CÁC LOẠI HÌNH CÔNG TY BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 23

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BỘ MÔN KINH TẾ BẢO HIỂM
  
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
Đề tài:
CÁC LOẠI HÌNH CÔNG TY BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Giáo viên hướng dẫn : NGUYỄN VĂN ĐỊNH
Sinh viên thực hiện : TRẦN TRUNG THỊNH
Lớp : KINH TẾ BẢO HIỂM 40A
Hà Nội, 12/2001
LỜI NÓI ĐẦU
Đề án môn học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Đến nay trên thế giới bảo hiểm đã phát triển một cách hoàn thiện về số
nghiệp vụ. Bảo hiểm ra đời nhằm đáp ứng kịp thời cho nhu cầu của xã hội,
của con người. Đã có những nghiệp vụ bảo hiểm bắt buộc và có những đơn
bảo hiểm đặc biệt. Trước sự phát triển ngày một lớn mạnh như vậy, bảo hiểm
Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện mình để hòa nhập với sự phát triển
chung của bảo hiểm thế giới. Từ chỉ có một công ty bảo hiểm duy nhất, Công
ty bảo hiểm Việt Nam hoạt động từ 15/01/1965 theo quyết định số 179CP
ngày 17/12/1964 của Thủ tướng Chính phủ, đến nay đã có một loạt các công
ty bảo hiểm được thành lập do yêu cầu khách quan phù hợp với đòi hỏi của
nền kinh tế xã hội Việt Nam hiện nay.
Để nhằm tìm hiểu sâu sắc hơn các hoạt động của các Công ty bảo hiểm
Việt Nam hiện nay em xin nghiên cứu đề tài: "Các loại hình Công ty Bảo
hiểm thương mại ở Việt Nam hiện nay". Do khả năng và kinh nghiệm còn
hạn chế nên trong quá trình nghiên cứu còn nhiều thiếu sót em mong được bộ
môn Kinh tế Bảo hiểm cùng thầy giáo hướng dẫn góp ý để cho bài viết được
hoàn thiện hơn.
Đồng thời em cũng gửi lời cảm ơn tới thầy giáo hướng dẫn TS - Nguyễn

công nguyên. Xuất hiện một hệ thống cho vay với lãi suất rất cao để mua và
vận chuyển hàng hóa. Nếu hàng hóa bị mất mát, hư hại (do bất khả kháng)
người vay không phải hoàn trả khoản tiền đã vay. Hệ thống này sau này còn
được gọi là "cho vay mạo hiểm lớn".
TRẦN TRUNG THỊNH LỚP BẢO HIỂM 40A
3
Đề án môn học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
- Xứ Rhodes - 916 năm TCN. Hoàng đế xứ Rhodes đã ban hành luật
để bảo vệ các thương gia có hàng hóa bị tổn thất vì lợi ích chung của hành
trình. Các chủ hàng và chủ tàu được hưởng lợi trên các tổn thất đó phải
cùng nhau gánh chịu. Thể chế này ngày nay vẫn còn và được gọi là "quy
tắc tổn thất chung".
- Rome. Tồn tại một hệ thống cho vay nặng lãi được gọi là "cho vay
mạo hiểm lớn". Sự cho vay trong các trường hợp mạo hiểm lớn đã sinh ra sự
lạm dụng, do đó bị nhà nước bằng một sắc lệnh vào năm 1237. Chính sự cấm
đoán này làm cho các chủ ngành hàng cho vay (không nặng lãi) mà có thể
chắc chắn thu lại được số tiền đã cho vay. Từ đó dần dần hình thành và đưa
vào sử dụng một hệ thống mới và đó là cơ sở sinh ra bảo hiểm hàng hải. Các
nhóm nhà buôn chấp nhận được bảo hiểm giá trị con tàu và hàng hóa chuyên
chở nhờ vào việc trả một khoản tiền qui định. Cuối cùng vào thể kỷ 14, thỏa
thuận bảo hiểm hàng hải đầu tiên ra đời.
- Italia - 1347. Bản hợp đồng bảo hiểm cổ nhất còn lưu giữ đến ngày
nay được phát hành tại Gênes. Ở Pháp, còn giữ được một bản hợp đồng phát
hành từ năm 1437 cũng bởi các nhà bảo hiểm Genois.
- Hội bảo hiểm đầu tiên ra đời vào năm 1424 ở Gênes - Italia cho vận
chuyển đường biển và đường bộ.
- Anh Quốc 1960. Nữ hoàng Anh Quốc cho phép các hoạt động kinh
doanh bảo hiểm được thực hiện trong thời gian 90 năm. Năm 1720, các nhà
bảo hiểm LLoyd's ra đời và sau đó, 60 năm họ nắm giữ 60% rủi ro hàng hải
trên thế giới.

5
Đề án môn học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
TRẦN TRUNG THỊNH LỚP BẢO HIỂM 40A
6
Đề án môn học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Thị trường BHTM thế giới năm 1997
Nước Doanh thu
phí
( triệu USD)
Thị phần so thị
trường thế
giới(%)
Phí bình quân
đầu người
(USD/người)
Cơ cấu trong
GDP
(%)
1 2 3 4 5
Mỹ
Anh
CHLB Đức
Pháp
Thụy Sĩ
Nhật Bản
Hàn Quốc
Trung Quốc
Singapore
Malaysia
Thái Lan

1666,1(11)
2.203,6(05)
4.289,7(01)
3.896,0(02)
1.232,3(18)
10,9( 77)
1.327,3(17)
198,8( 34)
52,2( 54)
13,1( 75)
1,5 ( 86)
8,94( 09)
11,22(05 )
6,53( 14)
9,25( 07)
11,94(03 )
11,87(04 )
15,42(02 )
1,46( 62)
5,14( 22)
4,37( 26)
2,44( 44)
1,23 ( 68)
0,46 (84)
( Nguồn: Thông tin thị trường bảo hiểm – tái bảo hiểm số 4-11/99)
Ghi chú: trong ngoặc ( - - ) vị trí so thị trường thế giới.
II. BẢN CHẤT CỦA BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI
1. Định nghĩa
Bảo hiểm thương mại(BHTM)- còn được gọi là bảo hiểm rủi ro hay bảo
hiểm kinh doanh - được hiểu là sự kết hợp giữa hoạt động kinh doanh với việc

của các khoản dự trữ bằng tiền.
Các mối quan hệ kinh tế phát sinh gắn với việc tạo lập và phân phối quỹ
TRẦN TRUNG THỊNH LỚP BẢO HIỂM 40A
8
Đề án môn học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
bảo hiểm được thể hiện ở hai mặt:
 Một là, chúng nảy sinh trong quá trình huy động phí bảo hiểm để
lập quỹ bảo hiểm, nguồn thu hình thành quỹ bảo hiểm càng lớn khi số lượng
người tham gia bảo hiểm càng đông.
Hai là, chúng nảy sinh trong quá trình sử dụng quỹ bảo hiểm. Quỹ bảo hiểm
trước hết và chủ yếu được sử dụng để bù đắp những tổn thất cho người được
bảo hiểm khi xảy ra các rủi ro được bảo hiểm làm ảnh hưởng đến sự liên tục
của đời sống sinh hoạt và hoạt động sản xuất - kinh doanh trong nền kinh tế -
xã hội. Quỹ bảo hiểm cần được sử dụng trang trải các chi phí hoạt động của
chính người bảo hiểm, tham gia vào các mối quan hệ phân phối mang tính
pháp định (thuế, phí...) và mang lại lãi kinh doanh cho người bảo hiểm kinh
doanh
Như vậy, về bản chất, BHTM là biện pháp chia nhỏ tổn thất của một
hay một số ít người có khả năng cùng gặp một loại rủi ro dựa vào một quỹ
chung bằng tiền được lập bởi sự đóng góp của nhiều người cũng có khả năng
gặp tổn thất đó thông qua hoạt động của công ty bảo hiểm.
Trước đây, trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, việc tuyệt đối hóa vai
trò kinh tế của nhà nước và kinh tế tập thể nói chung và sự độc quyền của nhà
nước trong lĩnh vực bảo hiểm đã làm cho các mối quan hệ của bảo hiểm trở
nên đơn giản và việc sử dụng quỹ bảo hiểm trở nên kém hiệu quả. Sự chuyển
hướng sang nền kinh tế thị trường hiện nay, như đã đề cập, đã tạo ra tiền đề
khách quan và cơ sở vững chắc cho các hoạt động bảo hiểm.
Tuy nhiên bên cạnh đó, việc hình thành một nền kinh tế thị trường
nhiều thành phần sẽ làm cho các mối quan hệ kinh tế (trong đó có các mối
quan hệ thuộc bảo hiểm) sẽ trở nên đa dạng, phức tạp. Bảo hiểm ở mọi góc độ

bảo cho sự an toàn (an toàn động), hơn nữa, nó là một loại hàng hóa trên thị
trường bảo hiểm thương mại. Tổ chức hoạt động bảo hiểm với tư cách là một
đơn vị cung cấp một loại sản phẩm dịch vụ cho xã hội, tham gia vào quá trình
phân phối như là một đơn vị ở khâu cơ sở trong hệ thống tài chính của quốc
gia.
TRẦN TRUNG THỊNH LỚP BẢO HIỂM 40A
10
Đề án môn học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Bảng 2: Số lượng công ty bảo hiểm một số nước trong khu vực và trên thế
giới
Quốc gia Công ty bảo
hiểm
Công ty tái
bảo hiểm
Tổng số
Trung quốc 8 1 9
Hồng Kông 240 16 256
Ấn Độ 4 1 5
Inđônêxia 91 4 95
Malaysia 53 8 61
Philippines 98 3 101
Singapore 51 27 78
Đài Loan 22 1 23
Thái Lan 67 2 69
Việt Nam 16 1 17
(Nguồn: VINARIE)
Mặt khác, sự tồn tại và phát triển của các hoạt động bảo hiểm không chỉ
đáp ứng nhu cầu đảm bảo an toàn (cho các cá nhân, doanh nghiệp) mà còn
đáp ứng nhu cầu vốn không ngừng tăng lên của quá trình tái sản xuất mở
rộng, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, với việc thu phí theo "nguyên tắc

Anh 6,7 50,1 35,0 2,2 6,0
Nguồn: FFSA (L'Assurance Francaise 1996)
Với các vai trò trên, bảo hiểm phát huy tác dụng hết sức quan trọng đối
với nền kinh tế, đặc biệt, trong điều kiện nền kinh tế chuyển sang hoạt động
theo cơ chế thị trường. Tác dụng đó chính là: tập trung, tích tụ vốn đảm bảo
cho quá trình tái sản xuất (giản đơn và mở rộng) được thường xuyện và liên
tục. Tác dụng này càng quan trọng đối với nước ta hiện nay khi mà nó có thể
góp phần tích cực vào việc tăng số vốn đầu tư chính từ nội bộ của nền kinh tế,
huy động và tận dụng một cách triệt để nhất các quỹ tiền tệ nằm rải rác trong
dân cư.
Chính vì những tác dụng tích cực nói trên, của bảo hiểm, mà ở bất kỳ
quốc gia nào, dù đã phát triển hay đang phát triển, chính phủ luôn tìm nhiều
cách khác để thúc đẩy, khuyến khích hoạt động bảo hiểm phát triển, tăng số
lượng các loại hình bảo hiểm bắt buộc, miễn giảm thuế thu nhập doanh
nghiệp đối với người kinh doanh bảo hiểm hoặc miễn giảm thuế doanh thu
đánh trên phí bảo hiểm, thuế thu nhập cá nhân đánh trên các khoản tiền bảo
hiểm được nhận lương đối với người được bảo hiểm, tạo điều kiện thuận lợi
TRẦN TRUNG THỊNH LỚP BẢO HIỂM 40A
12
Đề án môn học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
cho nhà bảo hiểm đầu tư.
III. Đặc điểm của bảo hiểm thương mại.
Bảo hiểm thương mại là một bộ phận trong hệ thống bảo hiểm nói
chung, là hoạt động bảo hiểm được thực hiện bởi các tổ chức kinh doanh bảo
hiểm trên thị trường bảo hiểm thương mại. Bảo hiểm thương mại chỉ những
hoạt động mà ở đó các doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro trên cơ sở
người được bảo hiểm đóng một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm đều doanh
nghiệp bảo hiểm bồi thường hay trả tiền bảo hiểm khi xảy ra các rủi ro đã
thỏa thuận trước trên hợp đồng.
Nội dung của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, ngoài mối quan hệ giữa

đoì hỏi phải đảm bảo nguyên tắc cơ bản thứ hai là nguyên tắc "trung thực
tuyệt đối".
Nhìn chung, bảo hiểm thương mại có một số đặc điểu sau:
- Trước tiên, hoạt động bảo hiểm thương mại là một hoạt động thỏa
thuận (còn gọi là bảo hiểm tự nguyện).
- Hai là, sự tương hỗ trong bảo hiểm thương mại được thực hiện trong
"cộng đồng có giới hạn" một "nhóm đóng".
- Ba là, bảo hiểm thương mại cung cấp dịch vụ đảm bảo không chỉ cho
các rủi ro bản thân mà còn cho cả rủi ro tài sản và trách nhiệm.
IV. Phân loại bảo hiểm thương mại.
1. Phân loại theo đối tượng bảo hiểm.
Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm thì toàn bộ các loại hình nghiệp vụ
được chia thành 3 nhóm.
+ Bảo hiểm tài sản.
+ Bảo hiểm con người.
+ Bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
(1) Bảo hiểm tải sản: là loại bảo hiểm lấy tài sản làm đối tượng bảo
hiểm. Khi xảy ra rủi ro tổn thất về tài sản như mất mát, hủy hoại về vật chất,
người bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường cho người được bảo hiểm căn cứ
vào giá trị thiệt hại thực tế và mức độ bảo đảm thuận tiện hợp đồng.
(2) Bảo hiểm con người: đối tượng của các loại hình này chính là tính
TRẦN TRUNG THỊNH LỚP BẢO HIỂM 40A
14
Đề án môn học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
mạng, thân thể, sức khỏe của con người. Người ký hợp đồng bảo hiểm nộp
phí bảo hiểm để thực hiện mong muốn nếu như rủi ro xảy ra làm ảnh hưởng
đến tính mạng, sức khỏe của người được bảo hiểm thì họ hoặc một người thụ
hưởng hợp pháp khác sẽ nhận được khoản tiền do người bảo hiểm trả.
(3) BHTNDS: (Bảo hiểm trách nhiệm dân sự).
BHTNDS có đối tượng bảo hiểm là trách nhiệm phát sinh do ràng buộc

trước trên hợp đồng bảo hiểm với người bảo hiểm tùy thuộc và phù hợp với
nhu cầu cũng như khả năng đóng phí. Đây chính là các loại bảo hiểm Nhân
thọ và một số trường hợp của bảo hiểm tai nạn bệnh tật.
4.Phân loại theo phương thức quản lý.
+ Bảo hiểm tự nguyện.
+ Bảo hiểm bắt buộc.
(1) Bảo hiểm tự nguyện: là những loại bảo hiểm mà hợp đồng được kết
lập dựa hoàn toàn trên sự cân nhắc và nhận thức của người được bảo hiểm.
Đây là tính chất vốn có của Bảo hiểm thương mại khi nó có vai trò như là một
hoạt động dịch vụ cho sản xuất và sinh hoạt con người.
(2) Bảo hiểm bắt buộc: được hình thành trên cơ sử luật định nhằm bảo
vệ lợi ích của nạn nhân trong các vụ tổn thất và bảo vệ lợi ích của toàn bộ nền
kinh tế xã hội. Các hoạt động nguy hiểm có thể dẫn đến tổn thất con người và
tài chính trầm trọng gắn liền với trách nhiệm dân sự nghề nghiệp thường là
đối tượng của bảo hiểm bắt buộc này.
V. Quá trình phát triển bảo hiểm thương mại ở Việt Nam.
Lịch sử ra đời và phát triển bảo hiểm ở Việt Nam có thể khái quát thành
3 giai đoạn chính.
+ Giai đoạn trước 1975.
+ Giai đoạn từ sau 1975 đến trước 18/12/1993.
+ Giai đoạn từ 18/12/1993 đến nay.
1. Trước 1975.
Trước 1975 hoạt động kinh doanh bảo hiểm khá phát triển ở miền Nam,
đã có trên 52 công ty (trong nước, ngoài nước).
Các công ty trong nước được thành lập với hình thức hội vô danh và hội
TRẦN TRUNG THỊNH LỚP BẢO HIỂM 40A
16

Trích đoạn Cụng ty cổ phần bảo hiểm Nhà Rồng (Bảo Long). Cụng ty cổ phần bảo hiểm Bưu điện (PTI).
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status