LỜI CẢM ƠN
Luận văn “Nghiên cứu giải pháp hợp lý trong quản lý tổ chức thi công cọc xi
măng đất theo công nghệ Jet - grouting” được hoàn thành tại trường Đại học Thủy
Lợi.
Tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS.Lê Văn Hùng và TS.Phan
Trường Giang đã tận tình hướng dẫn tác giả hoàn thành luận văn này. Xin chân
thành cảm ơn các giảng viên Khoa công trình – trường đại học Thủy Lợi, các đồng
nghiệp trong và ngoài ngành đã cung cấp các tài liệu phục vụ cho luận văn này.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến lãnh đạo, các đồng nghiệp tại Trung tâm
công trình Hồ Đập – Viện Thủy Công – Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, những
người thân trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã khích lệ, ủng hộ, động viên về
mọi mặt cho tác giả hoàn thành luận văn này.
Do hạn chế về mặt thời gian, kiến thức khoa học và kinh nghiệm thực tế nên
trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn, chắc chắn khó tránh khỏi những
thiếu sót. Tác giả rất mong nhận được những nhận xét và đóng góp của các nhà
chuyên môn.
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Tác giả
Vũ Thị Kim Liên
BẢN CAM ĐOAN
1. Tính cấp thiết của Đề tài 1
2. Mục đích của đề tài 1
3. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 2
4. Kết quả dự kiến đạt được 2
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CỌC XI MĂNG ĐẤT 3
1.1. Đặt vấn đề 3
1.1.1. Khái niệm 3
Ưu điểm của Cọc xi măng đất: 3
1.1.2. Phương pháp thi công cọc xi măng đất 4
1.2. Công nghệ Jet – grouting 7
1.2.1. Công nghệ thi công cọc xi măng đất Jet - Grouting 7
1.2.2. Nguyên lý tạo ra cọc xi măng đất 8
1.2.3. Quá trình thi công 10
1.3. Ứng dụng của cọc xi măng đất 12
1.3.1. Ứng dụng của cọc xi măng đất cho giải pháp công trình 12
2.3.1. Ứng dụng cọc xi măng đất theo công nghệ Jet – Grouting xử lý chống
thấm cho các công trình thủy lợi 33
2.3.2. Ứng dụng cọc xi măng đất theo công nghệ Jet – Grouting xử lý nền đất
yếu cho các công trình thủy lợi 41
2.4. Nghiên cứu giải pháp hợp lý trong quản lý tổ chức thi công cọc Xi măng đất
theo công nghệ Jet – Grouting (khoan phụt cao áp) 49
2.4.1. Quản lý kỹ thuật trong tổ chức thi công cọc xi măng đất theo công nghệ
Jet – Grouting 51
2.4.2. Quản lý chất lượng trong quá trình thi công cọc xi măng đất bằng công
nghệ Jet – Grouting 55
2.4.3. Quản lý nghiệm thu cọc xi măng đất 61
2.4.4. Quản lý hồ sơ thi công 63
2.4.5. Quản lý sau khi thi công 64
CHƯƠNG 3. ỨNG DỤNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP HỢP LÝ
TRONG QUẢN LÝ TỔ CHỨC THI CÔNG CỌC XI MĂNG ĐẤT THEO CÔNG
NGHỆ JET-GROUTING CHO NỀN ĐẬP HỒ CHỨA NƯỚC KHE NGANG –
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 66
3.1. Giới thiệu tóm tắt về công trình 66
3.2. Địa chất nền đập chính 67
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Thi công cọc xi măng đất theo phương pháp trộn khô (Dry jet mixing) 4
Hình 1.2 Sơ đồ thi công trộn khô 5
Hình 1.3 Sơ đồ dây chuyền thiết bị khoan phụt cao áp 6
Hình 1.4 Sơ đồ thi công trộn ướt 6
Hình 1.5 Sơ đồ công nghệ Jet - grouting 7
Hình 1.6 Công nghệ S 8
Hình 1.7 Công nghệ D 9
Hình 2.2 Tường lõi bằng cọc ximăng - đất áp dụng cho các đập cũ bị thấm 35
Hình 2.3 Tường ngầm bằng cọc xi măng đất cắt qua lớp xen kẹp 36
Hình 2.4 Thứ tự thi công cọc xi măng đất (1 hàng) 37
Hình 2.5 Sơ đồ bố trí thi công cọc xi măng đất (2 hàng) 37
Hình 2.6 Sơ đồ bố trí thi công cọc xi măng đất (2 hàng) 38
Hình 2.7 Mô tả tường xi măng đất cắt qua tầng cuội sỏi thấm nước để chống thấm
qua đáy cống D10 39
Hình 2.8 Công trình bị lún sụt nghiêm trọng 40
Hình 2.9 - 1: bố trí dạng dải; 2: bố trí theo nhóm; 3: bố trí theo lưới tam giác (hoa
thị); 4: bố trí theo lưới ô vuông 45
Hình 2.10 Bố trí cọc trùng nhau theo khối 45
Hình 2.11 Bố trí cọc trùng nhau, thứ tự thi công 45
Hình 2.12 Bố trí cọc trên mặt đất: 1 Kiểu tường, 2 Kiểu kẻ ô, 3 Kiểu khối,
4 Kiểu
diện 46
Hình 2.13 Bố trí cọc trên biển:1 Kiểu khối , 2 Kiểu tường, 3 Kiểu kẻ ô, 4 Kiểu
cột, 5 Cột tiếp xúc, 6 Tường tiếp xúc, 7 Kẻ ô tiếp xúc, 8 Khối tiếp xúc 46
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Số liệu về một số công trình sử dụng cọc xi măng đất 20
Bảng 2.1 Hệ số điều chỉnh hao phí xi măng trong 1 m
3
31
Bảng 2.2 Hệ số điều chỉnh hao phí nhân công 32
Bảng 3.1 Bảng thống kê số liệu cọc theo từng phân đoạn 72
Bảng 3.2 Tiến độ thi công cọc xi măng đất đập Khe Ngang 74
1 MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của Đề tài
Đất nước ta đang trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều
kiện nền kinh tế thị trường, ngành xây dựng tất yếu cần phải phát triển không ngừng
và ngày càng lớn mạnh. Tiếp cận các công nghệ tiên tiến của thế giới và đưa vào
ứng dụng trong nước để tạo ra sản phẩm có chất lượng, đạt hiệu quả kinh tế cao là
một phần chiến lược phát triển khoa học công nghệ của Nhà nước hiện nay.
Để nâng cao chất lượng trong lĩnh vực xử lý nền các công trình thủy lợi, công
trình giao thông có rất nhiều công nghệ mới được đưa vào ứng dụng rộng rãi như
bấc thấm, vải địa kỹ thuật…và không thể không nói đến công nghệ khoan phụt cao
áp (jet - grouting).
Tuy ra đời muộn nhưng công nghệ khoan phụt cao áp đã được các nhà chuyên
môn đón nhận và quan tâm vì những ưu điểm nổi bật của nó, đặc biệt để giải quyết
những khó khăn trong thi công.
4. Kết quả dự kiến đạt được
Tổng quan về thi công cọc xi măng đất theo công nghệ Jet – Grouting đã ứng
dụng vào các công trình ở Việt Nam. Từ đó, đề xuất giải pháp hợp lý trong quản lý
tổ chức thi công nhằm nâng cao chất lượng cho công trình, áp dụng cụ thể cho công
trình đập Khe Ngang. 3 CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CỌC XI MĂNG ĐẤT
1.1. Đặt vấn đề
1.1.1. Khái niệm
Cọc xi măng đất là cọc hình trụ được tạo ra bằng phương pháp trộn sâu, là hỗn
hợp giữa đất nguyên trạng nơi gia cố và xi măng được phun xuống nền đất bởi thiết
bị khoan phun. Mũi khoan được khoan xuống làm tơi đất cho đến khi đạt độ sâu lớp
đất cần gia cố thì quay ngược lại và dịch chuyển lên. Trong quá trình dịch chuyển
lên, xi măng được phun vào nền đất (bằng áp lực khí nén đối với hỗn hợp khô hoặc
bằng bơm vữa đối với hỗn hợp dạng vữa ướt).
Cọc xi măng đất là một trong những giải pháp xử lý nền đất yếu. Cọc xi măng
đất được áp dụng rộng rãi trong việc xử lý móng và nền đất yếu cho các công trình
xây dựng giao thông, thuỷ lợi, sân bay, bến cảng…như: làm tường hào chống thấm
cho đê đập, sửa chữa thấm mang cống và đáy cống, gia cố đất xung quanh đường
hầm, ổn định tường chắn, chống trượt đất cho mái dốc, gia cố nền đường, mố cầu
20%)
Hình 1.1 Thi công cọc xi măng đất theo phương pháp trộn khô (Dry jet mixing)
- Bột xi măng được phụt sâu vào trong đất thông qua ống nén khí. Bột này
được trộn một cách cơ học nhờ thiết bị quay.
- Trong phương pháp này không cho thêm nước vào trong đất, do đó hiệu quả
cải tạo đất sẽ cao hơn phương pháp trộn ướt.
5 Phương pháp thi công trộn khô:
Hình 1.2 Sơ đồ thi công trộn khô
Quy trình thi công gồm các bước sau:
a. Định vị thiết bị trộn
b. Xuyên đầu trộn xuống độ sâu thiết kế đồng thời phá tơi đất;
c. Rút đầu trộn lên, đồng thời phun xi măng vào đất
d. Đầu trộn quay và trộn đều xi măng với đất
e. Kết thúc thi công.
Ưu điểm: Tốc độ thi công nhanh, đường kính cọc đảm bảo đồng đều.
Nhược điểm: Thiết bị cồng kềnh (phải có một dàn dẫn hướng cao để gắn cần khoan)
không thích hợp với mặt bằng hiện trường chật hẹp, lầy lội;
1.1.2.1. Phương pháp thi công trộn ướt (Jet - Grouting)
Phương pháp trộn ướt (Jet – grouting) là phương pháp trộn sâu dạng ướt, vữa
xi măng được phun vào đất nhờ áp lực lớn từ một vòi xoay.
Phương pháp Jet – grouting được phát minh tại Nhật Bản năm 1970. Sau đó
các công ty của Ý, Đức đã mua lại phát minh trên và đến nay nhiều công ty xử lý
nền móng hàng đầu thế giới đều xử dụng công nghệ này như công ty Layne
Christensen (Mỹ), Bauer (Đức), Keller (Anh), Frankipile (Úc)…Trải qua hơn 40
năm hoàn thiện và phát triển, đến nay công nghệ này đã được thừa nhận rộng khắp,
đất. Áp lực siêu cao còn có khả năng gây nên rạn nứt nền đất lân cận và tia vữa có
thể lọt vào các công trình ngầm sẵn có như hố ga, tầng hầm lân cận;
- Đối với nền đất chứa nhiều túi bùn hoặc rác hữu cơ thì axit humic trong đất
có thể làm chậm hoặc phá hoại quá trình ninh kết của hỗn hợp xi măng đất.
1.2. Công nghệ Jet – grouting
Công nghệ thi công cọc Xi măng đất Jet – Grouting đã được ứng dụng rộng rãi
trên thế giới từ nhiều năm nay. Tuy nhiên đối với nước ta đây là công nghệ còn
tương đối mới mẻ, chưa được ứng dụng rộng rãi. Mặt khác các tiêu chuẩn, quy
phạm áp dụng cho công nghệ này còn chưa hoàn thiện. Chính vì vậy mà công tác
thiết kế, thi công, quản lý chất lượng cọc xi măng đất thi công bằng công nghệ Jet –
Grouting còn nhiều hạn chế.
1.2.1. Công nghệ thi công cọc xi măng đất Jet - Grouting
Sơ đồ công nghệ
Hình 1.5 Sơ đồ công nghệ Jet - grouting
8 Các thiết bị chính dùng trong công nghệ Jet – Grouting bao gồm:
- Thiết bị khoan: Máy khoan SI-15S II, đường kính cần khoan 60.5mm, chiều
sâu khoan phụt tối đa 45m, sản xuất tại Nhật.
- Máy bơm vữa: SG-75 III, áp lực bơm lớn nhất 400 atm, lưu lượng lớn nhất
120 l/phút, sản xuất tại Nhật.
- Máy trộn vữa: YGM-4, khả năng trộn lớn nhất 400 l/phút, sản xuất tại Nhật.
lệch hang, có độ lệch góc đều nhau) để phun vữa và khí. Khe phun khí nằm bao
quanh lỗ phun vữa. Công nghệ 2 pha tạo ra các cọc có đường kính lớn hơn công
nghệ đơn pha, có thể đạt đến 1,2 - 1,5m. Hình 1.7 Công nghệ D
c. Công nghệ ba pha T:
Phụt ba pha là phương pháp thay thế đất mà không xáo trộn đất. Công nghệ T
sử dụng để làm các cọc, các tường ngăn chống thấm, có thể tạo ra cột Soilcrete
đường kính đến 3m. Quá trình phụt có cả vữa, không khí và nước. Không giống
phụt đơn pha và 2 pha, nước được bơm dưới áp suất cao và kết hợp với dòng khí
nén xung quanh vòi nước. Điều đó đuổi khí ra khỏi cột đất gia cố. Vữa được bơm
qua một vòi riêng biệt nằm dưới vòi khí và vòi nước để lấp đầy khoảng trống của
khí. Phụt ba pha là phương pháp thay thế đất hoàn toàn. Đất bị thay thế sẽ trào
ngược lên trên và được thu gom, xử lý.
+ Cấu tạo đầu khoan gồm một hoặc nhiều lỗ đúp để phun nước và không khí
đồng thời và một hoặc nhiều lỗ đơn nằm dưới để phun vữa. Nói chung mỗi cặp lỗ
phun khí, nước và vữa đều nằm đối xứng nhau qua tâm trục của đầu khoan. Các cặp
lỗ được bố trí lệch góc đều nhau.
10
áp.
b. Phương pháp khoan
Công tác khoan thực hiện bằng công nghệ khoan xoay và xói nước bằng tia
thẳng đứng (phân biệt với cơ chế phụt vữa: tia vữa đi ra theo phương nằm ngang),
sử dụng loại cần khoan và mũi khoan chuyên dụng.
c. Phương pháp phụt vữa
Sau khi đưa mũi khoan đến cao độ thiết kế, quá trình phụt vữa bắt đầu. Vữa
được phụt qua lỗ phun nằm ở bên thành mũi khoan. Áp suất và vận tốc cao của tia
vữa làm phá vỡ kết cấu của đất và tạo thành thể đất – xi măng. Nhiều kết cấu và
kích thước hình học có thể đạt được bằng cách thay đổi các chỉ tiêu phun.
Quá trình nói ở trên tạo thành cột đất bằng cách xoay liên tục ở tốc độ cần
thiết và nhấc cần khoan lên dần.
Quá trình phun vữa được thực hiện từ dưới lên trên, vừa phun vừa xoay và rút
cần khoan lên. Hỗn hợp đất – nước – xi măng thừa sẽ trào lên mặt đất theo khe hở
bên thành hố khoan. Dòng trào ngược là một trong những yếu tố quan trọng phản
ánh chất lượng của vật liệu xi măng đất – tạo thành, và do đó cần được lấy mẫu theo
một quy trình nhất quán để phân tích, thí nghiệm. Ngoài ra, trong quá trình phụt
phải liên tục theo dõi các thông số thiết kế khác như áp suất phụt vữa, lưu lượng
vữa tiêu hao…
d. Hỗn hợp vữa
Với tất cả các công nghệ S, D và T thì vữa đều có tác dụng phá hủy đất. Sự
hỗn loạn do tia vữa gây ra trong vùng ảnh hưởng có tác dụng trộn đều đất với dung
dịch phụt. Trong khi chưa bắt đầu phụt thì phải rót dung dịch giữ vách vào trong lỗ
khoan và bổ sung liên tục
12 1.3. Ứng dụng của cọc xi măng đất
1.3.1. Ứng dụng của cọc xi măng đất cho giải pháp công trình
toàn thi công.
Hình 1.11 Gia cố thành hố đào
Chống thấm
Do vật liệu xi măng – đất có hệ số thấm
nhỏ, nó được dùng để chống thấm cho các
công trình đê, đập. Tường chống thấm xi
măng – đất gồm một hoặc nhiều cọc ken
sít, liên kết với nhau.
Hình 1.12 Hàng cọc chống thấm
14 Ổn định tường chắn
Các tường chắn đất, do nhiều yếu
tố, có thể bị mất ổn định và có nguy cơ
sạt lở, ảnh hưởng đến an toàn của chính
công trình cũng như các công trình lân
cận. Để tránh sự cố xảy ra, có thể gia cố
các khối xi măng đất sau lưng các tường
chắn để giảm áp lực đất lên tường chắn
và tăng sức chống cắt của toàn bộ hệ
thống.
Hình 1.13 Ổn định tường chắn
Gia cố đường hầm
Một công nghệ ưu việt của cọc xi măng
đất là tạo lớp vở bọc bảo vệ và chống thấm
cho các đường hầm và công trình ngầm. Đối
- Nhật Bản: theo thống kê của hiệp hội CDM tính chung trong giai đoạn 80-96
có 2345 dự án, sử dụng 26 triệu m
3
xi măng đất. Riêng từ 1977 đến 1993, lượng đất
gia cố bằng xi măng vào khoảng 23,6 triệu m
3
cho các dự án ngoài biển và trong đất
liền, với khoảng 300 dự án. Hiện nay, hàng năm thi công khoảng hơn 2 triệu m
3
. Hình 1.15 Thi công cọc xi măng đất tại Nhật Bản
- Trung Quốc: công tác nghiên cứu bắt đầu từ năm 1970. Thiết bị trộn sâu
dùng trên đất liền xuất hiện năm 1978 và ngay lập tức được sử dụng để xử lý nền
các khu công nghiệp ở Thượng Hải. Từ năm 1987 đến 1990, công nghệ trộn sâu đã
được sử dụng ở Cảng Thiên Tân để xây dựng 2 bến cập tàu và cải tạo nền cho 60 ha
khu dịch vụ. Tổng cộng 513.000 m
3
đất được gia cố, bao gồm các móng kè, móng
của các tường chắn phía sau bến cập tàu.
16 Đến năm 1992, một sự hợp tác giữa Nhật Bản và Trung Quốc đã tạo ra sự thúc
đẩy cho những bước đầu tiên của công nghệ trộn ướt ở Trung Quốc, công trình hợp
tác đầu tiên là cảng Yantai. Trong dự án này 60.000 m
3
xử lý ngoài biển đã được
thiết kế và thi công bởi chính các kỹ sư Trung Quốc.
Tại Mỹ
Vào cuối những năm 80 sự phát triển mạnh mẽ với những thành công đáng ghi
nhận ở Nhật Bản đã mở đường cho công nghệ trộn sâu vào Mỹ. Năm 1987, một thế
hệ thiết bị trộn đất mới đã được đưa vào để bảo vệ kết cấu đất khỏi bị hóa lỏng dưới
tác dụng của động đất. Năm 1996, công ty Instrusion Prepakt sử dụng thiết bị trộn
cơ khí để trộn xi măng với đất làm thành các cọc tạo ra một phần móng và tường
chắn.
Từ đó trở đi, chính người sử dụng ở Mỹ đã tiếp tục sử dụng công nghệ trộn
sâu trong cải tạo nâng cấp các đập đất, qua đó đã đóng vai trò kích thích phát triển
công nghệ này. Trong cải tạo các đập đất, người ta đã tạo ra tường chống thấm
trong thân đập. Ví dụ như đập đất Lockington ở Ohio, đập đất Jackson Lake ở
Wyoming, đập đất Cushman ở Washington… Dự án lớn nhất ở Mỹ sử dụng công
nghệ trộn sâu là đường hầm trung tâm Nghệ thuật ở Boston chi phí nhiều triệu đô la
và kết thúc năm 2001. Tường ximăng – đất đã được ứng dụng trong việc ổn định hố
đào từ rất sớm, tại Bird Island Flats gần sân bay Logan. Từ năm 1986 đến 1992,
hàng năm khối lượng công tác trộn sâu đạt chừng 10 – 20 triệu USD, đến năm 1996
tăng lên hơn 50%. Sau đó nhờ các dự án lớn ở Boston, Salt Lake City và West
Coast, khối lượng trộn sâu đến nay chừng 20 – 30 triệu USD, tăng 5 – 10% mỗi
năm.