THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHO HOẠT ĐỘNG BÁN HÀNG RONG TẠI HÀ NỘI HIỆN NAY - Pdf 23


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
---------o0o--------- Công trình dự thi Cuộc thi
Sinh viên nghiên cứu khoa học trƣờng Đại học Ngoại thƣơng 2010

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHO HOẠT ĐỘNG
BÁN HÀNG RONG TẠI HÀ NỘI HIỆN NAY

Nhóm ngành: XH2b

Hà Nội, tháng 7 năm 2010
Hà Nội, tháng 7 năm 2010 1

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU _____________________________________________________ 4

Hàng hóa không đảm bảo chất lƣợng và nguồn gốc xuất xứ ________________ 46
Ô nhiễm môi trƣờng _______________________________________________ 48
Tạo điều kiện hối lộ, tham ô trong bộ máy quản lý _______________________ 49
Kẽ hở cho vi phạm nhân quyền ______________________________________ 50
3.2.3. ế ______________________________________ 51
Gây thất thoát về thuế, phí __________________________________________ 51
Giảm thu nhập của các ngành kinh tế liên quan __________________________ 52
4. Nguyên nhân những tồn tại trong hoạt động bán hàng rong tại Hà Nội _________ 53
4.1. Chính sách trợ cấp và phúc lợi xã hội chƣa thỏa đáng ___________________ 54
4.2. Những bất cập trong văn bản luật và thực thi văn bản luật ________________ 55
4.3. Ý thức của ngƣời bán hàng rong ____________________________________ 57
4.4. Ý thức của ngƣời mua hàng ________________________________________ 58
CHƢƠNG III: GIẢI PHÁP CHO HOẠT ĐỘNG BÁN HÀNG RONG TẠI HÀ NỘI _ 59
1. Định hƣớng tổ chức, quản lý hoạt động bán hàng rong tại Hà Nội ____________ 59
1.1. Đƣa hoạt động bán hàng rong vào hệ thống và có tổ chức ________________ 60
1.2. Liên hệ chặt chẽ giữa chính quyền, ngƣời bán hàng và ngƣời tiêu dùng _____ 61
1.3. Nâng cao dân trí cộng đồng và ngƣời bán rong _________________________ 62
2. Giải pháp _____________________________________________________ 62
2.1. Từ phía Chính quyền và các cơ quan chức năng ________________________ 63
2.1.1. Hoàn thiện văn bản luật _______________________________________ 63
2.1.2. Tạo công ăn việc làm cho ngƣời dân chuyển đổi nghề nghiệp __________ 65
2.1.3. Nâng cao chất lƣợng cán bộ quản lý ______________________________ 66 3

2.1.4. Hình thành những khu phố bán hàng rong tập trung, khu phố du lịch kết hợp
xây dựng hệ thống kiểm tra chất lƣợng, nguồn gốc chất lƣợng hàng hóa bán rong
________________________________________________________________ 67
2.1.5. Thu thuế, phí của những ngƣời bán hàng rong ______________________ 69

đến nay vẫn chƣa đem lại nhiều hiệu quả. Hàng rong tại Hà Nội vẫn nằm tromg
tình trạng quản lý thiếu hệ thống, nhiều tiêu cực nhƣ tham ô, hối lộ, tạo ra lỗ
hổng trong nền kinh tế.
Mâu thuẫn giữa mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và vấn đề giữ gìn
bản sắc dân tộc, không gây ảnh hƣởng lớn tới đời sống ngƣời dân luôn là bài
toán khó cho công tác phát triển đô thị. Hà Nội, thủ đô, trung tâm kinh tế, văn
hóa, chính trị của cả nƣớc cũng phải đối mặt với bài toán hƣớng đi cho hoạt
động bán hàng rong. Năm 2010 đánh dấu đại lễ chào mừng 1000 năm Thăng
Long Hà Nội, việc nghiên cứu vấn đề xã hôi này càng có ý nghĩa hơn. Bởi lẽ
nhiệm vụ đặt ra không chỉ là giải quyết vấn đề hàng rong một cách hợp tình hợp
lý mà còn phải tạo dựng bộ mặt văn minh cho thủ đô.
Với những lý do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn và nghiên cứu đề tài:
“Thực trạng và giải pháp cho hoạt động bán hàng rong tại Hà Nội hiện nay”. Từ 5

những phân tích về vai trò, tác động, thực trạng hoạt động bán hàng rong,
chúng tôi đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển đô thị thủ đô.
1. Đối tượng nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là hoạt động bán hàng rong tại Hà
Nội trong thời gian gần đây. Đề tài tập trung vào hai mục tiêu chính: Thứ
nhất là phân tích, đánh giá tác động của hoạt động bán hàng rong tới các
mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, thứ hai là tìm ra các giải pháp và hƣớng đi
cho hoạt động bán hảng rong.
2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu mang tính ứng dụng giả quyết các vấn đề kinh tế
xã hội, vì vậy, để đạt đƣợc hiệu quả cao và tận dụng đƣợc tính ƣu việt của
các phƣơng pháp nghiên cứu, chúng tôi sử dụng nhiều phƣơng pháp
nghiên cứu khác nhau, cụ thể: Phƣơng pháp chủ yếu là điều tra, quan sát,

2. Thực trạng hoạt động bán hàng rong tại Hà Nội từ 1989 đến nay
3. Tác động của hoạt động bán hàng rong tại Hà Nội
4. Nguyên nhân của những tồn tại trong hoạt động bán hàng rong tại Hà Nội
Chương III. Giải pháp cho hoạt động bán hàng rong tại Hà Nội
1. Định hƣớng tổ chức, quản lý hoạt động bán hàng rong tại Hà Nội 7

2. Giải pháp 8

CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG BÁN HÀNG RONG
TẠI VIỆT NAM
1. Các khái niệm
Tại điều 2, Quy định số 46/2009/QĐ-UBND “Quy định về quản lý hoạt
động bán hàng rong trên địa bàn thành phố Hà Nội” đã nêu rõ: “Người bán hàng
rong là cá nhân hoạt động thƣơng mại một cách độc lập, thƣờng xuyên, không
phải đăng ký kinh doanh, không có địa điểm kinh doanh cố định và không gọi là
"thƣơng nhân" theo quy định của Luật Thƣơng mại.”
Theo đó, cá nhân hoạt động thƣơng mại là cá nhân tự mình hàng ngày
thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động đƣợc pháp luật cho phép về
mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi
khác nhƣng không thuộc đối tƣợng phải đăng ký kinh doanh theo quy định của
pháp luật về đăng ký kinh doanh và không gọi là “thƣơng nhân” theo quy định
của Luật Thƣơng mại.
Quy định về hàng rong, Điều 5, Nghị định số 39/2007/NĐ-Cp quy định:
các cá nhân hoạt động thƣơng mại đƣợc phép kinh doanh các loại hàng hóa, dịch

f) Các hoạt động thƣơng mại một cách độc lập, thƣờng xuyên không phải
đăng ký kinh doanh khác. 10

3.
Bán hàng rong không phải là một hoạt động kinh doanh mới mẻ và xa lại
với các quốc gia trên thế giới, thậm chí bán hàng rong còn đƣợc coi nhƣ là một
nét văn hóa lâu đời tại một số khu vực nhƣ Thái Lan, Việt Nam, Singapore, Ấn
Độ…Nghiên cứu hoạt động bán hàng rong, sẽ là thiếu sót nếu không nhìn nhận
hoạt động bán hàng rong trên góc độ của các thành phố ở các quốc gia khác
nhau từ đó có cái nhìn toàn cảnh hơn về thực trạng phát triển của loại hình kinh
doanh này.
3.1. Bán hàng rong tại Singapore
Singapore, quốc đảo sƣ tử vốn đƣợc biết đến là một quốc gia văn minh và
sạch sẽ bậc nhất trên thế giới cũng đã từng đối mặt với những ảnh hƣởng không
nhỏ của hoạt động bán hàng rong. Một số ngƣời đã nhận ra một bức gƣơng phản
chiếu giữa một Hà Nội, một thành phố Hồ Chí Minh ngày nay với một
Singapore ngày trƣớc, đây là lí do mặc dù trình độ phát triển chênh lệch của
Singapore và Viêt Nam, chúng tôi vẫn tìm đến Singapore nhƣ một mảnh ghép
hoàn thiện bức tranh bán hàng rong.
Singapore ngay từ đầu đã đánh giá cao sự đóng góp của hàng rong vào
nền kinh tế của nƣớc này. Hàng rong giữ vai trò ngƣời cung cấp các nhu yếu
phẩm, kể cả các bữa ăn hàng ngày cho những ngƣời có thu nhập thấp đồng thời
cũng đã giữ cho giá sinh hoạt của thành phố không tăng cao. Nhằm giải quyết
tình trạng ngƣời bán hàng rong chiếm lĩnh khắp các đƣờng phố, thay vì loại bỏ
loại hình kinh doanh này, từ đầu những năm 80 của thế kỷ 20, Singapre đã có kế
hoạch điều chỉnh hệ thống quản lý hàng rong. Một trong những giải pháp đƣợc
Chính phủ Singapore đƣa ra là thực hiện chƣơng trình xây dựng các khu trung


1
Street vendors in Asia: A review Sharit K Bhowmik
2
Sampling Singapore street fare at Whole foods, Rosemary Black, Daily news 12

phát triển tính điểm nghiêm ngặt, yêu cầu những ngƣời bán hàng phải đặt các
bảng điểm này trƣớc các gian hàng của mình và tiến hành kiểm tra thƣờng
xuyên. Hiện nay, ƣớc tính Singapore có khoảng 25.000 gian hàng nhƣ vậy.
Thành phần của những ngƣời bán hàng rong tại Singapore đã thay đổi
đáng kể trong thời gian qua với sự nổi lên của nhữn ngƣời trẻ tuổi, đƣợc đào tạo
học vấn. Thay đổi này đƣợc cho là do sự gia tăng tỷ lệ thất nghiệp đã đẩy xấp xỉ
13.000 sinh viên tốt nghiệp vào tình trạng không có việc làm và rất nhiều trong
số đó đã đi bán hàng rong.
Singapore đã chứng minh rằng không thể làm sạch đƣờng phố chỉ bằng
cách di rời những ngƣời bán hàng rong trái phép, việc quản lý hoạt động bán
hàng rong chỉ đƣợc thực hiện hiệu quả khi đã tạo ra đƣợc nhiều việc làm thay
thế cho những ngƣời bán hàng rong. Đồng thời thực hiện chế độ quản lý
nghiêm, áp dùng hình phạt hành chính đối với những hành vi vi phạm luật kinh
doanh, lấn chiếm lề đƣờng hoặc không có giấy phép đăng lý kinh doanh.
3.2. Bán hàng rong tại Ấn Độ
Trong số các quốc gia châu Á thì Ấn Độ là một nƣớc có nhiều điểm tƣơng
đồng với Việt Nam. Cùng là những quốc gia đang phát triển với nền văn hóa
phong phú, Ấn Độ cũng đang phát triển mạnh mẽ với những cải cách lớn về cả
kinh tế và xã hội. Cũng giống nhƣ tại Việt Nam, hoạt động bán hàng rong đã
hình thành khá lâu tại Ấn độ. Số lƣợng ngƣời bán hàng rong chiếm tới 2% dân
số và thu nhập của họ đóng góp không nhỏ vào GDP của hàng năm của nƣớc

góp một phần không nhỏ vào sự tăng trƣởng của nền kinh tế Ấn Độ đồng

3
Theo số liệu từ: - Saving the street vendors of 'Incredible
India'
14

thời nó cũng cung cấp một số lƣợng công ăn việc làm cho khá nhiều ngƣời thất
nghiệp trong nƣớc.
Với đặc trƣng của nền kinh tế, hàng rong Ấn Độ cũng đã trải qua những
những giai đoạn giống nhƣ tại Việt Nam trƣớc khi đƣợc nhìn nhận là đã góp
góp phần vào sự phát triển của kinh tế địa phƣơng và sự giàu có của các đô thị.
Tuy nhiên, bên cạnh các mặt tích cực của nó thì vấn đề bán hàng rong tại Ấn Độ
cũng tồn tại nhiều điểm bất cập. Vì vậy đây cũng là một vấn đề gây ra không ít
tranh cãi cho các nhà quản lý Ấn Độ. Hiện tƣợng bán hàng không có tổ chức,
tràn lan, gây mất trật tự là điều không hề hiếm thấy. Tệ nạn xã hội và những vấn
đề đạo đức phát sinh. Điều đó yêu cầu có sự can thiệp của nhà nƣớc. Tuy nhiên,
một mặt những ngƣời bán hàng rong phải tự thu xếp địa điểm, một mặt, họ đƣa
hối lộ cho những cán bộ hay cảnh sát tham nhũng. Điều này càng làm cho quản
lý của Nhà Nƣớc mất hiệu quả và trở nên khó khăn hơn.
Những giải pháp mà các nhà quản lý đƣa ra đầu tiên đó là cung cấp giấy
phép bán hàng cho những ngƣời bán hàng rong. Ông Deshpande, Giám đốc
Viện nghiên cứu thay đổi kinh tế và xã hội (ISEC), cho biết “Họ đƣợc công
nhận quyền bán hàng và có quyền kinh doanh tại những khu vực nhất định. Tất
cả đều nằm trong quản lý của chính quyền”. Chính phủ Ấn Độ cũng ban hành
nhiều quy định trong đó thừa nhận những ngƣời bán hàng rong đã “cung cấp
thực phẩm cơ bản cho ngƣời dân với giá cả hợp lý và địa điểm bán thuận tiện

phi chính thức mà một trong số đó là hàng rong. Những đối tƣợng bán hàng
rong bao gồm những ngƣời dân nông thôn nghèo, thiếu kỹ năng làm việc cần
thiết ở các quốc gia châu Á nhƣ Bangladesh, Nepal, Campuchia, Việt Nam… 16

hoặc những công nhân bị mất việc do doanh nghiệp kinh doanh kiểu cũ bị phá
sản, sáp nhập tập trung nhiều tại Philippine, Triều Tiên, Thái Lan, Malaysia,
Indonesia hay Ấn Độ. Họ phải tìm các công việc trả lƣơng thấp trong khu vực
phi chính thức đê tồn tại.

4
Tại Bangladesh, số lƣợng ngƣời bán hàng rong rất lớn. Theo nhƣ số liêu
thống kê, có khoảng 90.000 ngƣời bán rong và bán hàng rong vẫn bị coi là một
hình thức kinh doanh trái phép, luôn đối mặt với sự phản đối của các nhà chức
trách. Họ phải chi một khoản lớn trong thu nhập của mình để hối lộ nhằm đƣợc
phép tiếp tục kinh doanh.

5
Hàng rong ở Srilanka có vẻ nhận đƣợc vị trí trong xã hội tốt hơn tại
Bangladesh và Ấn Độ. Hàng rong tại hầu hết khu vực đô thị không phải bị cấm
hoàn toàn, họ có thế bán hàng rong trên vỉa hè nếu họ đóng thuế hàng ngày cho
chính quyền thành phố. Mặc dù đƣợc sự công nhận về mặt pháp luật, những
ngƣời bán hàng rong vẫn bị xua đuổi nếu chính quyền thành phố cảm thấy hoạt
động bán hàng rong gây khó khăn cho cộng đồng chung.
Trong khi đó, bán hàng rong là một trong những đặc điểm dễ nhận thấy
nhất tại Thái Lan. Hầu hết các tuyến phố đều có sự xuất hiện của những ngƣời
bán rong quần áo, đồ điện tử, thực phẩm tƣơi và nấu sẵn. Trên thực tế, hàng
rong tại Thái Lan nổi tiếng không phải vì giá rẻ mà vì chất lƣợng dinh dƣỡng.


6
International status of street hawkers, Report on Stress Hawkers 18

CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG BÁN HÀNG RONG TẠI HÀ NỘI
1. Nguồn pháp lý điều chỉnh hoạt động bán hàng rong tại Việt Nam
1.1. Các văn bản pháp lý hiện hành
Hoạt động bán hàng rong càng phát triển thì những vấn đề liên quan đến
các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội… ngày càng phát sinh. Trƣớc ngày 16/3/2007,
khi chƣa có quy định của chính phủ, bán hàng rong còn chƣa đƣợc công nhận là
một hoạt động thƣơng mại. Nghị định 39/2007/NĐ-CP của chính phủ ra đời,
quy định về cá nhân hoạt động thƣơng mại một cách độc lập, thƣờng xuyên
không phải đăng ký kinh doanh. Theo đó, bán hàng rong đã đƣợc xem xét nhƣ
một loại hình kinh doanh mà những ngƣời bán hàng rong không phải đăng ký
kinh doanh nhƣng vẫn chịu quản lý ở các cấp xã, phƣờng.
Theo Nghị định này, UBND xã, phƣờng, thị trấn lập sổ theo dõi hoạt động
thƣơng mại và việc tuân thủ pháp luật của những ngƣời bán rong, buôn bán vặt,
buôn chuyến, kinh doanh lƣu động tại địa phƣơng và từ nơi khác thƣờng xuyên
lui đến địa bàn. Đồng thời, các cơ quan này sẽ chịu trách nhiệm thông báo với
các cá nhân về các khu vực đƣợc phép buôn bán, thực hiện quy định về thuế và
lệ phí hoạt động thƣơng mại, báo cáo về việc quản lý các cá nhân hoạt động
thƣơng mại trên địa bàn.
Nghị định cũng đã quy định chi tiết về hàng hóa, dịch vụ đƣợc phép kinh
doanh, phạm vi và địa điểm kinh doanh… của cá nhân hoạt động thƣơng mại.
Bên cạnh đó, nghị định cũng yêu cầu bảo đảm an ninh, trật tự, vệ sinh, an toàn
trong hoạt động của cá nhân hoạt động thƣơng mại, trách nhiệm cụ thể của Ủy
ban nhân dân cấp xã, cấp huyện, các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh,

20

đó hƣớng tới trật tự xã hội. Một mặt, những ý kiến phản đối cho rằng cấm hàng
rong là điều không thể và không nên thực hiện mà trƣớc mắt, chỉ nên đƣa hàng
rong vào tổ chức. Bởi đây không chỉ là vấn đề bộ mặt mà là vấn đề kinh tế, văn
hóa liên quan tới hàng triệu ngƣời.
Do điều kiện kinh tế nƣớc ta còn chƣa phát triển, việc bán hàng luật cấm
bán hàng rong trên nhiều tuyến phố đã là điều khó thực hiện. Trong khi đó, thời
gian đi vào hiệu lực của luật cũng quá gấp gáp làm cho các quy định thiếu tính
thực tiễn. Một số ý kiến cho rằng, so sánh quy định quản lý hoạt động bán hàng
rong với quy định sử dụng hè phố, lòng đƣờng cũng không khác gì mấy so với
những tiêu chí của tuyến phố văn minh đô thị. Trƣớc đây, việc thực hiện quy
định ở tuyến phố văn minh đô thị chỉ trong thời gian từ 7h đến 17h hằng ngày
thì nay các tuyến phố cấm bán hàng rong, để xe dƣới lòng đƣờng, vỉa hè thực
hiện triệt để trong 24/24h. Tuy nhiên, lại có một tình trạng khá giống nhau là
ngƣời dân chỉ chấp hành khi có bóng dáng của lực lƣợng chức năng đi kiểm tra,
còn khi lực lƣợng này đi khỏi thì mọi chuyện đâu lại vào đấy.
Cũng không thể nói những nỗ lực của các cơ quan chức năng là vô ích,
bởi phần nào, hiện tƣợng bán hàng rong tại các khu phố cấm đã không còn tràn
lan nhƣ trƣớc. Nhƣng cấm ở đây thì lại mọc lên ở chỗ khác. Bởi khi ngƣời bán
hàng không còn chỗ, đa phần họ sẽ thay đổi địa điểm kinh doanh sang các khu
vực không bị cấm. Số lƣợng những ngƣời chuyển nghề, bỏ nghề là không nhiều.
Trong khi đó, nếu tiếp tục nhìn vào kết quả của tình trạng mất việc làm của
những ngƣời bán hàng rong, khi họ trở thành những ngƣời thất nghiệp, làm nghề
tự do…cũng không tích cực hơn với nền kinh tế và xã hội so với việc để họ tiếp
tục bán hàng rong. 21


vật dụng gia đình, giày dép, đồ sành sứ, hàng ăn…
7
Theo đó, trong hai năm trở lại đây số lƣợng ngƣời bán hàng rong tăng lên
“từng ngày”. Cho đến 2008, số ngƣời bán rau là khoảng 5000 - 7.000 ngƣời, bán
hoa quả khoảng 5000 - 9.000 ngƣời... Trong lực lƣợng bán hàng rong, phụ nữ
chiếm đến 93%, với độ tuổi trung bình là 40 tuổi. Ngƣời ngoại tỉnh chiếm đến
70-80% và có đến 93% ngƣời bán “chƣa qua đào tạo”. Do trình độ học vấn
không có, họ cũng không có lựa chọn nào khác ngoài công việc đòi hỏi không
quá cao về cả trình độ lẫn vốn liếng, đó là bán hàng rong. Những ngƣời này chủ
yếu là dân nghèo không có việc làm ổn định... Nếu không cho phép họ bán hàng
rong thì cuộc sống của họ sẽ thật sự rơi vào khó khăn.
Tuy nhiên, công việc bán hàng rong vất vả nhƣng cũng chẳng mang lại
cho họ là bao. Ngày bán đƣợc nhiều bù cho ngày bán ít. Làm việc xong lại trở
về khu nhà trọ chật chội. Số phận những ngƣời phụ nữ bán rong trong các đô thị
vốn đã khó khăn. Có ngƣời nhà đông con những cũng chỉ có vài sào ruộng,
ngƣời ở nhà thì nhiều mà việc làm không có. Bán hàng rong là cách duy nhất để
kiếm kế sinh nhai. Có ngƣời thì chồng ốm, con nhỏ phải gửi lại quê cho ngƣời
nhà, ra thành phố kiếm việc. Có ngƣời mất đất, hết tuổi lao động để xin vào các
nhà máy đành phải ra thành phố kiếm cơm. Cũng có ngƣời một thời lầm lỡ, đến

7

- “Tôi đã mất ngủ cả đêm trƣớc khi nói về hàng rong”
23

lúc có tuổi thì giật mình đã muộn, việc làm không có cũng đành làm nghề
bán rong…

bánh mì… thì ngày nay, những mặt hàng thƣờng đƣợc bán rong khá phong phú,
chủ yếu là thực phẩm, hoa quả, đồ gia dụng, giày dép, sách báo, những mặt hàng
dễ vận chuyển và có giá trị thấp.
Thời Hà Nội xƣa, hàng rong quả thật mang phong vị riêng đặc sắc, nhƣng
hàng rong Hà Nội thời hiện đại này mật độ bán hàng qua dày đặc với các loại
hình tạp nham, thậm chí đến cả những mặt hàng tôm, cua, ốc, cá, thịt lợn, thịt
chó… Những mặt hàng này ngày càng đƣợc bày bán rộng rãi, nhiều khi gây ô
nhiễm môi trƣờng sống và mất vệ sinh. Hàng rong loại này đang ngày càng
chiếm chỗ trong thành phố, làm mất mỹ quan đƣờng phố Hà Nội. Làm ảnh
hƣởng đến chất lƣợng hàng rong nói chung.
Bên cạnh những ngƣời bán hàng đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm thì
cũng có những ngƣời bán hàng ôi thiu, quá hạn… nhƣng ngƣời tiêu dùng không
để ý thì cũng khó phát hiện. Những mặt hàng đảm bảo chất lƣợng mà giá cả phải
chăng thì cũng là một lựa chọn tiêu dùng tốt nhƣng bên cạnh đó luôn có khả
năng ngƣời tiêu dùng phải lựa chọn những mặt hàng chất lƣợng kém. Những
mặt hàng này làm ảnh hƣởng tới hình ảnh của ngƣời bán hàng rong, đe dọa sức
khỏe và chất lƣợng cuộc sống của ngƣời tiêu dùng.
Quan sát quanh khu vực các trƣờng đại học, các bệnh viện… hàng rong
mọc lên liên tiếp. Những quán hàng đảm bảo vệ sinh thì ít mà đa phần đều chế

Trích đoạn Tạo công ăn việc làm cho người dân chuyển đổi nghề nghiệp Hình thành những khu phố bán hàng rong tập trung, khu phố du lịch kết hợp xây dựng hệ thống kiểm tra chất lượng, nguồn gốc chất lượng hàng Có ý thức về bảo vệ môi trường, giữ gìn an ninh trật tự xã hộ Kịp thời thông báo cho cơ quan chức năng khi bị xâm phạm về quyền lợ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status