LỜI NÓI ĐẦU
1/ Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Nhà Nước đất
nước ta ngày càng phát triển. Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ
chế thị trường đinh hướng xã hội chủ nghĩa đã giành được những thành tựu to lớn như
kiềm chế lạm phát, nhịp độ tăng trưởng về tổng sản phẩm trong nước đã vượt kế hoạch
đề ra, nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng…Bên cạnh những thành tựu đạt được chúng ta
còn những mặt chưa làm được như: Tình hình xã hội còn nhiều tiêu cực, quản lý nhà
nước về kinh tế còn lỏng lẻo, chỉ số giá tiêu dùng tăng đột biến trong nhiều năm gần
đây.Đảng và Nhà Nước ta đã xác định nhiệm vụ quan trọng trong thời gian tới là tiến
hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế đất nước. Muốn vậy, chúng ta cần phải
có nguồn vốn trung - dài hạn lớn để xây dựng cơ sở hạ tầng, đổi mới công nghệ, trang bị
kỹ thuật tiên tiến, đồng thời có sự nâng cấp mở rộng sản xuất kinh doanh đối với các
thành phần kinh tế từ đó tạo đà cho sự phát triển.Có thể nói chỉ có nguồn vốn trung - dài
hạn mới giúp ta hoàn thành mục tiêu này. Do đó mà nguồn vốn trung - dài hạn đóng một
vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế.
Tuy nhiên có nguồn vốn trung - dài hạn thôi là chưa đủ mà phải biết sử dụng hiệu quả
nguồn vốn đó thì mới phát huy hết được vai trò tích cực cũng như chống lại sự lãng phí.
Hay nói một cách khác chỉ khi nào mở rộng gắn liền với nâng cao chất lượng tín dụng
trung - dài hạn thì nguồn vốn trung - dài hạn mới phát huy được vai trò tích cực của
mình.
Mặc dù vậy, trước những biến động không ngừng của nền kinh tế thị trường thì chúng ta
không thể nào dự đoán hết được những rủi ro có thể xẩy ra, ảnh hưởng của nó tới hoạt
động tín dụng nói chung và tín dụng trung - dài hạn nói riêng của toàn bộ ngành ngân
hàng cũng như của chi nhánh Ngân hàng Nam Á Qui Nhơn. Đây chính là nguyên nhân
mà em chọn đề tài:
“Thực trạng và giải pháp đối với tín dụng trung - dài hạn tại Ngân hàng Nam Á chi
nhánh Qui Nhơn” để nguyên cứu chuyên đề tốt nghiệp.
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT TÍN DỤNG TRUNG – DÀI HẠN CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 / TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1/ KHÁI NIỆM VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Ngân hàng thương mại (NHTM) là tổ chức kinh doanh kinh doanh tiền tệ tín dụng có vị
trí quan trọng nhất trong nền kinh tế thị trường ở các nước. Có nhiều khái niệm khác
nhau về ngân hàng thương mại.
Ở Mỹ: NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và
hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.
Ở Pháp: NHTM là những xí nghiệp và cơ sở nào thường xuyên nhận của công
chúng dưới hình thức ký thác hay hinh thức khác của số tiền mà họ dùng cho chính họ
vào nghiệp vụ chiết khấu,tín dụng và dịch vụ tài chính.
Ở Ấn Độ: NHTM là cơ sở nhận các khoản ký thác để cho vay hay tài trợ đầu tư.
Theo pháp lệnh Ngân hàng 1990 của Việt Nam: Ngân hàng thương mại là một
tổ chức kinh doanh tiền tệ mà nghiệp vụ thương xuyên và chủ yếu là nhận tiền gửi và của
khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay,chiết khấu và làm
phương tiện thanh toán.
“ Theo luật các tổ chức tín dụng Việt Nam có hiệu lực vào tháng 10/1998:
“Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ ngân hàng và các hoạt
động kinh doanh khác co liên quan”.
Nghị định của chính phủ số 49/2001 NĐ-CP ngày 12/9/2000 định nghĩa:
Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và
các hoạt động khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận,góp phần các mục tiêu kinh tế
khác của nhà nước.
1.1.2/ Nghiệp vụ chủ yếu của Ngân hàng thương mại:
người sử dụng để sau một thời gian sẽ thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị
ban đầu.
- Tín dụng là sự chuyển dịch vốn dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật của một tổ
chức, cá nhân này cho một tổ chức, cá nhân khác sử dụng trong một thời gian nhất định trên nguyên tắc hoàn trả.
Như vậy, tín dụng có thể được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau nhưng bản
chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản giữa một bên là người đi vay và một bên là
người cho vay trên cơ sở hoàn trả cả gốc và lãi.
Đối với một ngân hàng thương mại, tín dụng là chức năng cơ bản của ngân hàng,
là một trong những nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng. Tín dụng ngân hàng được định
nghĩa như sau:
Tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng phản ánh một giao dịch về tài sản
(tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay là ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng và bên đi
vay là các cá nhân, doanh nghiệp, chủ thể sản xuất kinh doanh, trong đó bên cho vay
chuyển tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận,
bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến
hạn thanh toán.
Về các hình thức của tín dụng ngân hàng thì có nhiều tiêu thức khác nhau để phân
chia tín dụng ngân hàng. Dưới đây là một cách phân chia phổ biến mà Ngân hàng thường
sử dụng khi phân tích và đánh giá:
Phân theo thời hạn tín dụng ta có:
- Tín dụng ngắn hạn: là khoản tín dụng dưới 1 năm và được sử dụng để bổ sung
sự thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của doanh nghiệp, và nó còn có thể được vay cho
những tiêu dùng cá nhân.
- Tín dụng trung hạn: là khoản tín dụng có thời hạn từ 1-5 năm. Loại hình tín
dụng này thường được dùng để cung cấp, mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ
thuật, mở rộng và xây dựng công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh.
- Tín dụng dài hạn: là khoản tín dụng có thời gian trên 5 năm. Loại tín dụng này
1.2.3/ Các hình thức tín dụng trung - dài hạn
Xác định lại
thị trường và
các thị trường
mục tiêu
Đề xuất tín
dụng
Nhu cầu khách
hàng
Tiếp cận yêu
cầu khách hàng
Tìm hiểu triển
vọng
Tham khảo ý
kiến bên ngoài
1. Thẩm định
Mục đích vay
Hợp đồng kinh
doanh
Quản lý
Số liệu
Thương
lượng
Kỳ hạn
Thanh toán
Các điều
tiền vay
Thanh toán
Đánh giá tín
dụng
Trả nợ đúng hạn
Dấu hiệu bất
thường
Nhận biết sớm
Chính sách xử lý
Quản lý
Dấu hiệu cảnh báo
Cố gắng thu hồi
nợ
Biện pháp pháp lý
Tái cơ cấu
Thanh toán
Trả đủ gốc
Trả đủ lãi
Tổn thất
Không trả nợ
gốc
Không trả nợ lãi 1.2.3.1/ Tín dụng theo dự án đầu tư
a. Cho vay đồng tài trợ ( Synđicate loan):
- Là quá trình cho vay của một nhóm tổ chức tín dụng (từ 2 tổ chức tín dụng trở
lên) cho một dự án, do một tổ chức tín dụng làm đầu mối, phói hợp với các bên bên đồng
tài trợ để thực hiện, nhằn phân tán rủi ro của các tổ chức tín dụng.
chỉ được quyền sử dụng. Vì vậy, người đi thuê không đựơc bán chuyển nhượng cho
người khác. Song họ được hưởng những lợi ích do việc sử dụng tài sản đó đem lại, đồng
thời chịu phần vốn rủi ro có liên quan đến tài sản. Tín dụng thuê mua có một số hình
thức như : thuê mua có tham gia của ba bên, thuê mua có sự tham gia của hai bên, tái
thuê mua (sale – base back), thuê mua hợp tác (levereged lease, thuê mua giáp lưng
(under lease)…
* Xét về lợi ích thì cả ngân hàng và khách hàng đều có lợi
- Đối với ngân hàng (bên cho thuê): đây là hình thức tài trợ bổ sung cho các hình
thức tài trợ khác đang tồn tại ở ngân hàng, nó giúp ngân hàng mở rộng dịch vụ, nâng cao
năng lực cạnh tranh, giảm mức độ rủi ro, đảm bảo nguyên tắc vốn vay được sử dụng
đúng mục đích.
- Đối với các doanh nghiệp : hình thức này có thể giúp các doanh nghiệp có thể sử
dụng vốn vay dưới dạng các máy móc, thiết bị mà không phải bỏ vốn lớn, không ảnh
hưởng tới bảng tổng kết tài sản và hạn mức tín dụng của doanh nghiệp việc cấp tín dụng
thuê mua thường nhanh chóng, từ đó cho phép đầu tư khẩn cấp, đáp ứng được thời cơ
sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, mặt khác phương thức thanh toán tiền
thuê linh hoạt thích ứng với hoàn cảnh và điều kiện sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm
của doanh nghiệp và mỗi cá nhân.
- Đối với các công ty nhỏ hoặc công ty không có uy tín : ngân hàng có thể không
chấp nhận cho vay dài hạn nhưng có thể cho hưởng tín dụng thuê mua. Có thể nói, mô
hình tín dụng thuê mua rất có ý nghĩa đối với nền kinh tế thị trường, nhất là đối với nền
kinh tế nhiều thành phần như ở Việt Nam hiện nay. 1.2.4/ Vai trò của tín dụng trung - dài hạn trong nền kinh tế thị trường
1.2.4.1/ Đối với nền kinh tế
Tín dụng có vai trò quan trọng trọng nền kinh tế, hoạt động tín dụng trung - dài hạn nếu có hiệu quả sẽ có tác động tới mọi lĩnh vực kinh tế - chính trị - xã hội. Phát triển
làm cho người lao động. Bên cạnh đó, do năng lực sản xuất được nâng lên số lượng sản
phẩm tiêu thụ nhiều, đó là nguồn thu nhập của cán bộ trong xí nghiệp và góp phần ổn
định đời sống cho chính họ.
Tín dụng trung - dài hạn cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển dịch cơ cấu
đầu tư, làm cho cơ cấu của nền kinh tế trở lên hợp lý từ đó làm tiền đề cho sự ổn định và
trật tự an toàn xã hội.
1.2.4.2/ Đối với doanh nghiệp
Trong môi trường kinh tế cạnh tranh, để có thể tồn tại và phát triển được thì các
doanh nghiệp phải không ngừng đầu tư vào tài sản cố định. Bởi lẽ tài sản cố định là tư
liệu chủ yếu, chiếm bộ phận lớn trong tổng giá thành, là yếu tố quan trọng quyết định lợi
thế cạnh tranh… Tuy nhiên, trong thực tế giá trị tài sản cố định thường rất cao, nếu chỉ
trông chờ vào nguồn vốn tự tích luỹ thì cần phải mất rất nhiều thời gian doanh nghiệp
mới đổi mới được tài sản cố định và sẽ bị tụt lại xa so với các doanh nghiệp có vốn đã
trang bị hiện đại. Vì thế lối thoát duy nhất cho doanh nghiệp là đi vay để đổi mới. Khi
tìm kiếm các nguồn vốn từ bên ngoài, doanh nghiệp mong muốn có đựơc những khoản
tín dụng trung - dài hạn từ ngân hàng. Có người cho rằng cách tốt nhất để huy động vốn
là doanh nghiệp phát hàng cổ phiếu, trái phiếu huy động vốn dài hạn. Chúng ta không
phủ nhận những mặt tích cực của thị truờng chứng khoán trong việc phục vụ nhu cầu bổ
sung vốn cho doanh nghiệp, nhưng hình thức này chỉ phát huy hiệu quả ở những nước có
thị trường vốn và thị trường chứng khoán hoàn hảo. thậm trí ở những nước này trong
nhiều trường hợp doanh nghiệp có thể giảm bớt những khoản chi phí mà lẽ ra họ phải trả
khi tổ chức phát hành chứng khoán. Đối với những khoản đi vay doanh nghiệp được chủ
động điều hành các hoạt động kinh doanh, tiến hành các dự án lớn mà không phải phân
chia quyền lực nếu lựa chọn việc tài trợ thông qua phát hành cổ phiếu, không phải đối
phó với các trái phiếu hay cổ phiếu ưu đãi khi doanh nghiệp không còn cần vốn nữa và
có ý muốn thu lại số cổ phiếu này. Mặt khác, việc trả nợ trung - dài hạn cũng được ấn
định theo định kỳ theo từng kỳ hạn hợp lý và ổn định.Vì vậy, doanh nghiệp có cơ sở để
thực hiện trách nhiệm trả nợ của họ.
Như vậy, tín dụng trung - dài hạn đã giúp các doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà
1.3.1.1/ Nâng cao chất lượng tín dụng trung - dài hạn là đòi hỏi bức thiết đối
với sự phát triển kinh tế.
Trước hết, ta hiểu chất lượng tín dụng là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.
Chất lượng tín dụng trung - dài hạn chính là vốn cho vay trung - dài hạn của ngân hàng
được khách hàng đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh dịch vụ … để tạo ra một số tiền
lớn hơn thông qua đó ngân hàng sẽ thu được cả gốc và lãi cho ngân hàng đúng thời hạn,
bù đắp được chi phí và có lợi nhuận. Như vậy, qua một quá trình chu chuyển vốn, ngân
hàng sẽ thu hồi vốn và lãi cón khách hàng sử dụng vốn có hiệu quả. Xét về tổng thể ngân
hàng vừa tạo ra được hiệu quả kinh tế vừa tạo ra được hiệu quả xã hội.
Sinh ra từ nền sản xuất hàng hoá, tín dụng đã có những đóng góp đáng kể trong
việc thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn để đẩy mạnh tiến trình phát triển của nền
kinh tế. Sinh ra từ nền sản xuất hàng hoá, tín dụng đã có những đóng góp đáng kể trong
việc thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn để đẩy mạnh tiến trình phát triển của xã
hội. lịch sử đã chứng minh điều đó thông qua sự ra đời và phát triển của xã hội loài
người qua các hình thái kinh tế -xã hội.
Ngày nay cùng với sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá, tín dụng
cũng ngày càng phát triển nhằm cung cấp thêm các phương tiện giao dịch để đáp ứng
nhu cầu giao dịch ngày càng tăng trong xã hội. Trong điều kiện đó, chất lượng tín dụng
ngày càng được quan tâm bởi vì:
Đảm bảo chất lượng tín dụng là điều kiện để ngân hàng làm tốt vai trò trung tâm
thanh toán: khi chất lượng tín dụng được đảm bảo sẽ tăng vòng quay vốn tín dụng, với
một khối lượng tiền như cũ, có thể thực hiện số lần giao dịch lớn hơn, tạo điều kiện tiết
kiệm tiền trong lưu thông, củng cố sức mua của đồng tiền.
Chất lượng tín dụng góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ, tăng trưởng kinh
tế, tăng uy tín quốc gia. Xuất phát từ chức năng tập trung và phân phối lại vốn trong nền
kinh tế, tín dụng trung - dài hạn đã thu hút những nguồn vốn dư thừa, tạm thời nhàn rỗi
để đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu vốn cho doanh nghiệp từ đố
tác động tích cực với mọi mặt của nền kinh tế - xã hội, điều đó cũng có thể hiện chất
lượng hoạt động tín dụng trong nền kinh tế thị trường.
1.3.1.2/ Nâng cao chất lượng tín dụng quyết định sự tồn tại và phát triển của
các ngân hàng thương mại.
Chất lượng tín dụng trung - dài hạn tốt làm tăng khả năng cung cấp dịch vụ của
các ngân hàng thương mại do tạo thêm nguồn vốn từ việc tăng được vòng quay vốn tín
dụng và thu hút được nhiều khách hàng bởi các hình thức của sản phẩm, dịch vụ tạo ra một hình ảnh về biểu tượng và uy tín của ngân hàng và sự trung thành của khách hàng.
Chất lượng tín dụng trung - dài hạn tốt làm tăng khả năng sinh lợi của sản phẩm,
dịch vụ ngân hàng do giảm được sự chậm trễ, giảm chi phí nghiệp vụ, chi phí quản lý,
các chi phí thiệt hại do không thu hồi được vốn vay đã cho vay. Mặt khác nó còn đảm
bảo khả năng thanh toán và lợi nhuận của ngân hàng, tạo thế mạnh cho ngân hàng trong
cạnh tranh, tạo thuận lợi cho sự tồn tại lâu dài của ngân hàng vì chất lượng tín dụng tốt
tạo cho ngân hàng có nhiều khách hàng trung thành và những khoản lợi nhuận để bổ
xung vốn đầu tư. Bên cạnh đó, chất lượng tín dụng tốt giúp ngân hàng củng cố các mối
quan hệ xã hội bằng những điều kiện tốt nhất.
Có thể nói, với những ưu thế trên, việc củng cố và tăng cường chất lượng tín dụng
trung - dài hạn của các ngân hàng thương mại là sự cần thiết khách quan vì sự tồn tại và
phát triển lâu dài của các ngân hàng thương mại. Vì vậy, chất lượng tín dụng luôn luôn
đòi hỏi phải được nâng cao
1.3.2/ Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trung - dài hạn
Chất lượng tín dụng trung - dài hạn được xem xét, đánh giá thông qua hệ thống
chỉ tiêu sau:
1.3.2.1./ Về phía khách hàng:
a. Các chỉ tiêu định tính đó là:
- Dự án sử dụng vốn vay trung - dài hạn của ngân hàng có đủ cơ sở pháp lý, kinh
tế, kỹ thuật để thực hiện được.
- Vốn vay được sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả, đảm bảo đủ khả năng trả
Tổng dư nợ tín dụng
Chỉ tiêu này cho biết tỷ lệ nợ quá hạn của trung - dài hạn chiếm bao nhiêu phần
trăm trong tổng dư nợ tín dụng. Tỷ lệ này không có hoặc càng nhỏ càng tốt.
- Chỉ tiêu nợ quá hạn khó đòi:
Chỉ tiêu nợ quá hạn khó đòi:
Nợ quá hạn khó đòi của tín dụng trung – dài hạn
Tổng dư nợ tín dụng trung – dài hạn
Nếu tỷ lệ này cao thì nó phản ánh rằng món cho vay của ngân hàng có chất lượng
rất thấp, hoạt động của ngân hàng không có hiệu quả và các chỉ tiêu khác để đánh giá
chất lượng tín dụng trung - dài hạn trở nên không có giá trị. Vì vậy chỉ tiêu này không có
hoặc càng thấp càng tốt.
- Chỉ tiêu lợi nhuận:
Chỉ tiêu nợ quá hạn khó đòi:
Lợi nhuận từ tín dụng trung – dài hạn
Tổng dư nợ tín dụng trung - dài hạn
Thông qua chỉ tiêu này, ta sẽ thấy được khả năng sinh lời của tín dụng trung - dài hạn. Bất kỳ một khoản tín dụng nào cho dù đó là khoản ngắn hạn hay trung - dài hạn
không thể xem là có chất lượng cao nếu nó không đem lại lợi nhuận thực tế cho ngân
hàng. Tuy nhiên đối với các ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng quốc doanh thì lợi
nhuận nhiều khi không phải là cái đích để ngân hàng hướng tới mà điều quan trọng là
thực hiện được chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước. Đặc biệt đối với NHNA,
với chức năng cho vay trung - dài hạn với mức lãi suất kể cả lãi suất ưu đãi tín dụng để
thực hiện các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước thì trong nhiều trường hợp lợi
nhuận không phải là mục tiêu mà ngân hàng cần phải hướng tới. Nói như vậy không có
nghĩa là ngân hàng không quan tâm tới lợi nhuận. Vì sự tồn tại và phát triển của bản
thân ngan hàng mà ngân hàng không thể cho vay các món vay có lợi nhuận bằng không
hoặc nhỏ hơn không. Nhìn chung nếu như c các chỉ tiêu khác giữa các dự án cho vay là
như nhau thì dự án cho vay nào đem lại lợi nhuận cao hơn vẫn thường được các ngân
a. Môi trường kinh tế:
Môi trường kinh tế dù thay đổi theo chiều hướng nào cũng đều tác động tới chất
lượng tín dụng của ngân hàng. Nếu sự thay đổi theo chiều hướng tốt thì chất lượng của
các khoản tín dụng trung - dài hạn sẽ được nâng cao. Ngược lại, sự thay đổi theo chiều
hướng xấu thì sẽ làm cho chất lượng các khoản tín dụng trung - dài hạn xấu đi ngoài ý
muốn. Ví dụ khi nền kinh tế có hiện tượng lạm phát tăng vọt, giá cả đồng tiền giảm sút,
chỉ số giá cả tăng nhanh gây khó khăn cho sản xuất kinh doanh, tác động xấu đến khả
năng thu hồi công nợ của ngân hàng. Hay khi có sự biến động lớn trong tỷ giá do sự thay
đổi chính sách tiền tệ của Nhà nước, đồng nội tệ bị giảm giá, các doanh vốn bằng ngoại
tệ mà không có nguồn thu bằng ngoại tệ sẽ gặp khó khăn trong việc trả nợ ngân hàng. Sự
biến động về tỷ giá như vậy cũng khiến các doanh nghiệp phải nhập thiết bị nước ngoài
lẽ ra đã vay ngân hàng đủ tiền sẽ trở thành không đủ tiền để nhập gây ảnh hưởng trực
tiếp tới chất lượng khoản vay.
Nói như vậy không có nghĩa là chỉ môi trường kinh tế trong nước này thay đổi sẽ
tác động tới chất lượng tín dụng trung - dài hạn mà sự thay đổi của môi trường kinh tế
thế giới cũng gây ảnh hưởng không nhỏ, đặc biệt là đối với doanh nghiệp hoạt động xuất
nhập khẩu. Sự thay đổi ấy thể hiện trực tiếp qua sự biến động về nhu cầu thị trường, sự
biến động về tỷ giá khiến cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu bị thua lỗ
ảnh hưởng tới việc trả nợ ngân hàng của doanh nghiệp.
b. Môi trường chính trị - xã hội
Môi trường chính trị - xã hội ổn định sẽ giúp cho các doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư lâu dài cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngược lại, nếu môi trường chính trị - xã
hội mà bất ổn thì các doanh nghiệp sẽ không dám mạnh dạn đầu tư mà chỉ duy trì ở mức
tái sản xuất giản đơn để bảo đảm an toàn vốn. Điều này sẽ ảnh hưởng tới quy mô các
khoản tín dụng trung - dài hạn của ngân hàng, các món vay chủ yếu sẽ là ngắn hạn còn
khoản tín dụng trung - dài hạn sẽ không có hoặc rất nhỏ vì sự không ổn định về chính trị
- xã hội dẫn đến việc kinh doanh của doanh nghiệp gặp nhiều rủi ro, bất trắc hơn nên nó
sẽ ảnh hưởng tới công tác thu nợ của ngân hàng.
dụng của ngân hàng có đúng đắn hay không.
e. Môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên có một ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng tín dụng của
ngân hàng nói chung đặc biệt là tín dụng trung - dài hạn nói riêng bởi vì thiên tai là một
yếu tố bất khả kháng, chúng ta không thể dự đoán một cách chắc chắn là khi nào những
thiên tai như bão lũ lụt, hạn hán, hoả hoạn, dịch bệnh…sẽ xảy ra và mức độ ảnh hưởng,
thiệt hại của chúng là như thế nào. Thông thường khi thiên tai xảy ra, nó thường gây thiệt
hại rất lớn cho các ngành sản xuất, dịch vụ, gây ra các biến động xấu ngoài dự kiến trong
mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và các khách hàng của mình làm cho vốn của ngân
hàng đầu tư vào các doanh nghiệp sẽ ít nhiều bị ảnh hưởng và dẫn tới rủi ro làm giảm
chất lượng tín dụng.
1.3.3.2/ Các nhân tố chủ quan
a. Về phía khách hàng
- Năng lực của khách hàng
Không một khách hàng nào khi đi vay lại không muốn món vay đem lại hiệu quả
nhưng nhiều khi do năng lực có hạn nên họ không thể thực hiện được ý đồ của mình. Do
hạn chế về khả năng, họ không dự đoán đúng những biến động lên xuống của nhu cầu
thị trường hoặc do yếu kém trong quản lý, trong việc giới thiệu, quảng cáo sản phẩm mà
hoạt động của doanh nghiệp không thể phát triển hoặc do thiếu kinh nghiệm trên thương
trường mà doanh nghiệp dễ dàng bị gục ngã trong cạnh tranh… Tất cả những điều đó
khiến cho chất lượng tín dụng bị ảnh hưởng ngoài ý muốn của cả ngân hàng lẫn khách
hàng.
- Sự trung thực của khách hàng
Nếu khách hàng trung thực, sử dụng vốn vay đúng mục đích thì xác suất xảy ra
rủi ro sẽ giảm đi đáng kể vì tính khả thi của dự án cũng đã được ngân hàng thẩm định một cách kỹ càng trước khi ra quyết định cho vay. Nhưng việc sử dụng vốn vay sai mục
đích của khách hàng đã góp phần không nhỏ vào việc đổ bể của các tổ chức tín dụng.
Chẳng hạn như sử dụng vốn vay đầu tư vào tài sản cố định, vào bất động sản, sau
Mục đích của việc thẩm định dự án đầu tư là nhằm giúp ngân hàng rút ra kết luận
chính xác về tính khả thi, hiệu quả kinh tế, khả năng trả nợ và những rủi ro có thể xảy ra
của dự án để đưa ra quyết định cho vay hoặc từ chối cho vay.
Thông qua công tác thẩm định, ngân hàng sẽ phát hiện, bổ sung thêm những giải
pháp nhằm nâng cao tính khả thi của dự án đồng thời làm cơ sở để xác định số tiền cho
vay, thời gian cho vay, mức thu nợ hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt
động có hiệu quả.
Thẩm định tín dụng một cách kỹ càng, đúng quy trình thẩm định sẽ góp phần
giảm được những rủi ro của tín dụng trung - dài hạn, giúp ngân hàng thu được lợi nhuận
và đảm bảo tính ổn định của các khoản vay. Công tác thẩm định tập trung ở hai nội dung:
+ Thẩm định toàn diện các nội dung của luận chứng kinh tế, kỹ thuật, báo cáo
kinh tế của các dự án tiền khả thi.
+ Thẩm định toàn diện tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của
doanh nghiệp.
Bước đầu tiên của thẩm định dự án là phải thu thập thông tin sau đó sẽ tiếp đến
tiến hàng phân tích những thông tin đó. Những thông tin thu thập phải đồng bộ, từ nhiều
nguồn khác nhau như:
- Thẩm định về phương diện thị trường:
+ Kiểm tra cân đối cung cầu về sản phẩm của dự án, tuỳ theo phạm vi tiêu thụ sản
phẩm ở trong nước hay xuất khẩu:
. Nhu cầu của thị trường, dự báo mức độ gia tăng
. Sản phẩm có khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường về cả khối lượng và chất
lượng.
. Đánh giá những sản phẩm có khả năng thay thế sản phẩm của dự án trong tương
lai, độ bền của nhu cầu sử dụng của sản phẩm thay thế.
. Khả năng đáp ứng các nguồn cung cấp đầu vào: tính ổn định và tính thường
xuyên của nguồn cung ứng.
+ Căn cứ vào khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp về sản phẩm:
. Ưu thế tương đối của sản phẩm do dự án sản xuất về: giá thành, chất lượng, mẫu
mã, điều kiện lưu thông và tiêu thụ.
cầu bổ sung vốn lưu động và những khoản mục chi phí cần thiết khác.
Dựa trên những tính toán cơ bản thì chủ dự án có trách nhiệm bỏ một phần vốn tự có của mình vào tổng khoản vay và đó được coi là điều kiện cần đảm bảo về uy tín và độ
an toàn, phòng tránh rủi ro của khoản tín dụng trung - dài hạn.
- Tiến độ bỏ vốn đầu tư: có ý nghĩa rất quan trọng, đặc biệt là đối với những công
trình có thời gian xây dựng dài, cần thiết phải phân bổ tiến độ bỏ vốn theo giai đoạn
thích hợp để tạo điều kiện cho việc điều hành vốn của ngân hàng.
- Yếu tố quyết định trực tiếp cho việc lựa chọn cho vay hay không chính là khả
năng sinh lợi của dự án vì ngân hàng cũng là một đơn vị sản xuất kinh doanh nên họ
cũng phải quan tâm tới lợi nhuận của dự án. Vì vậy, trước khi bỏ vốn đầu tư, khách hàng
và ngân hàng thường tiến hành thẩm định tính khả thi của dự án qua một số chỉ tiêu sau:
+ Khả năng thu nhập của dự án trên doanh thu và chi phí vận hành hàng năm của
dự án
Doanh thu thuần = Doanh thu toàn bộ - Thuế VAT
Tỷ suất lợi nhuận =
Lãi thuần
Tổng vốn đầu tư
Nếu tỷ suất lợi nhuận của dự án > lãi suất tiền gửi thì nên đầu tư
+ Thời gian hoàn vốn: là số năm mà dự án cần thiết phải hoạt động để tổng số lợi
nhuận và khấu hao thu được bù đắp số vốn đầu tư bỏ ra ban đầu.
Thời gian hoàn vốn =
Vốn đầu tư
(Lợi nhuận + khấu hao) Bình quân một năm
Thời gian hoàn vốn phản ánh hiệu quả của đầu tư, thời gian hoàn vốn càng nhanh
C
i
: khoản chi cho đầu tư ở năm thứ i
Ngân hàng cho vay khi NPV > 0 vì khi đó dự án có tính khả thi, doanh nghiệp sẽ
có lãi và có thể trả nợ ngân hàng.
+ Chỉ tiêu suất thu hồi nội bộ (IRR)
Suất thu hồi nội bộ là lãi suất chiết khấu mà tương ứng với nó giá trị của NPV = 0
21
121
1
)(
NPVNPV
rrNPV
rIRR
Suất thu hồi nội bộ là lãi suất lớn nhất mà dự án có thể chịu đựng được. Dự án có
tính khả thi khi IRR > lãi suất vay dự án vì khi đó doanh nghiệp vừa trả được nợ ngân
hàng và vừa có lãi.
Ngoài các công tác thẩm định nêu trên, ngân hàng còn phải thẩm định độ nhạy
của dự án đối với sự thay đổi của các yếu tố, lãi suất tỷ giá, xu thế biến động của nền
kinh tế…
Hơn nữa ngân hàng còn phải tiến hành thẩm định khách hàng vay vốn bao gồm:
thu nhập và phân tích tài liện trong hồ sơ cho vay, phân tích tài chính khách hàng: phân
tích tình hình tài chính qua các năm, phân tích các chỉ số tác nhân chung để đánh giá
doanh nghiệp… và đưa ra đánh giá, kết luận tổng quát về tình hình tài chính, sản xuất
kinh doanh của khách hàng.
Tóm lại, do đặc điểm của tín dụng trung - dài hạn là thời gian dài, độ rủi ro cao