Đánh giá thực trạng triển khai BHYT HS - SV tại cơ quan BHXH Việt Nam
Một số kiến nghị nhằm phát triển BHYT HS -
SV tại BHXH Việt Nam
I.Quan điểm định hớng của Đảng và Nhà nớc ta
trong việc tổ chức thực hiện BHYT HS - SV từ nay
đến 2010.
1. Quan điểm định hớng của Đảng và Nhà nớc
Đảng và Nhà nớc ta đã nhận định rằng con ngời là nguồn tài nhuyên
quý báu của đất nớc. Một xã hội muốn phát triển phải cần đến những con ngời
khoẻ mạnh, vì vậy cần phải đầu t cho sức khoẻ của nhân dân. Đầu t cho sức
khoẻ là đầu t cho sự phát triển của kinh tế xã hội. Học sinh sinh viên đang
học tập tại các loại hình trờng học là thế hệ tơng lai của đất nớc, là ngời quyết
định vận mệnh của đất nớc nên chăm lo cho thế hệ trẻ này chính là chăm lo cho
đất nớc trong tơng lai. Tại đại hội Đảng IX Đảng ta đã chỉ rõ: thực hiện đồng
bộ các chính sách bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân nhằm giảm tỷ lệ mắc
bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ và phát triển giống nòi. Củng cố và hoàn
thiện mạng lới y tế, đặc biệt là y tế cơ sở. Xây dựng một số trung tâm y tế
chuyên sâu. Đẩy mạnh sản xuất dợc phẩm, bảo đảm các loại thuốc thiết yếu đến
với mọi địa bàn dân c. Thực hiện công bằng trong chăm sóc sức khoẻ, đổi mới
cơ chế chính sách viện phí, có chính sách trợ
cấp và BHYT cho ngời nghèo, tiến tới BHYT toàn dân. Nh vậy tiến tới BHYT
toàn dân là một trong những nhiẹm vụ chiến lợc quan trọng mà toàn Đảng, toàn
dân phải phấn đấu thực hiện.
Tiến tới BHYT toàn dân là hoàn toàn phù hợp với bản chất nhân đạo và
định hớng XHCN. đạt đợc mục tiêu này thì mọi ngời dân Việt Nam không phân
Lê Thuỳ Dung
Bảo hiểm 43A
11
Bảo hiểm 43A
22
Đánh giá thực trạng triển khai BHYT HS - SV tại cơ quan BHXH Việt Nam
tợng tham gia và xem xét việc bổ sung đối tợng bắt buộc trình lên Chính phủ,
nghiên cứu các phơng thức thanh toán chi phí cho cơ sở KCB cho phù hợp.
Hai là tiếp tục phối hợp chặt chẽ giữa ngành Giáo dục - Đào tạo, Bộ Y
tế và BHXH Việt Nam Từ trung ơng đến địa phơng để thống nhất chơng trình
thực hiện. Đặc biệt là sự kết hợp giữa các ban ngành để công tác YTHĐ thực sự
phát triển rộng khắp. Hệ thống trờng học đảm bảo điều kiện thuận lợi cho việc
thực hiện chơng trình BHYT .
Năm 2003 2004 cả nớc có trên 22 triệu học sinh sinh viên, trong
đó có trên 5 triệu học sinh sinh viên đã tham gia BHYT . Với tốc độ tăng tr-
ởng số lợng học sinh sinh viên tham gia nh mấy năm vừa qua thì từ nay đến
2010 BHXH Việt Nam dự báo mức tăng là 0,5 triệu học sinh một năm và đến
năm 2010 có trên 8 triệu học sinh sinh viên chiếm khoảng 40% học sinh
sinh viên có thẻ BHYT.
Mặc dù hiện tại mức đóng góp của học sinh khá thấp nhng quyền lợi h-
ởng khá toàn diện làm cho không ít địa phơng thờng xuyên xảy ra tình trạng bội
chi. Nhng nhìn chung trong những năm qua BHYT HS - SV trên cả nớc vẫn cân
đối đợc thu chi. Dự kiến trong những năm tiếp theo sẽ phải khắc phục tình trạng
này bằng cách tăng số học sinh tham gia và tăng phí cho phù hợp với giá chung.
Tiếp tục thực hiện các biện pháp để quỹ đợc cân đối góp phần thực hiện thắng
lợi công tác BHYT HS SV.
Nhng đến năm 2010 tiến tới BHYT toàn dân mà số học sinh tham gia
chỉ chiếm 40% thì cha đạt mục tiêu đề ra vì vậy cần phải có các giải pháp để
thúc đẩy BHYT HS - SV phát triển nhanh hơn nữa.
II. Một số kiến nghị đối với các bên có liên quan.
1.Đối với Nhà nớc.
rõ ràng. Nhà nớc ta đang xây dựng dự thảo luật BHXH vì đây là điều kiện cần
để tiến tới BHYT toàn dân. Cần phải xây dựng luật BHYT chi tiết, bám sát vào
điều kiện khác biệt giữa các tỉnh, thành phố để áp dụng thống nhất theo luật đã
đa ra tránh tình trạng các tỉnh trình văn bản lên BHXH Việt Nam xin ý kiến chỉ
Lê Thuỳ Dung
Bảo hiểm 43A
44
Đánh giá thực trạng triển khai BHYT HS - SV tại cơ quan BHXH Việt Nam
đạo nh hiện nay. Trớc mắt cần khẩn trơng tổ chức thực hiện nghiêm túc Thông t
77/2003 nhằm tháo gỡ những khó khăn vớng mắc vì cho đến nay trên cả nớc vẫn
cha thực hiện đồng bộ theo Thông t này. Đây là văn bản pháp luật mới nhất điều
chỉnh BHYT HS SV, muốn thực hiện đợc luật BHYT trong thời gian tới thì
phải thực hiện tốt các luật hiện tại.
Thứ hai là Nhà nớc cần xác định quyền lợi của ngời tham gia bằng gói
dịch vụ y tế cơ bản do Chính phủ qui định. Gói dịch vụ này phải đảm bảo quyền
lợi chung tối thiểu mà ai cũng có thể đợc hởng, nếu ai có điều kiện về kinh tế
thì tham gia thêm vào các tổ chức BHTM để đợc chi trả nhiều hơn. Làm nh vậy
vừa đáp ứng đợc nhu cầu chung của phụ huynh và học sinh vừa phát triển đợc hệ
thống BHTM giải quyết hài hoà vấn đề cạnh tranh.
Th ba là, Nhà nớc nên tăng cờng đầu t để mở rộng và củng cố mạng lới
cơ sở KCB. Đặc biệt là đầu t cho khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa có đông
dân c thuộc diện nghèo và cận nghèo nhằm tạo điều kiện cho họ đợc bình đẳng
tiếp cận với các dịch vụ KCB. Nhà nớc cần tăng cờng công tác kiểm tra, kiểm
soát chất lợng dịch vụ KCB của các cơ sở KCB. Nhà nớc nên kêu gọi đầu t trong
nớc cũng nh ngoài nớc vào khu vực này. Có những chính sách khuyến khích về
vốn, lãi suất, mặt bằng, cơ sở hạ tầng khi
đầu t vào đây.
trọng hơn là trang bị kiến thức để ngời dân sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ấy.
Điều kiện kinh tế là yếu tố ảnh hởng khá quan trọng đến BHYT HS - SV bởi lẽ
các em cha làm ra tiền để hỗ trợ cho cha mẹ trong
khi cha mẹ các em còn phải chăm lo rất nhiều thứ cho các em.
Thứ năm là việc Chính phủ nên nghiên cứu và mạnh dạn đa đối tợng
học sinh sinh viên vào diện bắt buộc. Theo kinh nghiệm các nớc đã đạt mục
tiêu BHYT toàn dân thì đối tợng nào đủ điều kiện và thuận lợi thì đa vào diện
bắt buộc. Nh phần trên đã nói, học sinh sinh viên học tập và sinh hoạt tập
trung tơng tự nh đối với ngời làm công ăn lơng ( diện BHYT bắt buộc) nên rất
thuận lợi cho công tác quản lý. Hơn nữa mức đóng BHYT của học sinh sinh
Lê Thuỳ Dung
Bảo hiểm 43A
66
Đánh giá thực trạng triển khai BHYT HS - SV tại cơ quan BHXH Việt Nam
viên so với đối tợng bắt buộc là tơng đối thấp nên nếu đa học sinh vào diện bắt
buộc cũng không gây khó khăn gì lớn cho các bậc cha mẹ.
Quan trọng hơn nếu học sinh là đối tợng bắt buộc thì từ mức đóng thấp
này sẽ gây dựng đợc quỹ lớn, từ đó % trên số thu để lại trờng học lớn nên trờng
học nào cũng có phòng y tế, có nhân viên y tế. Nhà nớc cũng cần đầu t và kêu
gọi các tổ chức quốc tế hỗ trợ cho chơng trình YTHĐ để xây dựng y tế trờng
học vững mạnh.
Chăm sóc bảo vệ sức khoẻ là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân. Nhà n-
ớc với vai trò là ngời điều hành, lãnh đạo, điều tiết các hoạt động vĩ mô cần có
nhiều biện pháp liên quan đến nhiều lĩnh vực nhằm đẩy nhanh tiến trình thực
hiện BHYT HS - SV dần tiến đến BHYT toàn dân.
2. Đối với cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
Trớc năm 2002, BHYT HS - SV là do Bảo hiểm Y tế Việt Nam trực tiếp