 0,3% GNP của nước đó.
16

Theo khảo sát mới đây của OECD và DAC về Kế hoạch Chi tiêu tương lai của nhà tài trợ từ
năm 2012 đến 2015 cho thấy, CPA (Country Programmable Aid) tăng nhẹ 6% vào năm 2012. Tuy
nhiên, CPA toàn cầu có thể chậm lại từ năm 2013, và có sự khác nhau giữa các vùng nhưng nhìn
chung đều có xu hướng tăng.
Năm 2011, các thành viên DAC đã phê duyệt Khuyến nghị về Thực thi Cam kết tốt, được tạo
ra để giúp các nhà viện trợ phát triển thực hiện cam kết đáng tin cậy và có tính khả thi, đồng thời
tăng cường trách nhiệm và sự minh bạch của viện trợ.
Mặc dù ODA chỉ là một phần nhỏ trong toàn bộ dòng vốn chảy vào các nước đang phát triển
nhưng lại có vai trò vô cùng quan trọng tại thời điểm này, khi mà những tác động do cuộc khủng
hoảng kinh tế vẫn còn hiện hữu và các nước đang thật sự cần có sự hỗ trợ để phát triển.
3.2. Kế hoạch viện trợ của Australia cho Việt Nam trong thời gian tới
3.2.1. Năm điểm chính trong định hướng viện trợ của Australia cho Việt Nam
Sự cam kết các chính sách cấp cao: Australia cam kết sẽ tham gia vào các lĩnh vực chính
sách như quản lý tài chính công và cải cách kinh tế, chính sách phát triển cơ sở hạ tầng, chính sách
bình đẳng giới và chính sách môi trường.
Củng cố và thúc đẩy các mối quan hệ: Cả Việt Nam và Australia đều nhất trí củng cố và thúc
đẩy các mối quan hệ nhằm hình thành nền tảng vững chắc trong quan hệ đối tác giữa hai nước và có
mối quan hệ lâu dài trong quá trình chuyển sang mối quan hệ viện trợ mới.
Ủng hộ việc chống tham nhũng: Australia tiếp tục ủng hộ công cuộc chống tham nhũng tại
Việt Nam bằng cách đưa các chuyên gia và nhà hoạch định chính sách của hai nước lại với nhau để
tăng cường sức mạnh cho Việt Nam chống nạn tham nhũng.
Ủng hộ bình đẳng giới: Australia sẽ ủng hộ bình đẳng giới thông qua việc cung cấp các học
bổng cho nữ giới, cải thiện đời sống của phụ nữ nông thôn Việt Nam thông qua việc cung cấp nước

thủ tục, như Hội nghị do Nhóm Các Ngân hàng Phát triển Đa phương và Tổ chức Hợp tác và Phát
triển Kinh tế (OECD) tổ chức, hay Hội nghị Nhóm Tư vấn các Nhà tài trợ (Hội nghị CG)…
Tăng cường các cuộc gặp gỡ giữa hai chính phủ: Các cuộc họp, gặp gỡ song phương giữa
phía chính phủ hai nước sẽ góp phần thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa phía Việt Nam và phía
Australia, từ đó tăng hiệu quả của hoạt động ODA và tạo sức hút cho phía Australia đẩy mạnh hoạt
động hỗ trợ phát triển chính thức cho phía Việt Nam của mình.
3.3.1.2. Nhóm giải pháp quản lý hiệu quả ODA ở Việt Nam
Tăng cường quản lý dự án chặt chẽ: Australia cần thường xuyên gặp gỡ trao đổi, kiểm điểm
lại tiến trình thực hiện dự án với phía Việt Nam, trao đổi ý kiến từ đó kịp thời nhận biết những vướng
mắc trong quá trình thực hiện, và có biện pháp xử lý kịp thời, sát sao. Đồng thời, cũng cần tiến hành
kiểm điểm riêng nội bộ phía nhà tài trợ, hoặc giữa các nhà tài trợ với nhau trong các dự án có sự
tham gia của các nhà tài trợ khác.
Tăng cường công tác quản lý xét thầu: Phía Australia cần đưa ra kế hoạch hành động liên
quan đến việc đánh giá hệ thống đấu thầu quốc gia của Việt Nam như xây dựng các tài liệu áp dụng
chung cho hoạt động đấu thầu cạnh tranh trong nước, các ngưỡng giới hạn, các tiêu chuẩn trong việc
đánh giá (trước/sau) và các nguyên tắc đối với vấn đề xác định tính hợp lệ của các doanh nghiệp nhà
nước khi tham gia đấu thầu các dự án do cơ quan chủ quản tổ chức.
18

Tăng cường công tác quản lý hành chính: Xây dựng hệ thống báo cáo chung về tài chính áp
dụng cho các Ban quản lý dự án, hệ thống đánh giá chung về năng lực quản lý tài chính và các tiêu
chí chung trong việc kiểm toán các dự án tài trợ.
Tăng cường các biện pháp làm giảm thiểu các tác động về môi trường và xã hội: Đối với vấn đề
môi trường, mỗi dự án cần áp dụng các yêu cầu chung đối với việc đánh giá tác động môi trường của dự
án - Environmetal Influence Assessment (EIA), việc phối hợp thực hiện tốt các EIA sẽ gúp phần nâng
cao tính hiệu quả của dự án nhờ giảm thiểu các tác động đối với môi trường. Còn đối với các vấn đề xã
hội, cần áp dụng các phương pháp tiếp cận chung đối với vấn đề đền bù giải phóng mặt bằng hay tái định
cư bắt buộc, cung cấp các ý kiến tư vấn chung về vấn đề này cho Chính phủ, xây dựng một cơ sở dữ liệu
chung và các cơ chế hành động chung liên quan đến việc đền bù giải phóng mặt bằng.
3.3.2. Những giải pháp đối với chính phủ Việt Nam

duyệt, thẩm định thành những nguyên tắc, những quy định cụ thể, rõ ràng thống nhất, tạo điều kiện
thuận lợi cho việc đấu thầu, phê duyệt dự án.
+ Cần có sự thống nhất giữa các cơ quan với các bộ ngành và các ban quản lý dự án bên cạnh
sự thống nhất về cơ chế chính sách.
+ Cần xây dựng quy trình thẩm định các dự án ODA sao cho phù hợp giữa yêu cầu trong
nước và yêu cầu của các nhà tài trợ. Có kế hoạch sử dụng vốn trong nước, bố trí vốn đối ứng một
cách kịp thời nhằm theo kịp tiến độ thực hiện dự án.
+ Tổ chức hệ thống thông tin hai chiều đối với các Bộ, tỉnh, thành phố và các nhà tài trợ với
các chủ dự án.
Chính phủ cần lập một chương trình, chiến lược thu hút ODA có hiệu quả trong đó tập trung
vào những ngành, lĩnh vực cần thiết. Từ đó tạo điều kiện để xây dựng đề án có hiệu quả cao, có tính
khả thi cao, rút ngắn thời gian phê duyệt dự án, đảm bảo thuận lợi cho đàm phán ký kết. Điều này
làm cho việc thực hiện dự án trở nên có hiệu quả nhanh hơn, kéo theo sự thuận lợi cho các dự án sau.
Thứ ba, việc giải quyết vấn đề vốn đối ứng. Chính phủ nên kết hợp giữa việc trực tiếp trợ giúp
cho các chương trình có vốn ODA và huy động nguồn vốn từ trong dân, trong các thành phần kinh tế, các
đơn vị trúng thầu. Có như vậy tiến độ triển khai dự án mới nhanh và đảm bảo được thời gian.

KẾT LUẬN

26 năm đã trôi qua kể từ khi Việt Nam mở cửa thị trường, chúng ta đã, đang và tiếp tục chứng
kiến nhiều đổi thay trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. Việt Nam đã và đang bước đi những
bước vô cùng vững chắc trong quá trình phát triển đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế và ngày càng
củng cố vị thế của mình trên trường quốc tế. Để có được những thành công to lớn đó, bên cạnh nỗ
lực hết mình của toàn thể người dân Việt Nam còn có sự đóng góp và giúp đỡ vô cùng to lớn của các
nước trên thế giới, đặc biệt là Australia. Trong số các nguồn tài trợ của Australia cho Việt Nam,
không thể không kể đến ODA với vai trò như một mắt xích quan trọng trong chặng đường phát triển
của Việt Nam. Với nguồn vốn chủ yếu là viện trợ không hoàn lại, Australia đã hỗ trợ Việt Nam thực
hiện rất nhiều dự án, chương trình trong nhiều lĩnh vực như quản lý nhà nước, phát triển nguồn nhân
lực, giáo dục, y tế, xóa đói giảm nghèo, môi trường,… nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
20

triển chính thức (ODA).
6. Chính phủ (1994), Nghị định 20/1994/NĐ-CP ban hành Quy chế Quản lý và sử dụng
nguồn hỗ trợ phát triển chính thức.
7. Chính phủ (1996), Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996.
21

8. Chính phủ (1997), Nghị định 87/1997/NĐ-CP thay thế Nghị định 20/1994/NĐ-CP về
ban hàng Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức.
9. Chính phủ (2001), Nghị định 17/2001/NĐ-CP thay thế Nghị định số 87/CP ngày 05
tháng 8 năm 1997 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế Quản lý và sử dụng nguồn
hỗ trợ phát triển chính thức.
10. Chính phủ (2006), Nghị định 131/2006/NĐ-CP về Ban hành Quy chế quản lý và sử
dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức.
11. Chính phủ (2012), Quyết định số 106/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án "Định hướng
thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và các khoản vốn vay ưu đãi khác của các
nhà tài trợ thời kỳ 2011 - 2015".
12. Lê Quốc Hội (2007), Định hướng sử dụng ODA, Diễn đàn Phát triển Việt Nam (VDF).
13. Hà Thị Ngọc Oanh (2004), Hỗ trợ phát triển chính thức ODA - những hiểu biết căn bản
và thực tiễn ở Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội.
14. Phạm Thị Túy (2009), Thu hút và sử dụng ODA vào phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế ở
Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
15. UNDP (2000), Tổng quan viện trợ phát triển chính thức ở Việt Nam, UNDP, Hà Nội.
16. Vụ Kinh tế đối ngoại – Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2010), Tổng quan ODA ở Việt Nam 15
năm (1993-2008).
17. World Bank (1997), Thực trạng viện trợ 1996 một sự đánh giá độc lập về viện trợ quốc
tế, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
18. World Bank (2000), Thực trạng của viện trợ 2000: Một đánh giá độc lập về giảm
nghèo và hỗ trợ phát triển, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
19. World Bank, ADB, UNDP (2000), Việt Nam 2010 tiến vào thế kỷ 21 – Báo cáo Phát
triển Việt Nam 2001 - Tổng quan, Hà Nội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status