Ngô Sỹ Khanh Sáng kiến kinh nghiêm Địa lí 2010 - 2011
A- MỞ ĐẦU
I- LÍ DO CHON ĐỀ TÀI:
Trong mấy thập niên lại đây việc đổi mới phương pháp dạy học đã và đang được nhiều
ban ngành quan tâm và không ngừng được cải thiện. Hiện nay, để thực thi cuộc vận động
lớn của Bộ GD&ĐT, vào tháng 3- 2008 Viện khoa học giáo dục Việt Nam phối hợp với
Vụ giáo viên tổ chức hội thảo khoa học về cải tiến dạy học địa lí ở trường phổ thông. Hội
nghị đã nhất trí: “ Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy học sinh
làm trung tâm để nâng cao chất lượng dạy – học. Trong đó người thầy giữ vai trò tổ chức,
hướng dẫn, giúp đỡ, học sinh tích cực, chủ động, tìm tòi, khám phá, khai thác kiến thức
mới và rèn luyện các kỹ năng địa lí ” ( Trích bản tổng kết hội nghị )
Vì vậy, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học nói chung và môn địa lí nói riêng là một
yêu cầu cấp thiết để nâng cao chất lượng dạy – học hiện nay.
Địa lí KT – XH là môn học có những đặc trưng riêng là luôn luôn có sự biến động,
thay đổi. Bởi khác với các bộ môn khác địa lí KT – XH luôn có mối quan hệ mật thiết với
thực tế xã hội, ngược lại, những đổi mới trong xã hội đều được địa lí KT – XH quan tâm
và phản ánh, bổ sung kịp thời.
Địa lí KT – XH Việt Nam không giống như địa lí KT – XH đại cương và địa lí KT –
XH nước ngoài vì nó tập trung vào việc phân tích những khái niệm chung mang tính trừu
tượng. Mặt khác nó còn phải xây dựng cho học sinh có được thái độ và xu hướng hành vi
đúng đắn đối với nhiệm vụ của bản thân đối với thế giới và đất nước.
Chính vì điều đó việc giảng dạy môn địa lí KT – XH Việt Nam đòi hỏi phải sử dụng
những phương pháp có hiểu quả trong việc phát triển tư duy, kích thích học sinh suy
nghĩ, tìm tòi, liên hệ với thực tế để đi đến nhận định khách quan, khoa học làm cơ sở cho
việc hình thành thái độ, hành vi phù hợp với những yêu cầu về xác định chuẩn kiến thức,
kỹ năng của người giáo viên Địa lí hiện nay.
Xuất phát từ thực tế như trên thì bài tập nhận thức như là một trong những công cụ
mạnh mẽ nhất để học sinh có thể tiếp cận tốt nhất những vấn đề địa lí KT- XH Việt Nam
lớp 12. Đặc biệt là bài 20: “ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ”. Một trong những bài phản ánh
rõ nhất quá trình phát triển của nền kinh tế nước ta hiện nay.
2- Nguyên nhân của thực trạng:
- Điều đầu tiên cần nói đến là sự thống nhất quan điểm về phương pháp dạy học, có ý
kiến cho rằng dạy học lấy học sinh làm trung tâm mới chỉ là một quan điểm, xu hướng. ý
kiến khác khẳng định dạy học lấy học sinh làm trung tâm là một nhóm phương pháp.
Quan điểm nào cũng có lí lẽ chứng minh mình là đúng. Đó cũng chính là một trở ngại
cho việc ứng dụng một phương pháp dạy học mới như sử dụng bài tập nhận thức.
- Nguyên nhân thứ hai là phần địa lí KT – XH Việt Nam lớp 12 có nội dung, khối lượng
kiến thức lớn được trình bày theo từng mảng ngành kinh tế cụ thể, mỗi vấn đề thường
được bố trí trong một mục dạy nên người giáo viên chưa mạnh dạn đưa ra những phương
pháp để học sinh tự tìm tòi, khám phá do tâm lí e ngại thiếu thời gian.
- Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế có một quá trình phát triển lâu dài và phức tạp, kiến thức
về vấn đề này liên quan đến nhiều cấp học, lớp học nên không phải giáo viên nào cũng
nắm vững.
- Một thực tế quan trọng nữa là phương pháp lấy học sinh làm trung tâm ở phổ thông
chưa được thực hiện hoàn toàn mà chỉ dạy lồng ghép hoặc thực hiện ở một số tiết có thể.
- Ngoài ra, ở một số trường đang thiếu một số phương tiện dạy học truyền thống, chưa có
các trang thiết bị dạy học hiện đại. Mặt khác bài tập nhận thức là một dạng bài tập không
có sẵn nên nếu sử dụng cho giảng dạy giáo viên phải mất rất nhiều thời gian và công sức
cho việc thiết kế, xây dưng, điều này phụ thuộc nhiều vào điều kiện đời sống giáo viên.
Các kỹ năng chuyên môn về xây dựng và sử dụng bài tập nhận thức ở một số giáo viên
chưa cao, học sinh cũng chưa được làm quen với các dạng bài tập nhận thức.
- Thông thường trong các môn xã hội học sinh ít hoạt động tư duy do cách giảng cũ của
giáo viên. Để làm quen cách sử dụng bài tập nhận thức này giáo viên trước hết phải tập
cho học sinh cách tư duy, cách xác định kiến thức - kỹ năng, cách phát triển tư duy bằng
các phương pháp giảng dạy khác, dần dần đến hình thức cao nhất là sử dụng bài tập nhận
thức.
Trường THPT Quỳ Hợp 2
2
Ngô Sỹ Khanh Sáng kiến kinh nghiêm Địa lí 2010 - 2011
B- NỘI DUNG
5- Giải BTNT học sinh dễ hình thành và khắc sâu được các khái niệm và kiến thức
mới.
6- Các BTNT không có sẵn mà dựa trên nội dung biên soạn của SGK cùng với sự lao
động, gia công của giáo viên để thiết kế.
c. Các loại BTNT:
Như trên đã nói, BTNT có nhiều dạng đặc điểm bài học và phù hợp với nhận thức của
mỗi đối tượng học sinh. Các BTNT ở các dạng khác nhau kích thích giúp học sinh tự
nghiên cứu tài liệu và nhiệm vụ nhận thức đòi hỏi phải tìm cách giải mới. Vì vậy, để tổ
chức tốt công tác độc lập của học sinh trong quá trình dạy học địa lí, người giáo viên phải
Trường THPT Quỳ Hợp 2
3
Ngô Sỹ Khanh Sáng kiến kinh nghiêm Địa lí 2010 - 2011
soạn thảo được hệ thống các BTNT phù hợp với trình độ học sinh. Có nghĩa là các
BTNT sẽ có các mức độ khó, dễ phù hợp với các đối tượng học sinh. đặc điểm bài học
cũng như quy định kiểu BTNT của bài đó. Do vậy, tuỳ đặc điểm bài giảng, tuỳ trình độ
học sinh giáo viên có thể biên soạn các dạng BTNT sau đây: ( * )
TT Kiểu BTNT Cho Tìm
1 Chấp hành ĐK & A/g YC
2 Xác lập YC & A/g ĐK
3 Biến đổi ĐK & YC A/g
4 Xây dựng YC ĐK & a/g
Trong đó: ĐK là điều kiện bài cho; A/g là chương trình giải; YC là yêu cầu cần tìm
- Bài tập kiểu chấp hành: Là dạng bài tập cho trước điều kiện và chương trình giải,
học sinh tự tìm ra yêu cầu của BTNT.
- Bài tập kiểu xác lập: Là bài tập cho trước yêu cầu và chương trình giải, học sinh tự
tìm ra điều kiện của BTNT.
- BTNT kiểu biến đổi: Là loại bài tập cho trước điều kiện và yêu cầu học sinh phải
tìm ra phương pháp giải.
- BTNT kiểu xây dựng: Là kiểu bài cho trước yêu cầu, học sinh tự tìm ra điều kiện và
chương trình giải.
Ngô Sỹ Khanh Sáng kiến kinh nghiêm Địa lí 2010 - 2011
- Xây dựng nội dung kiến thức cơ bản của bài giảng là một khâu rất quan trọng , muốn
biến nội dung đó thành tri thức của bản thân học sinh lại là một khoa học và một nghệ
thuật, điều này phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp giảng dạy của thầy.
- Người thầy cần chọn hình thức và phương pháp dạy thích hợp để làm cho học sinh lĩnh
hội được kiến thức một cách sâu sắc và vững chắc. Không có một phương pháp nào là
vạn năng và được sử dụng trong toàn bộ quá trình dạy học mà thực tế là sự kết hợp của
nhiều phương pháp.Theo V.Okon và M.A.Đam Lov ( Nga) BTNT nó bao hàm một cái gì
chưa biết đòi hỏi phải cố tìm tòi, sáng tạo và hoạt động tư duy loại bài này sẽ đưa học
sinh ra ngoài giới hạn của những khái niệm vốn có .
- Qua bài tập học sinh không những nắm vững kĩ năng, kĩ xảo, lí thuyết, thực hành mà
còn nắm được một số phương pháp hoạt động trí tuệ và nó sẽ thay cho việc diễn tả,
thuyết trình của giáo viên trong việc thực hành khái niệm thông qua khai thác, tài liệu,
phân tích, so sánh, đánh giá sự vật hiện tượng.
- Trong BTNT có chứa đựng mâu thuẫn giữa sự hiểu biết và không hiểu biết, nên chỉ giải
quyết được khi học sinh có ham muốn tìm hiểu vấn đề một cách độc lập và tích cực giải
quyết nó.
Mặc dù để chuẩn bị cho học sinh giải quyết tốt BTNT giáo viên phải mất nhiều thời
gian, công sức nhưng sẽ xây dựng được cho học sinh cách nắm vững kiến thức hiệu quả.
Đây là một ý nghĩa sư phạm lớn lao, là cơ sở cho việc hình thành thế giới quan, cho sự
phát triển tư duy, kỹ năng và kỹ xảo. Đặc biệt là rèn luyện phẩm chất, trí tuệ, tính tích
cực, tính độc lập nhận thức. Hai phẩm chất cơ bản đặc trưng của người học sinh trong
nhà trường hiện đại.
II- PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP NHẬN THỨC ( BTNT)
1. Phương pháp xây dựng BTNT.
* Nghiên cứu các cơ sở lí luận về xây dựng BTNT, tìm ra các đặc điểm, đặc trưng cơ bản
của loại BTNT có thể phân loại như sau:
* Nghiên cứu kỹ SGK từng nội dung của từng bài cụ thể để xác định được kiến thức
trọng tâm, cơ bản của bài, từ đó có thể hình thành loại BTNT phù hợp với kiểu bài đó
“ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế” ( Địa lí 12 ban cơ bản )
Sử dụng BTNT trong chương trình Địa lí KT – XH Việt Nam không phải bài nào
cũng có thể áp dụng được mà nó tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố. Nhưng cho dù là bài nào khi
xác định BTNT giáo viên cần tổ chức cho học sinh tự lực, chủ động hoạt động phát triển
tư duy mà không có sự tham gia trực tiếp của giáo viên. Đối với bài Chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, tôi mạnh dạn đưa ra một và kinh nghiệm trong sử dụng phương pháp giải BTNT
cho học sinh.
a. Cấu trúc giờ dạy:
- Cấu trúc giờ dạy theo phương pháp cũ gồm 5 bước, giáo viên phải triển khai từng bước
cụ thể trong khoảng thời gian nhất định. Theo cấu trúc đó thời gian truyền thụ, tiếp thu
kiến thức mới chỉ hạn chế trong khoảng 20 – 25 phút, thời gian còn lại dành cho các bước
khác.
- Đối với tiết học có sở dụng BTNT cấu trúc giờ học dành thời gian cho một BTNT tối đa
là 10 phút ( thông thường 5 – 7 phút ). Tuy nhiên còn phụ thuộc vào tính chất câu hỏi,
mặt bằng trình độ học sinh, ngụ ý của giáo viên đối với bài tập mà lượng thời gian có thể
thay đổi, bù trừ nhau.
- Cấu trúc giờ dạy gồm các bước như sau:
1. Ổn định tổ chức.
2. Giao BTNT cho học sinh ( Bài cũ, bài tập 1, 2, 3 )
3. Tổng kết giờ học, nhận xét đánh giá kết quả.
Ở cấu trúc này không có bước kiểm tra bài cũ, tuy nhiên bước này đã được lồng ghép
vào trong bước 2 vì dựa trên những kiến thức cũ học sinh mới giải quyết được bài tập.
Như vậy giáo viên đồng thời kiểm tra được bài cũ, vừa dành được nhiều thời gian cho
học sinh, độc lập, tích cực giải các bài tập. Như vậy, thực hiện giờ học
theo cấu trúc tiết học mới đã phát huy được vai trò chủ động, tích cực của học sinh, làm
nổi bật vai trò hướng dẫn, lãnh đạo của người thầy.
b. Cụ thể hoá các bước tiến hành:
Trường THPT Quỳ Hợp 2
6
Ngô Sỹ Khanh Sáng kiến kinh nghiêm Địa lí 2010 - 2011
- Có ý thức thái độ và trách nhiệm đối với sự phát triển kinh tế đất nước.
II- THIẾT BỊ DẠY HỌC
- Biểu đồ cơ cấu GDP phân theo khu vực kinh tế ở nước ta, giai đoạn 1990 - 2005
- Bảng số liệu cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp.
- Các sơ đồ sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành.
- Các phiếu học tập, bản đồ câm, bản đồ kinh tế chung Việt Nam.
III- HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC:
1. Ổn định lớp học: ( 2 phút )
2. Giao BTNT:
Trường THPT Quỳ Hợp 2
7
Tiết: 23
Ngô Sỹ Khanh Sáng kiến kinh nghiêm Địa lí 2010 - 2011
HOẠT ĐỘNG CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH NỘI DUNG CHÍNH
Hoạt động 1:
Tìm hiểu về cơ cấu kinh tế - các bộ phận hợp thành
cơ cấu kinh tế
Hình thức: Cả lớp. ( phút )
* Bước 1: - GV cho cả lớp xem qua phần giới thiệu
và các mục trong bài 20, yêu cầu HS trả lời các câu
hỏi sau đây:
Bài tập 1:
Dựa vào nội dung trong SGK mà các em vừa
nghiên cứu, kết hợp với vốn hiểu biết của bản thân
hãy cho biết:
+ Cơ cấu kinh tế là gì?
+ Cơ cấu kinh tế bao gồm những thành phần nào?
+ Hãy điền các thành phần kinh tế đó vào sơ đồ
sau:
* Bước 2: - Sau khi gọi lần lượt một số HS trả lời,
ngành
Cơ cấu
L. thổ
Cơ cấu
TPKT
Ngô Sỹ Khanh Sáng kiến kinh nghiêm Địa lí 2010 - 2011
tính lịch sử và chỉ được coi là hợp lí ở mỗi thời kỳ
cụ thể, vì vậy mỗi thời kỳ có một hình thái kinh tế
nhất định người ta gọi sự thay đổi đó là sự chuyển
dịch cơ cấu.
Hoạt động 2:
Phân tích sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành
Hình thức: Theo nhóm. ( 15 phút )
Bài tập 2:
* Bước 1: GV đưa ra sơ đồ cơ cấu kinh tế và biểu
đồ cơ cấu GDP phân theo khu vực kinh tế ở nước
ta giai đoạn 1990 - 2005 ( Có thế sử dụng máy
chiếu ).
* Bước 2: GV chia lớp thành nhiều nhóm nhỏ và
giao nhiệm vụ cho các nhóm:
- Các nhóm chẵn:
+ Nêu khái niệm cơ cấu ngành kinh tế.
+ Phân tích sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
trong GDP.
- Các nhóm lẽ:
+ Phân tích sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nội
bộ từng ngành.
+ Nhận xét bảng số liệu cơ cấu giá trị sản xuất
nông nghiệp. ( Bảng 27.1, SGK Tr 102- GV phóng
Ngô Sỹ Khanh Sáng kiến kinh nghiêm Địa lí 2010 - 2011
* Bước 3:
- GV gọi đại diện từng nhóm lên bảng trình bày các
nội dung của nhóm mình, lần lượt các thành viên
góp ý bổ sung.
- GV đưa ra thông tin phản hồi bằng các sơ đồ, sau
đó chuẩn kiến thức (Chuẩn KT gắn với sơ đồ)
* Bước 4: Chuyển ý
Trong quá trình phát triển kinh tế nếu như phân
công lao động xã hội là cơ sở cho việc hình thành
cơ cấu ngành thì chế độ sở hữu lại là nền tảng để
hình thành cơ cấu thành phần kinh tế. ( ghi mục 2 )
Hoạt động 3:
Phân tích sự chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế
Hình thức: Nhóm
* Bước 1:
- GV chia lớp thành 4 nhóm, yêu cầu học sinh dựa
nghiệp, tăng tỷ trọng ngành thuỷ
sản.
* Trong nông nghiệp: Giảm tỷ
trọng ngành trồng trọt, tăng tỷ
trọng ngành chăn nuôi.
* Trong thuỷ sản: Giảm tỷ trọng
ngành đánh bắt, tăng tỷ trọng
ngành nuôi trồng.
+ Trong khu vực II:
GDP phân theo thành phần kinh tế trên bảng.
Bài tập 3:
+ Nhóm 1 -3: Hoàn thành nội dung vào phiếu học
tập số 1: ( GV chuẩn bị vào giấy roki )
+ Nhóm 2 -4: Hoàn thành nội dung vào phiếu học
tập số 2: ( GV chuẩn bị vào giấy roki )
a. Khái niệm:
Cơ cấu TPKT là tương quan theo
tỷ lệ giữa các TPKT tham gia vào
các ngành, các khu vực hay các bộ
phận hợp thành nền kinh tế.
b. Chuyển dịch cơ cấu thành phần
kinh tế
- Kinh tế nhà nước giảm tỷ trọng
nhưng vẫn giữ vai trò chủ đạo.
- Kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn
đầu tư nước ngoài có xu hướng
tăng.
+ S ự chuyển d ịch như trên là phù
hợp với đ ường lối phát triển kinh
tế nhiều thành phần trong thời kỳ
mới.
Trường THPT Quỳ Hợp 2
11
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1
- Nêu khái niệm cơ cấu thành phần kinh tế?
- Kể tên một số thành phần kinh tế ở nước ta?
GV đã phát, chọn cho ngành KT của cặp mình một
vị trí thích hợp và dán lên trên bản đồ.
* Bước 2:
3. Chuyển dịch cơ cấu lãnh thổ
kinh tế.
a. Khái niệm:
Là tương quan tỷ lệ giữa các
khu vực, các vùng được sắp xếp
một cách tự phát hay tự giác và có
mối quan hệ mật thiết với nhau.
b. Sự chuyển dịch cơ cấu lãnh thổ:
- Trong phạm vi cả nước: đã hình
thành ba vùng kinh tế trọng điểm:
Bắc - Trung - Nam.
- Trong phạm vi các vùng: đã hình
thành các vùng KT động lực, vùng
chuyên canh quy mô lớn.
Trường THPT Quỳ Hợp 2
12
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 2
- Phân tích sự chuyển dịch TPKT nhà nước?
- Phân tích sự chuyển dịch TPKT ngoài nhà nước?
Phân tích sự chuyển dịch TPKT có vốn đầu tư NN?
minh hoạ
Dạy theo hướng sử dụng
BTNT
Dạy theo hướng giải thích
minh hoạ
Sau khi dạy mỗi tiết đều tiến hành kiểm tra 15 phút ở cả hai lớp đối chứng và lớp thực
nghiệm với cùng một nội dung kiến thức để thu kết quả. Nếu kết quả của dạy học có sử
dụng BTNT cao hơn dạy học theo hướng giải thích minh hoạ thì khẳng định được
phương pháp sử dụng BTNT có hiệu quả.
3. Kết quả thực nghiệm:
Sau khi tiến hành kiểm tra, kết quả thu được như sau:
• Lần dạy thứ nhất: Lớp đối chứng ( ĐC ) 12A1, lớp thực nghiệm ( TN) 12A2.
• Lần dạy thứ hai: Lớp đối chứng ( ĐC ) 12D, lớp thực nghiệm ( TN) 12A2.
Trường THPT Quỳ Hợp 2
13
Ngô Sỹ Khanh Sáng kiến kinh nghiêm Địa lí 2010 - 2011
( Giữ nguyên kết quả ban đầu )
Kết quả thu được ở lần dạy thứ nhất như sau:
Điểm 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
TN 0 0 0 0 0 4 11 28 7 2
ĐC 0 0 0 0 6 5 19 14 2 0
- Cho tổng số học sinh = 100% ta có:
Điểm 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Tổng
TN 0 0 0 0 0 8 21 54 13 4 100%
ĐC 0 0 0 0 13 11 41 31 4 0 100%
Kết quả thu được từ tiết đối chứng thứ 2 là:
Điểm 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
TN 0 0 0 0 0 4 11 28 7 2
ĐC 0 0 0 0 6 15 20 9 2 0
Qua xử lí ta có:
b. Về định lượng:
Qua kết quả kiểm tra, nhận thấy rằng: Lớp thực nghiệm có điểm số khá, giỏi, xuất sắc
cao hơn so với lớp đối chứng. Tỷ lệ học sinh đạt điểm trung bình lại ít hơn, Cụ thể: ở lớp
thực nghiệm học sinh đạt điểm khá giỏi, xuất sắc là: 92,4%, nhưng lớp đối chứng chỉ đạt:
62%, còn điểm trung bình của lớp thực nghiệm chỉ chiếm 7,6%, nhưng lớp đối chứng
chiếm 38%.
C- Bài học kinh nghiệm
Giải BTNT là phương pháp phát huy tốt tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học
sinh, phù hợp với xu hướng dạy học mới, lấy học sinh làm trung tâm. Tuy nhiên, trong
quá trình dạy học không có phương pháp nào là vạn năng và được sử dụng trong toàn bộ
quá trình dạy học mà thực tế là sự kết hợp nhiều phương pháp. Phương pháp giải BTNT
được áp dụng đối với tiết học này thực chất là cá biệt hoá phương pháp này trong hệ
thống các phương pháp được sử dụng để nêu lên tính ưu việt của nó. Điều đó cũng nói
lên trong giảng dạy bài này các phương pháp cơ bản khác không hề bị coi nhẹ.
- Bản chất của phương pháp này là quá trình hướng dẫn giải BTNT một cách tích cực độc
lập của học sinh, là sự phối hợp thống nhất giữa hoạt động chỉ đạo của giáo viên và hoạt
động lĩnh hội tích cực độc lập sáng tạo của học sinh nhằm giúp thầy – trò đạt tới mục tiêu
dạy học.
- Phương pháp giải BTNT là các bài tập không có sẵn mà dựa trên nội dung của SGK
giáo viên phải thiết kế, biên soạn ra. Vì vậy khi biên soạ ra các BTNT cần phải chính xác,
khoa học.
- Thực chất hoạt động độc lập của học sinh là quá trính giải bài tập nên theo 3 giai đoạn:
+ Giai đoan 1: Học sinh tìm hiểu điều kiện của BTNT.
+ Giai đoạn 2: Học sinh lập chương trình giải.
Trường THPT Quỳ Hợp 2
15
Ngô Sỹ Khanh Sáng kiến kinh nghiêm Địa lí 2010 - 2011
+ Giai đoạn 3: Học sinh thực hiện chương trình giải Đối với giáo viên là thực hiện hệ
thống chỉ dẫn mệnh lệnh nhằm tổ chức quá trình giải cũng nên theo 3 giai đoạn:
+ Giai đoan 1: Đặt vấn đề tạo nhu cầu nhận thức; khởi động.
kỹ năng.
2. Nguyễn Hải Châu - Phạm Thị Sen: Đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá
NXBHN - 2006.
3. Đặng Văn Đức - Nguyễn Thu Hằng: Phương pháp dạy học địa lí theo hướng tích cực
NXBĐHSP - 2004
4. Lê Nguyên Long: Thử đi tìm những phương pháp dạy học hiệu quả NXBGD - 1999
5. Mai Xuân San : Rèn luyện kỹ năng Địa lí NXBGD
6. Nguyễn Dược - Nguyễn Trọng Phúc: Lí luận dạy học địa lí NXBĐHQGHN
7. Nguyễn Kim Chương: Phương pháp toán trong địa lí NXBĐHSP - 2004
8. Nguyễn Hữu Châu: Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học
NXBGD - 2005.
9. PGS Nguyễn Ngọc Bảo - PTS Ngô Hiệu: Tổ chức hoạt động dạy học ở trường trung
học.
10. Nguyễn Trọng phúc: Phương tiện, thiết bị, kỹ thuật trong dạy học địa lí
NXBĐHQGHN - 2001.
11. Nguyễn Trọng Phúc: Trắc nghiệm khách quan về vấn đề đánh giá trong dạy học địa lí
NXBĐHQGHN - 2001.
12. Nguyễn Đức Vũ: Đổi mới phương pháp dạy học môn địa lí ở nhà trường phổ thông
NXBGD - 1999.
13. Lê Thông - Nguyễn Văn Phú - Nguyễn Minh Tuệ: Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam
NXBĐHSP - 2004.
14. Đỗ Minh Đức - Nguyễn Viết Thịnh - Vũ Như Vân: Giáo trình địa lí kinh tế - xã hội
Việt Nam NXBĐHSP - 2008.
Trường THPT Quỳ Hợp 2
17
Ngô Sỹ Khanh Sáng kiến kinh nghiêm Địa lí 2010 - 2011
MỤC LỤC
A - MỞ ĐẦU
I- Lí do chọn đề tài Trang 1