TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA TÂM LÝ – GIÁO DỤC
Tiểu luận Giáo Dục Học
Đề tài:
Giảng viên hướng dẫn: Lê Trung Chính
Sinh viên thực hiện: Hoàng Thị Phượng Liên
Lớp: 2B07 - Khoa: Tiếng Anh
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 5/2009
Hoàng Thị Phượng Liên Tiểu luận Giáo Dục Học
MỤC LỤC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1
KHOA TÂM LÝ – GIÁO DỤC 1
TP. HỒ CHÍ MINH, THÁNG 5/2009 1
MỤC LỤC 2
MỞ ĐẦU 4
I.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
4
I.1Lý do khách quan 4
I.2Lý do chủ quan: 5
II.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
5
III.NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5
IV.KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
6
IV.1Khách thể nghiên cứu 6
Hoàng Thị Phượng Liên Tiểu luận Giáo Dục Học
II.1.3Phương pháp Nghe – Nói 20
II.1.4Phương pháp Giao tiếp 22
III.MỘT SỐ Ý TƯỞNG VỀ ĐỔI MỚI PPDH
25
III.1Bản chất của việc đổi mới PPDH tiếng Anh: 25
IV.VAI TRÒ MỚI CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN TRONG LỚP HỌC NGOẠI NGỮ THEO
QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP
26
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG ANH
BẬC THPT 28
I.TỔ CHỨC KHẢO SÁT VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
28
II.THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG ANH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG ĐƯỢC KHẢO SÁT
28
II.1Đội ngũ giáo viên tiếng Anh của trường được khảo sát 28
III.NGUYÊN NHÂN:
35
IV.MỘT SỐ BIỆN PHÁP
36
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 38
I.KẾT LUẬN
Do đó có thể khẳng định rằng việc dạy và học môn tiếng Anh chiếm vị
trí rất quan trọng trong công tác giáo dục và đào tạo ở nước ta. Chính vì ý
thức được tầm quan trọng của sự tác động to lớn của tiếng Anh đối với sự
phát triển của xã hội, Nhà nước cũng như ngành Giáo dục đã đề ra các chính
sách khuyến khích học tập, phổ biến chương trình dạy tiếng Anh rộng rãi đến
từng các bậc học và gần đây là cả ở bậc tiểu học. Việc phổ cập tiếng Anh ở các
trường đại học, cao đẳng, trung học phổ thông ngày càng phát sinh những
đòi hỏi ngày càng cao không chỉ về trình độ mà còn về phương pháp giảng
dạy của giáo viên.
Tuy vậy, trình độ ngoại ngữ của học sinh, sinh viên, cán bộ, công chức
nước ta nhìn chung còn thấp, hiệu quả sử dụng ngoại ngữ và kỹ năng giao
tiếp còn hạn chế, khả năng nghiên cứu, làm việc độc lập trong môi trường hội
4
Hoàng Thị Phượng Liên Tiểu luận Giáo Dục Học
nhập quốc tế còn yếu. Nguyên nhân là do việc tổ chức dạy và học ngoại ngữ ở
các cấp học còn nhiều hạn chế, một bộ phận giáo viên dạy ngoại ngữ còn yếu
kém về năng lực chuyên môn, lạc hậu về phương pháp, cơ sở vật chất,
phương tiện phục vụ cho việc dạy và học ngoại ngữ còn nghèo nàn, lạc hậu,
…Vì vậy nhiệm vụ cấp thiết đặt ra là làm thế nào để nâng cao được chất
lượng đào tạo đặc biệt về mặt phương pháp giảng dạy tiếng Anh.
I.2 Lý do chủ quan:
Giáo dục THPT hiện nay đã và đang từng bước nâng chất lượng và
hiệu quả giáo dục, song còn gặp nhiều bất cập đã được chỉ ra nhiều trên các
phương tiện thông tin đại chúng. Các trường THPT cần năng động, hiệu quả
hơn trong việc sử dụng phương pháp dạy học nói chung và phương pháp
dạy học tiếng Anh nói riêng. Là sinh viên chuyên ngành Sư phạm tiếng Anh
luôn quan tâm về mặt phương pháp giảng dạy tiếng Anh đặc biệt ở các
trường THPT và mong muốn góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đổi mới
toàn diện giáo dục, cũng như góp phần đào tạo thế hệ trẻ có năng lực tiếng
Anh phục vụ cho bối cảnh đất nước trước thềm hội nhập. Xét theo định
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG
PHÁP GIẢNG DẠY TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG THPT
I. Phương pháp dạy học
I.1 Phương pháp:
Có nhiều cách hiểu khác nhau về phương pháp vì nó là một khái niệm
rất trừu tượng.
Theo lý thuyết hoạt động phương pháp là cách thức của chủ thể tác
động vào đối tượng nhằm đạt được mục đích đã đề ra.
Phương pháp là cách thức, con đường, phương tiện, là tổ hợp các bước
mà chủ thể phải đi theo để đạt được mục đích. Phương pháp là tổ hợp những
quy tắc, nguyên tắc dùng để chỉ đạo thành công. Phương pháp là hình thức
của sự tự vận động bên trong của nội dung (Hêghen).
Theo lý thuyết hệ thống thì hoạt động là một hệ thống bao gồm ba
thành tố cơ bản: mục đích – nội dung – phương pháp. Phương pháp là con
đường, là sự vận động của nội dung đến mục đích. Khi định nghĩa phương
pháp không thể tách rời cái đích của nó. Một thành tố chỉ là phương pháp
trong một hệ thống nhất định. Cũng thành tố ấy đặt trong một hệ thống khác
có thể nó không còn là phương pháp nữa. Định nghĩa về phương pháp chỉ
mang tính tương đối.
I.2 Phương pháp dạy học:
Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất của
giáo viên và học sinh do giáo viên tổ chức, điều khiển, học sinh tự tổ chức tự
điều khiển nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học.
Phương pháp dạy học là sự kết hợp hữu cơ thống nhất biện chứng
giữa hoạt động dạy và hoạt động học trong quá trình dạy học.
Phương pháp dạy học theo nghĩa rộng bao gồm:
• Phương tiện dạy học
• Hình thức tổ chức dạy học
7
Hoàng Thị Phượng Liên Tiểu luận Giáo Dục Học
• Nhóm phương pháp tổ chức và thực hiện hoạt động
nhận thức - học tập
• Nhóm phương pháp kích thích và hình thành động cơ
hoạt động nhận thức – học tập.
• Nhóm phương pháp kiểm tra đánh giá hoạt động nhận
thức học tập
Trong từng nhóm phương pháp tổ chức thực hiện hoạt động nhận
thức - học tập bao gồm nhiều nhóm phương pháp dạy học bộ phận như:
• Nhóm phương pháp dạy học dùng lời
• Nhóm phương pháp dạy học trực quan
• Nhóm phương pháp dạy học thực hành
Dựa trên mức độ, tính chất hoạt động nhận thức của học sinh (đại
diện M.N.Scatkin, I.Ia.Lecne …):
• Phương pháp dạy học minh họa - giải thích
• Phương pháp dạy học tái hiện
• Phương pháp trình bày có tính chất vấn đề
• Phương pháp tìm tòi bộ phận
• Phương pháp nghiên cứu
Dựa vào các mục đích dạy học cơ bản được thực hiện trong quá
trình dạy học (đại diện M.A Đanhilôp, B.P.Exipôp …)
• Nhóm phương pháp hình thành tri thức (thuyết trình,
đàm thoại, trực quan …)
• Nhóm phương pháp hình thành kỹ năng (luyện tập, làm
thí nghiệm …)
• Nhóm phương pháp kiểm tra, đánh giá tri thức, kĩ năng,
kĩ xảo học sinh.
Dựa trên các bước phát triển của một bài dạy
• Nhóm phương pháp mở đầu (khởi động) bài dạy
• Nhóm phương pháp triển khai bài dạy
9
Hoàng Thị Phượng Liên Tiểu luận Giáo Dục Học
- Diễn giảng: nhằm trình bày một vấn đề có tính phức tạp, trừu
tượng và khái quát trong một thời gian tương đối dài, PP này ít được dùng ở
trường THPT.
• Dựa trên mức độ, tính chất hoạt động nhận thức
- Thuyết trình thông báo – tái hiện: có tính chất thông báotrong
lời giảng của thầy và tính tái hiện sau khi lĩnh hội ở trò. PP này chỉ cho phép
HS đạt đến trình độ tái hiện của sự lĩnh hội thôi nên sự hoạt động của trò là
tương đối thụ động.
- Thuyết trình nêu vấn đề: có cấu trúc thuyết trình, song phát
triển theo một hướng tích cực hơn – trình bày mang tính “nêu vấn đề”. GV
trình bày hệ thống tri thức theo một trình tự logic hợp lý dưới dạng nêu vấn
đề gợi mở, “tính nêu vấn đề” thể hiện ở chỗ “vấn đề” được nêu ra không nhất
thiết phải mang tính thường xuyên, liên tục và không phải là một giai đoạn,
một bước hay một chu kì như dạy học nêu vấn đề. Việc “nêu vấn đề” ở đây
mang tính định hướng cho tư duy của HS và định hướng cho sự trình bày của
GV. Việc “nêu vấn đề” không làm thay đổi bản chất của phương pháp mà lại
có khả năng kích thích được tư duy của HS.
Ưu điểm, nhược điểm:
• Ưu điểm:
+ Cho phép trình bày nội dung lý thuyết khó, phức tạp, chứa
đựng nhiều thông tin mà HS không tự tìm hiểu được.
+ Cho phép trình bày mô hình mẫu của tư duy logic, của cách
trình bày và lí giải vấn đề một cách khoa học
+ Hình thành tư tưởng tình cảm tốt đẹp, niềm tin và hoài bão qua
ngôn ngữ và nhân cách của giáo viên.
+ Tạo điều kiện phát triển năng lực chú ý, tư duy bằng khái niệm
ở HS.
+ Tính kinh tế cao.
• Nhược điểm:
I.5.2 Nhóm phương pháp dạy học trực quan
Định nghĩa: là PP sử dụng những phương tiện trực quan,
phương tiện kĩ thuật dạy học để hình thành, củng cố, hệ thống hóa và
kiểm tra tri thức, kĩ năng, kĩ xảo ở HS.
Phân loại phương pháp trực quan: phương pháp quan sát
và phương pháp trình bày trực quan.
Ưu điểm và hạn chế:
- Giúp HS có thông tin đầy đủ và sâu sắc về đối tượng nghiên
cứu trên cơ sở huy động nhiều giác quan tham gia vào quá trình tri giác đối
tượng nhận thức, từ đó phát triển tư duy trừu tượng, hình thành khái niệm về
đối tượng …
- Làm thỏa mãn và phát triển hứng thú người học.
- Làm cho tài liệu học tập vừa sức hơn đối với HS.
- Tăng cường lao động của người học và bằng cách đó nâng cao
nhịp điệu nghiên cứu tài liệu học tập.
- Nếu lạm dụng HS sẽ phân tán sự chú ý, thiếu tập trung vào các
dấu hiệu bản chất hạn chế phát triển tư duy trừu tượng.
I.5.3 Nhóm các phương pháp thực hành
PP GV tổ chức cho HS trực tiếp hoạt động thực hành, thực tiễn để tìm
tòi tri thức mới hay vận dụng tri thức vào thực tiễn nhằm củng cố, rèn luyện
kĩ năng, kỹ xảo … nhóm PP này bao gồm PP luyện tập, ôn và PP làm việc
trong phòng thí nghiệm.
Nhóm này gồm có:
+ Luyện tập.
+ Độc lập làm thí nghiệm.
+ Ôn tập.
Ưu điểm
13
Hoàng Thị Phượng Liên Tiểu luận Giáo Dục Học
Nhóm phương pháp này rèn cho học sinh được kỹ năng, kỹ xảo
• Các thành viên cùng có cơ hội tham gia chia sẻ ý kiến.
• Có thể thay đổi cấu trúc của các nhóm, tạo cơ hội cho các
thành viên có dịp trao đổi nhiều người với nhau.
• Tạo cơ hội để hội họp các ý kiến và quan điểm khác
nhau, giúp quá trình giải quyết vấn đề.
• Xây dựng ý thức làm việc theo nhóm.
• Một hoặc hai thành viên của nhóm có thể trội hơn thì các
thành viên khác có thể bị co lại.
• PP này tốn nhiều thời gian để có sự tham gia của tất cả
thành viên.
• Không phù hợp với lớp đông sinh viên.
I.6.3 Dạy học theo dự án
Dạy học theo dự án gọi tắt là dạy hoc dự án (DHDA) được hiểu
như một phương pháp dạy học hướng HS đến việc tiếp thu tri thức và kĩ
năng thông qua quá trình giải quyết một bài tập tình huống, được gọi là một
dự án (project) mô phỏng môi trường các em đang sống và sinh hoạt.
Ưu điểm và nhược điểm
• HS là người chịu trách nhiệm chính của việc học và tự
xây dựng kiến thức của mình
• Thiết lập mối liên hệ với cuộc sống ở ngoài môi trường
lớp học.
• Hướng đến các vấn đề của thế giới thật.
• Phát triển kĩ năng sống
• Tạo điều kiện cho nhiều phong cách học khác nhau được
triển khai
• Nhiệm vụ học đến được với tất cả HS
• Công nghệ thông tin được tích hợp vào quá trình học tập
15
Hoàng Thị Phượng Liên Tiểu luận Giáo Dục Học
• Tuy nhiên, dạy học theo dự án cần có các điều kiện như
Hạn chế:
• Không giúp HS “giao tiếp” được. Hoạt động chủ yếu trong lớp
là người thầy- thầy giảng giải, nói nhiều; HS thụ động ngồi nghe và ghi
chép, không có ý kiến phản hồi hoặc không tham gia giao tiếp (nói) với thầy
và bạn bè.
• Hoạt động dạy học chỉ diễn ra một chiều - HS hoàn toàn bị
động, không có cơ hội thực hành giao tiếp trong lớp; khả năng sáng tạo và
đặc biệt kĩ năng nói của HS bị hạn chế.
Một số lưu ý:
• Ở chừng mực nào đó, GV vẫn có thể áp dụng Phương pháp
Truyền thống, ví dụ: khi muốn kiểm tra sự hiểu chính xác về một văn bản
(đoạn văn, câu thơ…trong bài đọc hiểu) hoặc một cấu trúc câu phức tạp
khác với cấu trúc câu trong tiếng Việt, GV có thể yêu cầu HS dịch sang tiếng
Việt.
• Việc kiểm tra sự thông hiểu qua hoạt động dịch không nên tiến
hành thường xuyên vì sẽ tạo thói quen cho HS phải tư duy qua tiếng mẹ
đẻ (tiếng Việt) trước khi phát ngôn. Như vậy sẽ cản trở sự lưu loát (‡uency)
của HS trong giao tiếp.
• Việc đánh giá kết quả học tập của HS thông qua các hoạt động
trả lời các câu hỏi về nội dung các bài khóa; dịch các bài khóa, các đoạn văn
trích (dịch sang tiếng Việt, và dịch ngược sang tiếng Anh); thực hành các bài
tập ngôn ngữ máy móc (thường là luyện tập các mẫu câu).
GV giữ vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học, có nhiệm vụ chuẩn bị
bài khóa, câu hỏi và các bài tập ngữ pháp, giảng giải qui tắc ngôn ngữ. HS
được yêu cầu tập đọc bài khóa, học thuộc lòng từ vựng, các đoạn văn mẫu và
giải thích một cách tường minh hiện tượng ngữ pháp.
17
Hoàng Thị Phượng Liên Tiểu luận Giáo Dục Học
II.1.2 Phương pháp tự nhiên (hay trực tiếp)
Vào cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20 chủ nghĩa tư bản phương Tây đã phát
Quy trình thực hiện:
Liên tưởng ngữ nghĩa tiếng Anh một cách trực tiếp thông qua vật minh
họa, hình ảnh, hoặc sự diễn đạt bằng điệu bộ. HS được nói nhiều bằng tiếng
Anh.Ngữ pháp được giảng dạy theo phương pháp qui nạp. Sử dụng từ vựng
trong những câu chưa hoàn chỉnh. Ngôn ngữ là “nói”, không phải “viết”. Vì
vậy, HS học tiếng Anh thông dụng hằng ngày. Từ vựng được nhấn mạnh
nhiều hơn ngữ pháp.
Kỹ năng cơ bản là kỹ năng nói. Kỹ năng đọc và viết dựa trên kỹ năng
nói, phát âm được chú trọng ngay từ ban đầu. HS tự sửa lỗi của mình bất kì
khi nào có thể.
Ưu điểm:
• Phù hợp để áp dụng trong các trường tư thục có khả
năng tài chính để mời các giáo viên người bản xứ.
• Cung cấp những phương thức học tiếng Anh hứng thú
thông qua các hoạt động.
• Phương pháp này có hiệu quả trong sự phát triển tốt kĩ
năng nghe và nói đối với những người mới học, đặc biệt là HS tiểu học vì
trẻ em có khả năng bắt chước tốt.
Hạn chế:
• Yêu cầu chi phí cao để trả cho lớp học với số lượng HS
nhỏ, quan tâm được từng cá nhân HS và nghiên cứu chuyên sâu, không
phù hợp với các trường công có số lượng HS lớn trong một lớp học, ngân
quỹ hạn chế và sự đào tạo giáo viên.
• Phụ thuộc nhiều vào giáo viên. GV phải thành thạo tiếng
Anh vào khéo léo sử dụng tiếng Anh để diễn giải ý nghĩa mà không sử
dụng tiếng Việt.
19
Hoàng Thị Phượng Liên Tiểu luận Giáo Dục Học
• Luyện tập thực hành mang tính máy móc không có tính
hệ thống.
ngữ. Yêu cầu người học bắt trước mẫu do người dạy cung cấp, ví dụ: các
bài/mẩu đối thoại mẫu (dialogues) có chứa cấu trúc câu hoặc hiện tượng ngôn
ngữ cần truyền đạt. HS luyện tập mẫu đó thực chất là hình thành một thói
quen ngôn ngữ theo các hình thức như: hỏi và trả lời về bài đối thoại mẫu,
thực hành thêm một số bài tập cấu trúc (thay thế, bổ sung, chuyển đổi…).
Phương pháp này đòi hỏi GV chú ý sửa lỗi cho HS (lỗi phát âm, lỗi cấu
trúc). Các bài đối thoại mẫu cần phải chuẩn mực, các bài nghe cần được luyện
tập kết hợp với thực hành nói. Sau khi đã lĩnh hội tài liệu bằng khẩu ngữ, HS
tiếp tục luyện tập để hình thành và phát triển kĩ năng đọc và kĩ năng viết.
Ưu điểm:
• Phương pháp này có hiệu quả đối với những người mới
học, đặc biệt là HS tiểu học hoặc HS ở đầu cấp THCS. HS cảm thấy phấn
khởi và tự tin khi được nghe và tập bắt chước theo giáo viên, ví dụ: HS
làm theo lệnh của GV hoặc hát các bài hát tiếng Anh đơn giản.
Hạn chế:
• Đối với HS có trình độ cao việc học theo phương pháp
này sẽ nhàm chán nếu không có sự điều chỉnh phương thức dạy học cần
thiết.
• HS áp dụng những gì đã được lĩnh hội trong lớp học vào
thực tiễn giao tiếp ngôn ngữ là khó. Các em không thể vận dụng các hình
thức ngôn ngữ (các mẫu lời nói) được luyện tập trên lớp một cách tự nhiên
vì tuy HS có khả năng nghe hiểu, nhớ và bắt chước (nói theo) ngay tại chỗ
trong lớp học, song các em cũng rất chóng quên và cảm thấy bị “tắc” khi
gặp tình huống tương tự trong giao tiếp thực; tức là không diễn đạt được
những gì định nói mặc dù sau một thời gian dài học tập.
21
Hoàng Thị Phượng Liên Tiểu luận Giáo Dục Học
Tuy nhiên, HS có thể nghe và nói thuần thục nếu các em được rèn
luyện trong môi trường ngoại ngữ (language environment) mà điều kiện này
bị hạn chế ở các trường học THPT.
chắc kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) mà cần phải đạt được
năng lực (khả năng) giao tiếp; tức là phát triển được tất cả 4 kĩ năng ngôn ngữ
(nghe, nói, đọc, viết) và sử dụng được ngôn ngữ để giao tiếp.
Quy trình thực hiện:
Xuất phát từ bản chất của Phương pháp Giao tiếp, tài liệu giảng dạy
theo đường hướng này cần được thiết kế để đáp ứng nhu cầu giúp người học
có thể thực hiện được các chức năng ngôn ngữ khác nhau, chẳng hạn như xin
phép, đề nghị, yêu cầu ai đó làm việc gì; mô tả sự vật; bày tỏ sự quan tâm,
thích thú hoặc không thích v.v…. Để giao tiếp hiệu quả, người học cần phải
sử dụng các hình thức ngôn ngữ thích hợp với tình huống giao tiếp
(situations), trong đó yêu cầu người tham gia giao tiếp phải thể hiện được ý
định giao tiếp (intention) thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ khác nhau
(tasks).
Tiến trình giảng dạy diễn ra theo 5 bước:
• Giới thiệu ngữ liệu (presentation).
• Thực hành bài tập (Exercises).
• Hoạt động giao tiếp (Communicative activities).
• Đánh giá (Evaluation).
Ưu điểm:
Phương pháp Giao tiếp có ưu điểm hơn hẳn các phương pháp khác là
nó bao trùm mọi phương diện của quá trình dạy học ngoại ngữ: đó là các yếu
tố ngôn ngữ, văn hóa, xã hội, các yếu tố ngoài ngôn ngữ… nhằm rèn luyện kĩ
năng giao tiếp hoàn chỉnh. Đặc biệt Phương pháp Giao tiếp coi hình thành và
phát triển bốn kĩ năng giao tiếp như nghe, nói, đọc và viết là mục đích cuối
cùng của quá trình dạy học. Các kiến thức ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng và
ngữ pháp là phương tiện, điều kiện hình thành và phát triển các kĩ năng giao
23
Hoàng Thị Phượng Liên Tiểu luận Giáo Dục Học
tiếp.Vì vậy, phương pháp Giao tiếp thực sự giúp cho HS có khả năng sử
dụng được tiếng Anh để giao tiếp.
• Động viên tất cả kiến thức sẵn có về văn hoá, xã hội cũng
như ngôn ngữ của HS trong luyện tập ngôn ngữ.
• Có thái độ tích cực đối với lỗi ngôn ngữ của HS. Chấp
nhận lỗi như một phần tất yếu trong quá trình học ngoại ngữ, giúp HS học
tập được từ chính lỗi của bản thân và bạn bè.
• Không chỉ chú ý đến sản phẩm cuối cùng của bài luyện
tập (product) mà còn chú trọng đến cả quá trình (process) luyện tập và
phương pháp học tập của HS.
Phương pháp Giao tiếp đòi hỏi người học phải sử dụng các hình thức
ngôn ngữ thích hợp với tình huống giao tiếp (situations), trong đó yêu cầu
người tham gia giao tiếp phải thể hiện được ý định giao tiếp (intention) thông
qua việc thực hiện các nhiệm vụ khác nhau (tasks). Điều quan trọng là HS
được luyện tập và có thể vận dụng vào các tình huống giao tiếp tương tự.
III.MỘT SỐ Ý TƯỞNG VỀ ĐỔI MỚI PPDH
III.1 Bản chất của việc đổi mới PPDH tiếng Anh:
Hiện nay các nứơc phát triển như Canada, Anh, Mỹ, Úc đã và đang áp
dụng phương pháp thực hành giao tiếp (CLT : communivative Language
Teaching), lấy người học làm trung tâm (Learner - centered learning) là
phương pháp chủ đạo để giảng dạy Tiếng Anh cho người nước ngoài. Với
tình hình thực trạng về PPDH tiếng Anh, nghiên cứu để tìm ra phương pháp
giảng dạy tiếng Anh hiệu quả là tất yếu, vì vậy việc luôn luôn nâng cao trình
độ chuyên môn và đổi mới phương pháp giảng dạy là việc làm cần thiết và
thường xuyên.
Có nhiều cách hiểu khác nhau về PPDH, trong mỗi cách hiểu nhấn
mạnh một vài khía cạnh nào đó, phản ánh sự phát triển nhận thức về bản chất
của PPDH ở một thời kỳ xác định. Trong bối cảnh hiện nay, toàn ngành giáo
25