Vấn đề thu hút và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triẻn chính thức trong ngành giáo dục ở việt nam - Pdf 24

Phan Thu Thuỷ - Nhật 2 - K38F
Trờng đại học ngoại thơng
Khoa Kinh tế ngoại thơng
Khóa luận tốt nghiệp
Đề tài:
Vấn đề thu hút và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát
triển chính thức trong ngành giáo dục ở Việt nam
giai đoạn 1993-2002-Thực trạng và giải pháp
Giáo viên hớng dẫn : Ths. Nguyễn Trọng Hải
Sinh viên thực hiện : Phan Thu Thuỷ
Lớp : Nhật 2- K38 F-KTNT
Hà nội - 2003
Phan Thu Thuỷ - Nhật 2 - K38F
Danh mục từ viết tắt
STT Từ viết tắt
Tên đầy đủ Nội dung chính
1 ODA Official Development
Assistance
Nguồn vốn hỗ trợ phát triển
chính thức
2 BGD&ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo
BKH&ĐT Bộ Kế hoạch và Đầu t
4 OECD Organization for Economic
Cooperation & Development
Tổ chức Hợp tác Kinh tế và
Phát triển
5 DAC Development Assistance
Committee
ủy ban Hỗ trợ phát triển
6 WB World Bank Ngân hàng thế giới
7 ADB Asian Development Bank Ngân hàng phát triển Châu á

về giáo dục (Văn kiện Đại hội Đảng IX).
Vì vậy có thể nói phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo là cơ sở đảm bảo
cho sự phát triển kinh tế ổn định, lâu dài và đầu t cho sự nghiệp giáo dục đào tạo
là đầu t cho con ngời - động lực trực tiếp của sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội.
Song việc đầu t cho sự nghiệp giáo dục đào tạo là rất tốn kém mà hiệu quả của
nó lại không thấy ngay đợc, hơn nữa nguồn kinh phí dành cho phát triển sự
nghiệp giáo dục còn hạn hẹp nên việc mở rộng khai thác nguồn tài chính cho sự
nghiệp giáo dục đào tạo có ý nghĩa rất quan trọng nhằm phát triển nền kinh tế
xã hội ở nớc ta.
Trong những năm qua, do ảnh hởng của công cuộc đổi mới nên công tác
quan hệ quốc tế của nớc ta, đặc biệt là trong ngành giáo dục và đào tạo có nhiều
chuyển biến thuận lợi. Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (Official
Development Assistance - ODA) do các tổ chức song phơng, đa phơng tài trợ
cho ngành giáo dục trở nên vô cùng quan trọng. Việc thu hút và sử dụng nguồn
vốn ODA trong ngành giáo dục đã góp phần cải thiện môi trờng giáo dục ở Việt
Nam song đồng thời cũng vẫn còn tồn tại nhiều vớng mắc và trở ngại. Do đó,
việc thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA nh thế nào để có hiệu quả cho sự phát
triển kinh tế- xã hội nói chung và phát triển ngành giáo dục nói riêng là những
vấn đề cấp thiết của đất nớc, nên cần đợc nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn.
Phan Thu Thuỷ - Nhật 2 - K38F
2. Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận:
Khóa luận tập trung vào nghiên cứu những vấn đề sau:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về ODA.
- Nghiên cứu tổng quát về vai trò của nguồn vốn ODA đối với ngành
giáo dục ở Việt Nam.
- Phân tích tình hình thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA trong ngành
giáo dục ở Việt Nam giai đoạn 1993- 2002.
- Từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cờng khả năng
thu hút và hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA trong ngành giáo dục ở Việt
Nam trong thời gian tới.

thiếu sót, kính mong thầy cô và các bạn đóng góp ý kiến để em có thể học hỏi,
rút kinh nghiệm, hoàn thiện khoá luận cũng nh trau dồi kiến thức cho bản thân.
Em xin chân thành cảm ơn thạc sĩ Nguyễn Trọng Hải về sự hớng dẫn tận
tình trong quá trình viết khoá luận. Em cũng xin cảm ơn các cán bộ công tác tại
Vụ Quan hệ Quốc tế- Bộ Giáo dục và Đào tạo (BGD & ĐT), Bộ Kế hoạch và
Đầu t (BKH & ĐT) đã giúp đỡ, cung cấp các tài liệu cần thiết để em có thể hoàn
thành khóa luận này.
Phan Thu Thuỷ - Nhật 2 - K38F
Chơng 1
Vai trò của nguồn vốn ODA đối với ngành
giáo dục ở Việt Nam
I. Tổng quan về ODA
1. Quá trình hình thành và phát triển của ODA.
1.1. Khái niệm về ODA
Hiện nay, trên thế giới có nhiều cách hiểu khác nhau về ODA. Theo định
nghĩa của Cơ chế quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA (ban hành kèm theo Nghị
định 17/2001/NĐ- CP ngày 04/05/2001 của Chính phủ) thì hỗ trợ phát triển
chính thức (ODA) là sự hợp tác phát triển giữa nớc CHXHCN Việt Nam với một
hoặc nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế, bao gồm các hình thức chủ yếu sau:
- Hỗ trợ cán cân thanh toán.
- Hỗ trợ theo chơng trình.
- Hỗ trợ kỹ thuật.
- Hỗ trợ theo dự án.
ODA có thể ở dạng viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với điều kiện u đãi
(lãi suất thấp, thời gian vay dài ). ODA cho vay u đãi có yếu tố không hoàn lại ít
nhất đạt 25% giá trị khoản vay.
1.2. Nguồn gốc lịch sử của ODA:
ODA là một bộ phận có tầm quan trọng đặc biệt của nguồn vốn vay và tài
trợ quốc tế. ODA hình thành và ra đời từ những năm sau chiến tranh thế giới lần
thứ hai, các nớc công nghiệp phát triển đã thoả thuận về sự giúp đỡ dới dạng viện

nớc đang phát triển. Động cơ đã thúc đẩy các nhà tài trợ đề ra mục tiêu này là do
bản thân các nớc phát triển nhìn thấy lợi ích của mình trong việc hỗ trợ, giúp đỡ
các nớc đang phát triển để mở mang thị trờng tiêu thụ sản phẩm và thị trờng đầu
t. Viện trợ thờng gắn với các điều kiện kinh tế. Mỹ cũng nh nhiều nhà tài trợ
khác quy định phải dùng khoản tiền viện trợ của họ để mua hàng hoá của Mỹ,
hoặc trực tiếp lấy hàng hoá d thừa của Mỹ thay cho khoản viện trợ. Mỹ còn đòi
nớc nhận viện trợ cung cấp vật t chiến lợc trọng yếu, dành cho Mỹ những điều
kiện đầu t thuận lợi. Xét về lâu dài, các nhà tài trợ sẽ có lợi về mọi mặt: an ninh,
kinh tế, chính trị khi các nớc nghèo tăng trởng. Mối quan tâm mang tính cá nhân
này đợc kết hợp với tinh thần nhân đạo, tính cộng đồng, vì một số vấn đề mang
tính toàn cầu nh sự bùng nổ dân số thế giới, bảo vệ môi trờng, bình đẳng giới,
Phan Thu Thuỷ - Nhật 2 - K38F
phòng chống dịch bệnh, giải quyết các xung đột sắc tộc, tôn giáo đòi hỏi sự
hợp tác, nỗ lực của cả cộng đồng quốc tế, không phân biệt nớc giàu nớc nghèo.
- Mục tiêu thứ hai: Tăng cờng lợi ích chính trị của các nớc tài trợ. Các nớc
phát triển sử dụng nguồn vốn ODA nh một công cụ chính trị, xác định vị trí và
ảnh hởng của mình tại các nớc và khu vực tiếp nhận nguồn vốn ODA. Mỹ là một
trong những nớc dùng nguồn vốn ODA làm công cụ để thực hiện ý đồ gây ảnh
hởng chính trị trong thời gian ngắn. Chính sách viện trợ của Mỹ nhằm một mặt
dùng viện trợ kinh tế để bày tỏ sự thân thiện, tiến đến gần gũi thân thiết về chính
trị, mặt khác, tiếp cận với quan chức cao cấp của các nớc phát triển để mở đờng
cho hoạt động ngoại giao trong tơng lai. Mỹ lái các nớc nhận viện trợ chấp
nhận một lập trờng nào đó của Mỹ trong ngoại giao và tác động, can thiệp vào sự
phát triển chính trị của các nớc đang phát triển. Viện trợ kinh tế là thủ đoạn chính
trong việc tiến hành thâm nhập văn hoá t tởng đối với các nớc nhận viện trợ.
Chẳng hạn, đòi các nớc nhận viện trợ đề cao vai trò của kinh tế cá nhân, tiếp
nhận t tởng, lối sống của các nớc tài trợ. Viện trợ của các nớc phát triển không
chỉ đơn thuần là việc trợ giúp hữu nghị, mà còn là một công cụ lợi hại để kiếm lời
cả về kinh tế lẫn chính trị cho nớc tài trợ. Những nớc cấp viện trợ gò ép các nớc
nhận phải thay đổi chính sách phát triển cho phù hợp với lợi ích của bên tài trợ.

ởng chính trị, vừa đem lại lợi nhuận cho hàng hoá, dịch vụ, và t vấn trong nớc. Bỉ,
Đức và Đan Mạch yêu cầu khoảng 50% viện trợ phải mua hàng hoá và dịch vụ
của nớc mình. Canada yêu cầu cao nhất (tới 65%); Thụy Sĩ chỉ yêu cầu 1,7%, Hà
Lan 2,2%, hai nớc này đợc coi là những nớc có tỷ lệ ODA yêu cầu phải mua hàng
hoá và dịch vụ của nhà tài trợ thấp và thấp hơn cả là New Zealand 0%. Nhìn
chung, 22% viện trợ của DAC phải đợc sử dụng để mua hàng hoá và dịch vụ của
các quốc gia viện trợ
1
.
1.6. Phân loại ODA:
Tuỳ theo từng tiêu chí phân loại mà ngời ta có thể phân loại ODA nh
sau:
1.6.1. Theo tính chất:
- Viện trợ không hoàn lại: các khoản cho không, không phải trả lại.
- Viện trợ có hoàn lại: các khoản cho vay u đãi (vay tín dụng với điều
kiện mềm)
- Viện trợ hỗn hợp: Gồm một phần cho không, phần còn lại thực hiện
theo hình thức vay tín dụng.
1.6.2. Theo mục đích:
- Hỗ trợ cơ bản: là những nguồn lực đợc cung cấp để đầu t xây dựng cơ
sở hạ tầng kinh tế-xã hội và môi trờng. Đây thờng là những khoản cho vay u đãi.
1
Nguồn Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế số 268 tháng 9/2000
Phan Thu Thuỷ - Nhật 2 - K38F
- Hỗ trợ kỹ thuật: là những nguồn lực dành cho chuyển giao tri thức
công nghệ, xây dựng năng lực, tiến hành nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu tiền
đầu t phát triển thể chế và nguồn nhân lực v.v loại hỗ trợ này chủ yếu là viện
trợ không hoàn lại.
1.6.3. Theo điều kiện :
- ODA không ràng buộc: việc sử dụng nguồn tài trợ không bị ràng buộc

- Mối quan hệ truyền thống đối với các nớc khác.
- Tầm quan trọng của các nớc đang phát triển với t cách bạn hàng (thị tr-
ờng, nơi cung cấp nguyên vật liệu, lao động).
- Chính sách đối ngoại, an ninh, lợi ích kinh tế xã hội.
- Các nhà tài trợ ODA gồm các nớc tài trợ song phơng và các tổ chức tài trợ
đa phơng
1.7.1. Các nớc tài trợ song phơng:
a. Các nớc thành viên Hội đồng tơng trợ kinh tế (SEV, CMEA):
Trong hai thập kỷ qua, Liên Xô (cũ) là nớc viện trợ ODA lớn nhất cho Việt
Nam: 12,6 tỷ Rup chuyển nhợng. Nhng đến năm 1990, Liên Xô (cũ) tan rã, kéo
theo các nớc xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, CMEA giải thể khiến cho nguồn
tài trợ này bị chấm dứt.
b. Các nớc thuộc tổ chức OECD:
Nguồn vốn ODA có nguồn gốc chủ yếu từ các nớc OECD. Tổ chức OECD
gồm 24 nớc thành viên, là những nớc công nghiệp phát triển, những nớc xuất
khẩu t bản và cung cấp ODA cho các nớc đang phát triển, gồm: Anh, áo, Bỉ, Bồ
Đào Nha, Canada, Đan Mạch, Đức, Hà Lan, Mỹ, Nhật Bản, New Zealand, Na
Uy, Pháp, Phần Lan, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ,
Các nớc thuộc tổ chức OECD có tiềm lực kinh tế lớn, đồng thời cũng là
những nớc cung cấp ODA chủ yếu trên thế giới. Tuy giá trị tuyệt đối còn thấp
song Thụy Điển và Hà Lan lại là những nớc có tỷ lệ đóng góp vào nguồn vốn này
cao nhất so với GDP của nớc mình (0,89% và 0,98% so với mức trung bình
0,36% của toàn bộ tổ chức OECD). Đối với việc tài trợ nguồn vốn ODA, vai trò
quan trọng hàng đầu vẫn là Hoa Kỳ và Nhật Bản (10.141 tỷ USD và 9.134 tỷ
USD vào năm 1988). Những năm gần đây, vai trò của Hoa Kỳ giảm tơng đối; còn
vai trò của Nhật Bản tăng lên và trở thành nguồn đóng góp quan trọng nhất
2
.
c. Các nớc đang phát triển:
Hiện nay, một số nớc đang phát triển cũng cung cấp ODA nh ấn Độ, Trung

giản, thực hiện lại nhanh.
d. Các tổ chức tài chính quốc tế:
- Ngân hàng thế giới (WB- World Bank):
- Ngân hàng phát triển Châu á (ADB- Asian Development Bank)
- Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF- International Monetary Fund)
- Tổ chức các nớc xuất khẩu dầu mỏ (OPEC)
Phan Thu Thuỷ - Nhật 2 - K38F
2. Các khâu chủ yếu trong quá trình thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA.
Từ tình hình tiếp cận và sử dụng nguồn vốn ODA trong thời gian qua có thể
nhận xét rằng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA là một quá trình với nhiều
công việc khác nhau, có thể biểu đạt thành 3 khâu chủ yếu:
- Thu hút ODA
- Giải ngân ODA
- Sử dụng ODA
2.1. Thu hút ODA
Đây chính là quá trình vận động các nhà tài trợ để có thể có đợc nguồn tài
trợ ODA. Quá trình vận động ODA này có thể đợc tiến hành ở nhiều cấp khác
nhau. Đó là thông qua các diễn đàn nh Hội nghị nhóm t vấn vì hỗ trợ phát triển
dành cho Việt Nam, các hội nghị điều phối viện trợ ngành, các cuộc tiếp xúc giữa
các địa phơng, cán bộ, các dự án với các nhà tài trợ trên cơ sở quy hoạch ODA,
chơng trình đầu t công cộng, quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội của các địa ph-
ơng, quy hoạch phát triển ngành Ngoài ra cần tìm hiểu và nắm vững các chính
sách và những lĩnh vực u tiên cung cấp ODA của từng nhà tài trợ, nắm đợc xu h-
ớng và theo dõi sự vận động của tỷ giá hối đoái. Đặc biệt trong xu thế tổng nguồn
vốn ODA của thế giới ít có xu hớng gia tăng đáng kể, điều kiện cung cấp giảm
bớt tính u đãi, có sự cạnh tranh giữa các nớc đang phát triển trong việc tiếp nhận
ODA thì việc làm thế nào để thu hút đợc nhiều nguồn vốn ODA là vô cùng quan
trọng, đòi hỏi sự phối hợp của tất cả các bộ, ngành, và các địa phơng.
2.2. Giải ngân ODA
Sau khi đã thu hút đợc nguồn vốn ODA thì vấn đề giải ngân ODA cũng là

cực đối với sự phát triển kinh tế xã hội nớc ta.
Thứ nhất, nhờ sự tiếp nhận nguồn vốn ODA mà chúng ta đã có điều kiện tạo
lập một môi trờng thuận lợi cho sự phát triển đất nớc nói chung. Do những đặc
điểm mang tính chất u đãi, nguồn vốn ODA đợc Chính phủ sử dụng vào các mục
đích:
- Thực hiện các chơng trình đầu t quốc gia, đặc biệt là các dự án cải tạo,
nâng cấp, hiện đại hoá kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội để làm nền tảng vững chắc
cho ổn định và tăng trởng kinh tế, thúc đẩy đầu t của t nhân trong và ngoài nớc.
- Cải thiện chất lợng giáo dục, y tế, môi trờng sinh thái dinh dỡng.
- Bù đắp thâm hụt trong cán cân thanh toán quốc tế (do nhập siêu) để Chính
phủ có đủ thời gian để quản lý tốt hơn ngân sách trong giai đoạn cải cách hệ
thống tài chính hay chuyển đổi hệ thống kinh tế (viện trợ để điều chỉnh cơ cấu).
- Thực hiện các chơng trình nghiên cứu tổng hợp nhằm hỗ trợ cho Chính
phủ Việt Nam hoạch định chính sách hay cung cấp thông tin cho đầu t t nhân
Phan Thu Thuỷ - Nhật 2 - K38F
bằng các hoạt động điều tra, khảo sát, đánh giá tài nguyên, hiện trạng kinh tế- kỹ
thuật- xã hội các ngành, các vùng lãnh thổ.
Nhờ thế mà nớc ta cải thiện đợc điều kiện về cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục,
môi trờng; khung thể chế và pháp lý cho các ngành cụ thể cũng đợc xây dựng và
tăng cờng hơn, tạo thuận lợi cho sự phát triển đất nớc.
Thứ hai, nhờ có nguồn vốn ODA mà đã khuyến khích thu hút đầu t trong và
ngoài nớc, đặc biệt là nguồn vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài FDI. Một trong các
khó khăn lớn của các nhà đầu t nớc ngoài và các nhà đầu t trong nớc khi có nhu
cầu đầu t vào Việt Nam là điều kiện cơ sở hạ tầng còn quá yếu kém khiến cho chi
phí sản xuất và chi phí bán hàng cao hơn dự tính, giảm tính sinh lãi và tính khả
thi của việc đầu t. Thậm chí, nhiều nhà đầu t còn phải tự xây dựng nguồn cung
cấp điện cho mình, đặc biệt là ở các khu công nghiệp. Các nhà đầu t trong và
ngoài nớc cũng luôn lo lắng tới tính ổn định của môi trờng kinh tế vĩ mô, môi tr-
ờng pháp lý, v.v Các tổ chức tài chính quốc tế, Chính phủ nhiều nớc cung cấp
ODA cho Việt Nam với khối lợng cam kết cho vay lớn thể hiện sự tin tởng của

các hộ gia đình đã tăng lên 39% và tỷ lệ hộ nghèo đã giảm gần một nửa xuống
còn 37,4% và năm 2002 tỷ lệ này chỉ còn là 28,9%. Thêm vào đó, nguồn vốn
ODA cũng đã làm cho một số chỉ tiêu kinh tế- xã hội trở nên tốt hơn nh: số trẻ sơ
sinh tử vong giảm xuống, số ngời chết do các bệnh có thể phòng ngừa cũng thấp
hơn rất nhiều do hệ thống chăm sóc y tế cho ngời dân đợc cải thiện, ngời dân đ-
ợc hởng một cuộc sống đầy đủ hơn. Nhờ những thành tựu của giáo dục và các
lĩnh vực xã hội khác mà chỉ số phát triển con ngời HDI của nớc ta theo bảng xếp
loại của UNDP 10 năm gần đây cũng đã có những tiến bộ đáng kể: từ 0,456 xếp
thứ 121 tăng lên 0,682 xếp thứ 101/174, có nghĩa là vợt lên 19 bậc
3
. Đó là nhờ
một phần không nhỏ vào vai trò của nguồn vốn ODA đầu t cho các ngành, các
lĩnh vực của nớc ta trong thời gian qua.
II. Vai trò của nguồn vốn ODA đối với ngành giáo dục ở
Việt Nam
1. Vị trí ngành giáo dục đối với sự phát triển đất nớc.
Từ xa, Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã có truyền
*
thống hiếu học và
luôn đề cao giá trị của giáo dục đối với sự nghiệp phát triển của đất nớc nên giáo
dục vốn luôn đợc coi là trọng tâm của quá trình phát triển, vì giáo dục giúp con
ngời phát triển, sử dụng và tăng cờng đợc năng lực của mình, giúp họ có khả
năng quyết định và tham gia vào quá trình biến đổi của bản thân và của cả xã hội.
Hơn nữa, giáo dục cũng là trọng tâm của quá trình nỗ lực vì một xã hội công
bằng hơn, tốt đẹp hơn. Vì thế, đầu t vào giáo dục không những mang lại lợi ích
cho công dân, mà còn có ý nghĩa tích cực đối với toàn thể nền kinh tế nớc ta.
3
Nguồn : Hớng dẫn về quan hệ quốc tế trong giáo dục BGD&ĐT NXB Giáo dục 2002.
*
Phan Thu Thuỷ - Nhật 2 - K38F

2.1.1. Nguồn vốn từ ngân sách Nhà nớc
Trong các nguồn vốn đầu t cho giáo dục - đào tạo thì nguồn ngân sách là
quan trọng nhất và chiếm tỉ trọng chủ yếu. Đó là do quan điểm của Nhà nớc coi
đầu t cho giáo dục là đầu t phát triển, đầu t cơ bản quan trọng nhất đợc mọi thành
Phan Thu Thuỷ - Nhật 2 - K38F
phần trong xã hội nhất trí cao. Nh trong khoản 1 điều 89 Luật giáo dục đã ghi rõ:
Nhà nớc dành u tiên hàng đầu cho việc bố trí ngân sách giáo dục, đảm bảo tỉ lệ
ngân sách Nhà nớc chi cho giáo dục tăng dần theo yêu cầu phát triển của sự
nghiệp giáo dục. Nguồn đầu t này chủ yếu lấy từ nguồn chi thờng xuyên, nguồn
chi phát triển, xu hớng chung là chi cho giáo dục năm sau tăng hơn năm trớc.
Biểu đồ 1: Xu thế tăng chi ngân sách Nhà nớc cho giáo dục ở Việt Nam
giai đoạn 1993-2002
Đơn vị tính: %
0
2
4
6
8
10
12
14
16
18
1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002
Tỷ lệ chi cho giáo dục
trong tổng chi NSNN
Nguồn: Bộ Kế hoạch & Đầu t
Khoảng 85% chi công cộng cho giáo dục - đào tạo là từ ngân sách Nhà nớc.
Nhà nớc đang cố gắng để nâng tỷ lệ chi cho giáo dục trong ngân sách Nhà nớc
lên ít nhất 18% vào năm 2005 và 20% vào năm 2010. Những khoản chi ngân

2.2. Nguồn vốn đầu t từ ngoài nớc
2.2.1. Nguồn vốn ODA
Trong tất cả các nguồn vốn từ ngoài nớc đầu t cho giáo dục, thì nguồn vốn
ODA là nguồn vốn quan trọng nhất và cũng chiếm tỉ lệ đáng kể nhất (thờng
chiếm 10-15% kinh phí đầu t cho giáo dục). Những nớc, những tổ chức quốc tế
nh WB, ADB, UNDP, UNESCO, UNICEF, Hiệp hội các trờng Đại học và Viện
nghiên cứu các nớc nói tiếng Pháp (AUPELF_ UREF), Viện công nghệ Châu á
(AIT), Tổ chức Bộ trởng giáo dục các nớc Đông Nam á (SEAMEO) là những
nhà tài trợ ODA chủ yếu cho ngành giáo dục. Nguồn vốn ODA này đợc phân bổ
cho các cấp và các lĩnh vực đào tạo theo tỉ lệ thay đổi tuỳ theo từng năm. Nguồn
Phan Thu Thuỷ - Nhật 2 - K38F
vốn ODA đầu t cho giáo dục này tăng nhanh vào những năm 1990, với những dự
án đầu t có mục tiêu rất đa dạng, phong phú và kích cỡ dự án cũng rất khác nhau.
Có dự án có tổng vốn đầu tới hơn 100 triệu USD (dự án giáo dục Đại học vay vốn
của WB) kéo dài hơn 5 năm, cũng có cả những dự án chỉ vài chục ngàn USD (dự
án cấp trang thiết bị học tiếng cho trờng Đại học Ngoại ngữ Hà Nội) nhng lại giải
quyết đợc những vấn đề thiết thực và cụ thể cho ngành giáo dục. Nhờ những dự
án quốc tế này mà BGD & ĐT đã thực hiện đợc các mục tiêu quan trọng, góp
phần nghiên cứu tổng thể và hoạch định chiến lợc giáo dục - đào tạo Việt Nam,
tăng cờng cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài liệu thông tin khoa học cho các cơ sở,
nâng cao chất lợng giáo dục và đào tạo.
2.2.2. Nguồn vốn FDI
Cho đến nay, vẫn còn rất ít dự án đầu t trực tiếp nớc ngoài vào lĩnh vực
giáo dục đào tạo ở Việt Nam. Vì thế, chúng ta cần tìm ra những biện pháp để có
thể thu hút phần nào nguồn tài chính này cho giáo dục.
2.2.3. Nguồn vốn huy động từ các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài
Các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài thờng đóng góp vào quỹ đào tạo,
hợp đồng đào tạo với các cơ sở để tăng nguồn tài chính cho giáo dục. Ví dụ nh
công ty tin học NITT, công ty sữa Cô gái Hà Lan là những công ty đã tài trợ
học bổng cho sinh viên các trờng Đại học và cho học sinh nghèo trong cả nớc.

vật chất cho trờng học nh: giúp xây dựng 12 xởng đóng bàn ghế, 78 trung tâm
giáo dục lao động hớng nghiệp, xây dựng 3074 phòng học, trang thiết bị cho 38
trờng cao đẳng s phạm, 40 trờng mẫu giáo, 41 trờng trung học s phạm, 41 trờng
thực hành. Nhờ có sự giúp đỡ trong giai đoạn đầu này mà cơ sở vật chất ngành
giáo dục đợc cải thiện đáng kể, làm tiền đề cho những sự phát triển của giáo dục
sau này.
Kể từ năm 1993 đến nay, nguồn vốn ODA tài trợ cho giáo dục tăng lên nhờ
sự tài trợ của các tổ chức viện trợ đa phơng cũng nh các nớc viện trợ song phơng.
Nhờ có nguồn vốn ODA mà không những quy mô giáo dục không ngừng tăng lên
mà chất lợng giáo dục giáo dục cũng đã có nhiều chuyển biến tích cực, giúp thực
hiện vấn đề xã hội hoá giáo dục cũng nh công bằng xã hội trong giáo dục. Nhờ
thế mà vị thế của giáo dục Việt Nam dần đợc nâng cao trên thế giới. Nh vậy, có
thể nói nguồn vốn ODA đã góp phần quan trọng trong việc giải quyết các khó
khăn về vốn đầu t cho giáo dục trong giai đoạn vừa qua cũng nh trong giai đoạn
sắp tới. Vì thế, chúng ta phải biết sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này để nó phát
huy tác dụng tốt hơn nữa những vai trò tích cực của nó đối với ngành giáo dục
cũng nh đối với toàn thể nền kinh tế nớc ta.
4
Nguồn : Phát triển giáo dục và đào tạo nhân tài Nghiêm Đình Vỳ NXB Chính trị Quốc
gia 2002.
Phan Thu Thuỷ - Nhật 2 - K38F
Chơng 2
Thực trạng tình hình thu hút và sử dụng nguồn vốn
ODA trong ngành giáo dục ở Việt Nam giai đoạn 1993-
2002
I. Thực trạng tình hình thu hút và sử dụng nguồn vốn
ODA ở Việt Nam giai đoạn 1993- 2002
1. Tình hình thu hút nguồn vốn ODA ở Việt Nam giai đoạn 1993- 2002
Những thành tựu đạt đợc trong cuộc đổi mới đã tạo điều kiện cho Việt Nam
mở rộng quan hệ với các quốc gia, cũng nh các tổ chức trên thế giới, khiến cho

đoạn 1993-2002 có xu hớng ngày càng tăng, trung bình mỗi năm đạt trên 2,2 tỷ
USD, là mức cam kết cao hơn so với các nớc đang phát triển khác. Đặc biệt, cuộc
khủng hoảng tài chính - tiền tệ Châu á năm 1997 chỉ làm giảm mức cam kết
xuống một lợng không đáng kể trong 3 năm 1998, 1999, 2000 (giảm hơn 10%)
rồi sau đó lại phục hồi nhanh chóng và đạt đỉnh cao vào năm 2002 là 2,5 tỷ USD.
Điều đó gây bất ngờ cho các nhà phân tích kinh tế cũng nh Chính phủ Việt Nam
vì cùng thời gian này khối lợng FDI có xu hớng giảm. Nh vậy, quy mô ODA cam
kết khá cao, thể hiện sự quan tâm của các nhà tài trợ tới Việt Nam, một phần đã
tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam trong việc tạo ra một yếu tố quan trọng là
vốn phục vụ cho quá trình CNH-HĐH đất nớc, mặt khác cũng đặt Việt Nam trớc
đòi hỏi phải thực hiện tốt công tác giải ngân và sử dụng vốn có hiệu quả.
Bảng 1: Cam kết ODA cho Việt Nam giai đoạn 1993-2002
Đơn vị: Tỷ USD
Năm Cam kết ODA Lợng tăng giảm
1993 1,819
1994 1,941 0,122
1995 2,264 0,323
1996 2,430 0,166
1997 2,420 -0,10
1998 2,186 -0,234
1999 2,100 -0,86
2000 2,250 0,150
2001 2,400 0,150
2002 2,500 0,100
Tổng 22,310
5
Nguồn : Bộ Kế hoạch và Đầu t
Phan Thu Thuỷ - Nhật 2 - K38F
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu t
2. Tình hình giải ngân nguồn vốn ODA giai đoạn 1993- 2002.

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu t
Nhìn chung, lợng ODA giải ngân tăng lên khá nhanh và ổn định (trung bình
mỗi năm trên 1 tỷ USD đã đợc giải ngân để hỗ trợ nguồn vốn cho Nhà nớc). L-
6
Nguồn : Bộ Kế hoạch và Đầu t
Phan Thu Thuỷ - Nhật 2 - K38F
ợng vốn giải ngân năm 2002 đạt mức cao nhất 1,59 tỷ USD gần gấp 4 lần so với
lợng giải ngân 413 triệu USD của năm 1993. Tỷ lệ giải ngân cũng có xu hớng
tăng nhanh, năm 2002 đạt 63% gấp gần 2,5 lần so với tỷ lệ 26% của năm 1993.
Có thể nói sự giảm sút mức ODA trong năm 2001 là lần suy giảm mạnh đầu
tiên kể từ năm 1993: mức giải ngân giảm khoảng 11,14% sau 8 năm tiếp nhận
nguồn vốn ODA (chỉ đạt 1,22 tỷ USD). Nguyên nhân chủ yếu là do một số dự án
và chơng trình do Nhật Bản tài trợ đã đợc hoàn thành, trong đó bao gồm các nhà
máy điện Phú Mỹ, Phả Lại và Hàm Thuận - Đa Mi cũng nh sáng kiến Miyazawa
hỗ trợ phát triển khu vực t nhân, cải cách doanh nghiệp nhà nớc và thơng mại.
Thế nhng ngay sau đó, mức giải ngân năm ODA năm 2002 đã tăng 13,6%
so với mức giải ngân năm 2001, đạt 1,59 tỷ USD. Đó là do một số nhà tài trợ lớn
chuyển sang áp dụng cơ chế giải ngân nhanh các khoản vay ODA. Điều này đã
bù lại cho mức giải ngân thấp trong lĩnh vức cơ sở hạ tầng sau khi đã hoàn thành
một số dự án lớn về năng lợng trong giai đoạn 2000- 2001.
Mặc dù tỉ lệ giải ngân ODA năm 2001 có phần chậm lại nhng chêch lệch
giữa cam kết và giải ngân dờng nh đã đợc thu hẹp một cách đáng kể trong những
năm gần đây. Tổng cộng các cam kết của các nhà tài trợ trong giai đoạn 1993-
2002 đã đạt 22,31 tỷ USD và theo số liệu của Việt Nam thì những khoản cam kết
này đã đợc chuyển thành hiệp định ký kết với giá trị lên tới khoảng 19,5 tỷ USD,
với mức giải ngân trong giai đoạn này lên tới 10,375 tỷ USD. Điều này có nghĩa
là còn khoảng 6,1 tỷ USD (chiếm khoảng 1/3 tổng số cam kết) vẫn còn cha đợc
giải ngân và thấp hơn đáng kể so với tỷ lệ gần 50% vào giữa những năm 1990.
Mặc dù mức giải ngân có xu hớng tăng nhanh nhng vẫn còn thấp so với kế
hoạch và xu hớng này đang dần đợc cải thiện. Mức giải ngân thời kỳ 1996-2000


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status