Mục lục
Trang
Lời nói đầu..................................................................................................................................1
Chương 1. Một số vấn đề lý luận về tiền lương tối thiểu
1.1. Khái niệm..............................................................................................................................3
1.1.1. Tiền lương tối thiểu...........................................................................................................4
1.1.2. Bản chất của tiền lương tối thiểu.......................................................................................7
1.1.3. Vai trò của tiền lương tối thiểu..........................................................................................9
1.1.4. Cơ sở để xác định tiền lương tối thiểu.............................................................................11
1.1.5. Phương pháp xác định tiền lương tối thiểu......................................................................12
1.2. Các loại tiền lương tối thiểu................................................................................................16
1.2.1. Căn cứ vào tính chất và phạm vi áp dụng của tiền lương tối thiểu.................................16
1.2.2. Căn cứ vào thẩm quyền quyết định và công bố mức lương tối thiểu..............................19
Chương 2. Quy định của pháp luật việt nam về tiền lương tối thiểu
2.1. Lịch sử quy định về tiền lương tối thiểu ở Việt Nam.........................................................21
2.1.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1960.............................................................................21
2.1.2. Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1985.............................................................................21
2.1.3. Giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1992.............................................................................22
2.1.4. Giai đoạn từ năm 1993 đến nay........................................................................................24
2.2. Pháp luật hiện hành về tiền lương tối thiểu.........................................................................28
2.2.1. Cơ sở xây dựng tiền lương tối thiểu và phương pháp xác định tiền lương tối thiểu ở Việt
Nam.............................................................................................................................................28
2.2.2. Các loại tiền lương tối thiểu.............................................................................................35
2.2.3. Xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp về tiền lương tối thiểu......................................42
Chương 3. Thực tiễn thực hiện và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện tiền lương
tối thiểu ở việt nam
3.1. Thực tiễn thực hiện tiền lương tối thiểu ở Việt Nam..........................................................48
3.1.1. Hiệu quả đạt được.............................................................................................................48
3.1.2. Những vấn đề còn tồn tại..................................................................................................48
3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện tiền lương tối thiểu ở Việt Nam..................................53
3.2.1. Mục tiêu và yêu cầu của tiền lương tối thiểu trong giai đoạn hiện nay
và Nhà nước Việt Nam.
Trước tình hình ấy, để phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội trong nước
và tình hình chung của thế giới, Đảng và Nhà nước đã không ngừng thay đổi và
ban hành mới các quy định về tiền lương tối thiểu. Có thể nói, tiền lương tối
thiểu là một trong những vấn đề quan trọng được các ngành, các cấp, đoàn thể,
3
người lao động và người sử dụng lao động trong cả nước quan tâm. Một chính
sách tiền lương tối thiểu hợp lý sẽ là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của
nền kinh tế đất nước, cũng như tiến trình hội nhập. Vì lý do đó, em chọn đề tài
“Tiền lương tối thiểu - một số vấn đề lý luận và thực tiễn” cho khoá luận tốt
nghiệp của mình.
Khoá luận của em gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tiền lương tối thiểu.
Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam về tiền lương tối thiểu.
Chương 3: Thực tiễn thực hiện và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện tiền
lương tối thiểu ở Việt Nam.
Chương 1
4
Một số vấn đề lý luận về tiền lương tối thiểu
1.1. Khái niệm
Tiền lương có vai trò rất lớn đối với toàn xã hội, nó luôn gắn với người
lao động là nguồn sống chủ yếu của người lao động và gia đình họ. Tiền lương
là thước đo giá trị sức lao động của người lao động đồng thời cũng là công cụ,
phương tiện cho người sử dụng lao động dùng để kích thích người lao động
nâng cao năng lực làm việc của mình, phát huy khả năng thúc đẩy phát triển
kinh tế. Bên cạnh đó, tiền lương còn có tác động tích cực đến quản lý kinh tế,
quản lý lao động, kích thích sản xuất.
Tiền lương không chỉ là phạm trù kinh tế mà còn là yếu tố hàng đầu của
các chính sách xã hội liên quan trực tiếp đến đời sống xã hội. Có thể xem xét
khái niệm tiền lương dưới nhiều góc độ.
ứng là: ăn, ở, mặc, nhu cầu bảo vệ sức khoẻ và duy trì giống nòi. Ngoài ra còn
có những nhu cầu xã hội khác như: học tập, giải trí, giao tiếp, đi lại… Tuỳ
thuộc vào hoàn cảnh cụ thể mà nhu cầu của mỗi cá nhân có sự khác nhau. Tuy
nhiên, để có thể duy trì cuộc sống thì con người cần phải có đủ điều kiện sinh
hoạt ở mức tối thiểu, hay nói cách khác đấy là mức sống tối thiểu của mỗi
người. ở mỗi thời kỳ khác nhau, mức sống tối thiểu lại khác nhau. Mức sống tối
thiểu là mức độ thoả mãn những nhu cầu tối thiểu của người lao động bao gồm
cơ cấu chủng loại các tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất sức lao động
giản đơn. Mức sống tối thiểu của người lao động có liên quan chặt chẽ tới tiền
lương tối thiểu, và nó được đảm bảo thông qua tiền lương tối thiểu và các phúc
lợi công cộng.
Vậy tiền lương tối thiểu là gì?
Trước hết có thể hiểu: tiền lương tối thiểu chính là mức lương thấp nhất
mà người sử dụng lao động phải trả cho người lao động nhằm duy trì cuộc sống
tối thiểu cho bản thân và gia đình người lao động đó. Mức lương tối thiểu chính
là mức lương nền móng được pháp luật quy định và bắt buộc các người sử dụng
lao động phải thực hiện. Các hành vi trả lương cho người lao động cho dù là sự
6
1
Xem: Điều 1 Công ước số 95 năm 1949 về bảo vệ tiền lương.
2
Xem: Điều 55 Bộ luật lao động sửa đổi bổ sung 2006.
thoả thuận của hai bên mà thấp hơn mức lương tối thiểu sẽ bị coi là bất hợp
pháp và phải chịu một chế tài tương ứng.
Theo quy định của Tổ chức lao động quốc tế, thì “Các mức lương tối
thiểu được ấn định là bắt buộc với người sử dụng lao động và những người lao
động hữu quan, mức lương tối thiểu đó không thể bị hạ thấp bởi những người
sử dụng lao động và những người lao động hữu quan dù là thoả thuận cá nhân
hay bằng hợp đồng tập thể, trừ phi các nhà chức trách có thẩm quyền cho phép
chung hoặc cho phép đặc biệt.”
Xem: Điều 3 Công ước số 26 năm 1930 về tiền lương tối thiểu.
4
Xem: Khoản 1 Điều 2 Công ước số 131 Năm 1972 về ấn định đặc biệt đối với các nước đang phát triển
5
Xem: Điều 56 Bộ luật lao động đã được sửa đổi, bổ sung ngày 02/04/2002.
6
Xem: Phần I Thông tư số 13 /2003/TT- BLĐTB-XH.
* Tiền lương tối thiểu được xác định tương ứng với cường độ lao động
nhẹ nhàng nhất diễn ra trong điều kiện bình thường. Năng suất lao động, sức
khoẻ người lao động và cường độ lao động có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
Cường độ lao động trực tiếp ảnh hưởng tới năng suất lao động và quyết định
sức khoẻ người lao động. Trong thực tế, hiện nay chưa có quy định cụ thể nào
về cường độ lao động khi xác định tiền lương tối thiểu. Việc hiểu “cường độ lao
động nhẹ nhàng nhất” còn rất chung chung và trừu tượng .
Không những tiền lương tối thiểu được xác định tương ứng với “cường
độ lao động nhẹ nhàng nhất mà nó còn được xác định căn cứ điều kiện lao
động, điều kiện lao động bình thường”. Điều kiện lao động được hiểu căn cứ
vào tổ chức công việc, ngành nghề, điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội. Điều
kiện lao động bình thường chính là điều kiện lao động của một công việc không
có tính chất khó nhọc trong môi trường tự nhiên bình thường và điều kiện xã
hội ổn định nhất.
* Tiền lương tối thiểu phải đảm bảo nhu cầu tiêu dùng ở mức độ tối thiểu
cần thiết. Mục đích của lao động là nhằm đảm bảo nhu cầu tồn tại của bản thân
và gia đình của người lao động. Đó là nhu cầu tiêu dùng ở mức độ tối thiểu về
vật chất và tinh thần để tồn tại và làm việc.
Bản chất của tiền lương là giá cả sức lao động dưới sự tác động của các
quy luật cung - cầu trong nền kinh tế. Mục đích của tiền lương nhằm bù đắp hao
phí sức lao động thông qua việc thoả mãn các nhu cầu sinh hoạt và tiêu dùng
của con người: ăn, ở, mặc, học tập, sức khoẻ và những nhu cầu khác. Tuy
nhiên, tiền lương tối thiểu chỉ đáp ứng nhu cầu của người lao động và người
Như vậy, để đảm bảo cân bằng quyền lợi giữa các bên trong quan hệ lao
động và sự công bằng xã hội, mà vẫn đảm bảo nhu cầu sống tối thiểu của người
lao động và gia đình họ, thì nhu cầu tiêu dùng xác định trong tiền lương tối
thiểu tương ứng với giá tư liệu sinh hoạt chủ yếu ở vùng có mức giá trung bình.
1.1.2. Bản chất của tiền lương tối thiểu
9
Tiền lương trong sản xuất kinh doanh là yếu tố được tính vào chi phí sản
xuất. Nó phụ thuộc vào quan hệ cung - cầu lao động trên thị trường, giá cả sinh
hoạt, tập quán tiêu dùng và hiệu quả kinh doanh của từng ngành, từng doanh
nghiệp.
Về bản chất, tiền lương là giá cả sức lao động được hình thành trên cơ
sở giá trị sức lao động, thông qua sự thoả thuận giữa người có sức lao động và
người thuê mướn, sử dụng sức lao động, đồng thời chịu sự chi phối của các quy
luật kinh tế trong đó có quy luật cung - cầu. Trong đó giá trị sức lao động là
toàn bộ những chi phí về ăn, ở, đi lại, nhằm bù đắp một lượng nhất định những
hao phí sức lao động: cơ bắp, trí tuệ, thần kinh, để duy trì sức khoẻ của bản thân
người lao động trong trạng thái bình thường và tái sản xuất sức lao động cả về
lượng và chất.
Tiền lương tối thiểu là một bộ phận cấu thành tiền lương. Về bản chất
tiền lương tối thiểu là giá cả sức lao động được hình thành trên cơ sở giá trị sức
lao động. Tuy nhiên giá cả sức lao động ở đây được hiểu là giá cả thấp nhất của
hàng hoá sức lao động. Tiền lương tối thiểu không chỉ được áp dụng cho lao
động giản đơn mà là khung pháp lý quan trọng do Nhà nước quy định, mang
tính chất bắt buộc người sử dụng lao động phải trả thấp nhất là bằng chứ không
được thấp hơn mức Nhà nước ấn định. Tiền lương tối thiểu được quy định phù
hợp điều kiện kinh tế - xã hội từng thời kỳ nhằm bảo vệ người lao động. Như
vậy tiền lương tối thiểu không phụ thuộc sự thoả thuận của hai bên trong quan
hệ lao động mà được quyết định bởi quyền lực nhà nước, tuy nhiên Nhà nước
luôn khuyến khích người sử dụng lao động áp dụng mức lương tối thiểu cho
người lao động cao hơn mức Nhà nước quy định.
- Tiền lương tối thiểu là sự đảm bảo có tính pháp lý của Nhà nước đối với
người lao động trong mọi ngành nghề, khu vực có tồn tại quan hệ lao động,
đảm bảo đời sống tối thiểu cho họ phù hợp với khả năng của nền kinh tế.
11
- Xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ người lao động khi tham gia quan hệ lao
động, Nhà nước quy định tiền lương tối thiểu như là một sự đảm bảo về mặt
pháp lý đối với người lao động.
Trong quan hệ lao động, người lao động phải bỏ ra một lượng sức lực
nhất định để tạo ra giá trị thặng dư và nhận một khoản tiền công do người sử
dụng lao động trả. Trên cơ sở giá trị sử dụng của mình, với khoản tiền lương đó,
người lao động mới có thể duy trì được cuộc sống của bản thân và gia đình.
Tiền lương tối thiểu là khoản tiền đáp ứng nhu cầu tối thiểu nhất cho người lao
động. Khi xác định tiền lương tối thiểu, Nhà nước đã căn cứ vào những thoả
thuận của người lao động phù hợp với trên cơ sở nền kinh tế của đất nước, do
đó tiền lương tối thiểu luôn đảm bảo cho người lao động có cuộc sống phù hợp
với điều kiện kinh tế - xã hội ở từng thời kỳ.
- Tiền lương tối thiểu còn là công cụ điều tiết của Nhà nước trên phạm vi
toàn xã hội và trong từng cơ sở kinh tế.
- Tiền lương tối thiểu loại bỏ sự bóc lột có thể xảy ra đối với người làm
công ăn lương trước sức ép của thị trường. Trong điều kiện nền kinh tế thị
trường, sức lao động được coi là một loại hàng hoá và cũng được tự do mua bán
theo thoả thuận của người lao động và người sử dụng lao động. Hiện nay, tình
trạng thất nghiệp còn cao, cung lao động nhiều hơn cầu lao động, là điều kiện
để người sử dụng lao động có cơ sở gây sức ép với người lao động, trả cho họ
một mức lương thấp hơn mức lương họ đáng được hưởng. Việc quy định tiền
lương tối thiểu giới hạn rõ hành vi của người sử dụng lao động trong việc trả
lương, bảo đảm sự cân bằng và bảo vệ người lao động khỏi sự bóc lột trước sức
ép của thị trường.
Tiền lương tối thiểu bảo vệ sức mua cho các mức tiền lương trước sự gia
tăng của lạm phát và các yếu tố kinh tế khác.
7
Từ đó, có thể thấy việc xác định tiền lương tối thiểu phải dựa trên các cơ
sở sau:
+ Nhu cầu của người lao động
13
Tiền lương tối thiểu phải đảm bảo nhu cầu tiêu dùng tối thiểu cho bản
thân người lao động (trong đó có quyền nuôi con). Mục đích của tiền lương tối
thiểu là đảm bảo cho người lao động có thể duy trì cuộc sống của mình và tiếp
tục tái sản xuất sức lao động. Ngoài ra, tiền lương tối thiểu còn được người lao
động sử dụng để nuôi con. Vì vậy, việc xác định tiền lương tối thiểu phải trên
cơ sở các nhu cầu tiêu dùng tối thiểu cho bản thân và gia đình người lao động.
+ Yếu tố kinh tế xã hội
Việc xác định tiền lương tối thiểu cũng phải căn cứ trên cơ sở nền kinh
tế xã hội từng thời kỳ, bao gồm:
- Cơ sở tiền công trung bình cho người lao động trên thị trường lao
động.
- Cơ sở khả năng chi trả của doanh nghiệp, cơ sở xác định này nhằm
không những bảo vệ quyền lợi người lao động mà còn đảm bảo cho quyền lợi
hợp pháp của người sử dụng lao động.
- Cơ sở khả năng chi trả của nền kinh tế và quỹ tiêu dùng dân cư.
- Cơ sở tốc độ trượt giá so với lúc thiết kế tiền lương trước đây.
1.1.5. Phương pháp xác định tiền lương tối thiểu
Mức lương tối thiểu phải đảm bảo tính hợp lý. Bởi nếu tiền lương tối
thiểu quá cao sẽ dẫn đến tình trạng người lao động mất việc làm và thất nghiệp
vì doanh nghiệp sa thải công nhân, thay thế lao động bằng máy móc tiết kiệm
lao động hoặc giải thể. Còn nếu quá thấp thì dẫn đến tình trạng thiếu lao động,
người lao động, thiếu động lực làm việc… Do đó việc xác định mức lương tối
thiểu phải bằng các phương pháp có cơ sở khoa học, cụ thể như sau:
Phương pháp xác định tiền lương tối thiểu căn cứ vào nhu cầu của người
lao động và gia đình họ.
Cơ thể người phụ nữ và nam giới khác nhau cho nên nhu cầu năng
lượng khác nhau. Thông thường, mức nhu cầu năng lượng của người nữ bằng
khoảng 90% nhu cầu năng lượng của nam. Năng lượng nhu cầu của trẻ em từ 5
đến 6 tuổi bằng 60% mức nhu cầu ăn trung bình của một người lớn.
- Xác định nhu cầu về mặc.
15
+ Nhu cầu về mặc bao gồm: quần áo, giày, dép… ở mức tối thiểu đủ để
sử dụng, mức về mùa hè và đủ ấm về mùa đông, để che mưa, nắng giản đơn khi
hoạt động lao động ngoài trời phù hợp với thời gian sinh hoạt và đòi hỏi xã hội.
Đó là cơ sở chủ yếu để xác định nhu cầu tối thiểu về mặc.
+ Nhu cầu tối thiểu về nhà ở.
Nhà ở phải đủ diện tích cho lao động và gia đình có thể tiến hành sinh
hoạt ở mức tối thiểu, đảm bảo che chở cho họ khỏi mưa, nắng. Hiện nay, nhu
cầu tối thiểu về nhà ở được xác định: Diện tích: 14m
2
, diện tích phụ: 4m
2
, loại
nhà ở: nhà cấp 4.
+ Nhu cầu trong thiết bị sinh hoạt.
Để đảm bảo cuộc sống, bao giờ cũng cần tới một lượng nhất định các
dụng cụ đồ dùng ở mức tối thiểu gồm: Giường, chiếu, chăn, màn, bàn ghế, bát,
đĩa, ấm, chén, xoong, nồi và các nhu cầu về điện, nước.
+ Nhu cầu tối thiểu về đi lại.
Nhu cầu về đi lại bao gồm: đi lại thường xuyên và không thường xuyên.
Phương tiện đi lại, chi phí sửa chữa, thay thế và các chi phí khác có liên quan.
+ Nhu cầu tối thiểu về học tập.
Nhu cầu tối thiểu về học tập đảm bảo cho người lao động và con cái họ
có điều kiện học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ, sự hiểu biết, đáp ứng đòi hỏi
tối thiểu về trí thức, về trình độ chuyên môn không bị lạc hậu so với sự phát
o
là thu nhập quốc dân bình quân đầu người ở năm to.
- e là mức phát triển thu nhập quốc dân bình quân hàng năm.
Gọi mức tiêu dùng bình quân đầu người ở năm t là M
t
và tỷ lệ giữa quỹ
tiêu dùng với thu nhập quốc dân là h, ta có:
M
t
= I
t
xh
+ Xác định mức tiêu dùng tối thiểu.
Căn cứ xác định mức tiêu dùng tối thiểu là mức tiêu dùng bình quân và
hệ số chênh lệnh giữa các mức tiêu dùng bình quân và mức tiêu dùng tối thiểu.
Gọi hệ số chênh lệnh giữa mức tiêu dùng bình quân và mức tiêu dùng
tối thiểu là K
1
, ta có: mức tiêu dùng bình quân đầu người ở mức tối thiểu được
tính theo công chức.
M
mm
t
= M
t
/K
1
.
17
Trong đó: M
a. Tiền lương tối thiểu chung
Tiền lương tối thiểu chung là mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định
áp dụng chung cho người lao động làm việc trong mọi ngành nghề, mọi khu
vực trong cả nước.
18
Tiền lương tối thiểu chung là loại tiền lương phổ cập được áp dụng thống
nhất trên toàn lãnh thổ quốc gia, không phân biệt vùng, ngành kinh tế cũng như
quan hệ lao động. Mọi mức lương kể cả mức lương tối thiểu khác cũng không
được thấp hơn mức lương tối thiểu chung. Nói cách khác, lương tối thiểu chung
phải đảm bảo là “lưới an toàn chung”, là nền thấp nhất để trả công cho lao động
xã hội, là cơ sở để xây dựng hệ thống thang lương, bảng lương và các loại tiền
tối thiểu khác.
Việc tính toán tiền lương tối thiểu chung dựa trên nhiều căn cứ khác
nhau, bao gồm các nhu cầu tối thiểu của người lao động và gia đình họ, mức
sống chung đạt được và sự phân cực giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội, khả
năng chi trả của các cơ sản xuất kinh doanh hay mức tiền lương, tiền công đạt
trong từng lĩnh vực ngành nghề, khả năng phát triển kinh tế của đất nước, mục
tiêu và nội dung cơ bản của các chính sách lao động trong từng thời kỳ. Trong
quá trình xác định tiền lương tối thiểu chung phải tính đến chênh lệch mức sống
giữa các vùng, các ngành nghề khác nhau, khả năng chi trả của người sử dụng
lao động, các mục tiêu phát triển và tăng trưởng kinh tế của đất nước trong thời
kỳ tiếp theo.
b. Tiền lương tối thiểu theo ngành
Tiền lương tối thiểu theo ngành là loại tiền lương tối thiểu do Nhà nước
quy định để áp dụng cho người lao động trong một ngành hoặc một nhóm ngành
có tính chất kỹ thuật tương đồng trên cơ sở tiền lương tối thiểu chung và có tính
đến các yếu tố lao động đặc thù của từng ngành nghề đó sao cho tiền lương tối
thiểu theo ngành ít nhất cũng phải bằng hoặc phải cao hơn tiền lương tối thiểu
chung.
Trên thực tế, các ngành nghề khác nhau thì có những yếu tố đặc trưng
kinh tế, chính trị đặc biệt hơn để đảm bảo cuộc sống tối thiểu của người lao
động mà còn góp phần điều tiết cung- cầu lao động, nâng cao hiệu quả sử dụng
lao động, tạo ra dòng di chuyển lao động và dân cư hợp lý giữa các vùng, góp
20
phần điều chỉnh tỷ lệ thất nghiệp giữa các vùng. Đồng thời nó còn tiến tới hoàn
thiện hệ thống trả công lao động, loại bỏ một số phụ cấp trong tiền lương như
phụ cấp khu vực, phụ cấp thu hút lao động.
Việc xây dựng các mức tiền lương tối thiểu theo từng vùng là rất phức
tạp bởi nó vừa trên cơ sở tiền lương tối thiểu chung sao cho tiền lương tối thiểu
chung phải nhỏ hơn hoặc bằng tiền lương tối thiểu vùng, đặc biệt vừa trên cơ sở
các chỉ số chênh lệch giữa các vùng như: chênh lệch về thu nhập và mức chi
tiêu bình quân giữa các vùng, chênh lệch về chỉ số phát triển con người giữa các
vùng và quan hệ cung cầu giữa các vùng.
ở nước ta, chính sách áp dụng tiền lương tối thiểu vùng mới được thực
hiện từ tháng 1 năm 2008 với việc Chính phủ ban hành Nghị định số
167/2007/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu vùng. Đây là một sự thay đổi
lớn trong việc chúng ta đang hoàn thiện chính sách tiền lương tối thiểu theo
hướng quốc tế hóa, phù hợp hơn với yêu cầu chung trong xu thế hội nhập. d. Tiền lương tối thiểu trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
Đây là loại tiền lương tối thiểu đặc biệt bởi nó chỉ áp dụng trong các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các cơ quan, tổ chức nước ngoài
hoặc quốc tế đóng tại Việt Nam có thuê mướn lao động là người Việt Nam.
Việc quy định một mức lương tối thiểu riêng cho các đối tượng này xuất
phát từ thực tế hiện nay, các quan hệ lao động trong khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài đòi hỏi chế độ lao động và chi phí lao động cao hơn so với các quan
hệ lao động khác. Đồng thời, do cách thức tổ chức, quản lý lao động và việc áp
dụng khoa học công nghệ tiên tiến mà năng suất, chất lượng và hiệu quả lao
động ở đây cũng cao hơn so với các quan hệ lao động khác trong xã hội, do đó
sức lao động. Người sử dụng lao động trong mọi trường hợp phải tiến hành trả
22
8
Xem: Điều 56 Bộ luật lao động đã được sửa đổi, bổ sung ngày 02/04/2002.
lương cho người lao động ở “ngưỡng” đó, nghĩa là không được thấp hơn tiền
lương tối thiểu. Tuy nhiên, “Tùy theo điều kiện và khả năng hoạt động kinh
doanh, cho phép doanh nghiệp, cơ quan áp dụng mức lương tối thiểu cao hơn
mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định để làm căn cứ trả lương cho người
lao động.”
9
Quy định này là phù hợp với yêu cầu thực tiễn, bởi mỗi doanh
nghiệp đều có khả năng riêng, đồng thời chính sách tiền lương cũng là công cụ
hữu hiệu để các doanh nghiệp thu hút lao động khi cần thiết, đồng thời đó cũng
là cách Nhà nước tôn trọng và khuyến khích sự thỏa thuận hợp pháp giữa hai
bên trên tinh thần tự nguyện.
Chương 2
Quy định của pháp luật việt nam về tiền lương tối thiểu
2.1. Lịch sử quy định về tiền lương tối thiểu ở Việt Nam
2.1.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1960
Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc
bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Để xây
dựng, củng cố chính quyền non trẻ và điều hành đất nước, Hồ Chủ tịch đã ký
Sắc lệnh số 10-SL về việc tạm thời áp dụng các văn bản pháp luật của chế độ cũ
để lại miễn là không trái với bản chất của chế độ XHCN. Các văn bản đó chưa
có quy định về tiền lương tối thiểu. Với bản chất là nhà nước của dân, do dân và
23
9
Xem: Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 114/2002/NĐCP ngày 31/12/2002 của Chính phủ quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của bộ luật lao động về tiền lương.
vì dân nên bảo vệ người lao động là vấn đề được quan tâm hàng đầu. Nhận thức
coi lương bậc một của ngành là mức lương tối thiểu.
2.1.3. Giai đọan từ năm 1985 đến năm 1992
Với chủ trương chuyển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh
tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng XHCN, tự do kinh
doanh đã trở thành nguyên tắc hiến định trong đường lối quản lý kinh tế của đất
nước. Yêu cầu phải tạo ra một khuôn khổ pháp luật để giới hạn hành vi của các
cá nhân, tổ chức khi tham gia quan hệ pháp luật ở mọi lĩnh vực trong đó có vấn
đề trả lương cho người lao động. Tiền lương tối thiểu sau một thời gian dài
không cần thiết tồn tại nay lại xuất hiện trong pháp luật lao động Việt Nam với
đầy đủ ý nghĩa của nó được quy định trong Nghị định số 35/NĐ-HĐBT ngày
18/09/1985 về cải tiến chế độ tiền lương của công nhân, viên chức và các lực
lượng vũ trang. Theo đó, mức lương tối thiểu là 220 đồng/tháng.
Nghị định số 235-HĐBT ngày 18/09/1985 ra đời, cuộc sống của người
lao động đã được cải thiện đáng kể. Tính đến tháng 9/1985, tiền lương của
người lao động tăng 64%. Nhưng với nền kinh tế khó khăn, tổng thu nhập quốc
dân tính trên đầu người thấp, tình trạng lạm phát đã làm cho giá trị của đồng
lương sút giảm nhanh chóng và lương không đánh giá đúng giá trị thực tế sức
lao động của người lao động. Mặt khác, tới năm 1986, cuộc đổi mới toàn diện
đất nước do Đại hội lần VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đề xướng đòi hỏi tiền
lương tối thiểu phải có sự thay đổi để phù hợp với thực tế.
Ngày 28/12/1988, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 202-HĐBT về
tiền lương công nhân, viên chức sản xuất kinh doanh khu vực quốc doanh và
công tư hợp doanh và Quyết định số 203-HĐBT về tiền lương công nhân, viên
chức hành chính sự nghiệp, lực lượng vũ trang và các đối tượng hưởng chính
sách xã hội. Theo đó, tiền lương tối thiểu là 22.500 đồng/tháng.
Năm 1987, Quốc hội thông qua Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Từ
đó nước ta xuất hiện thêm một thành phần kinh tế đó là kinh tế có vốn đầu tư
25