PHẦN I : MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
Trong tình hình phát triển của đất nước hiện nay, thời kì công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước. Nhiệm vụ của nhà trường là giáo dục học sinh phát triển toàn diện.
Trong những năm gần đây phong trào thi “Vở sạch chữ đẹp” của giáo viên và học sinh
cũng được quan tâm và thực hiện đạt kết quả tốt. Đúng như ông cha ta có câu “Nét chữ
nết người”. Nét chữ thể hiện tính cách của con người. Chữ đều đặn, rõ ràng, đúng và
sạch đẹp thể hiện tính cẩn thận của con người và còn thể hiện tính kiên trì, bền bỉ của
cdon người. Đặc biệt là một giáo viên Tiểu học, qua nhiều năm giảng dạy tôi thấy chữ
viết của giáo viên có ảnh hưởng rất lớn tới chữ viết của học sinh vì học sinh Tiểu học
rất hay bắt chước và chúng thường xuyên xem thầy cô giáo là tấm gương sáng để noi
theo. Chữ viết của học sinh có quan hệ mật thiết với chất lượng học tập ở các môn học
khác. Nếu viết chữ đúng mẫu, rõ ràng, tốc độ nhanh thì học sinh có điều kiện ghi chép
bài tốt, nhờ vậy mà kết quả học tập sẽ cao hơn. Vì vậy, việc luyện viết chữ đẹp là một
việc làm cần thiết đối với người giáo viên. Chữ đúng, đẹp là một trong những yếu tố
quan trọng nhất để góp phần hình thành nhân cách cho trẻ, đó cũng là mong muốn,
nguyện vọng của toàn ngành và xã hội đặt ra.
Qua nhiều năm giảng dạy, tôi nhận thấy rằng chữ viết của học sinh còn xấu, trình
bày bài viết còn tùy tiện, cẩu thả, chưa đúng theo yêu cầu đặt ra . Để giúp học sinh viết
chữ đúng, đẹp nhằm nâng cao chất lượng học tập, tôi mạnh dạn đưa ra một số kinh
nghiệm rèn chữ viết cho học sinh lớp Bốn.
II. MỤC ĐÍCH ĐỀ TÀI
Qua thực tiễn ta thấy, phân môn Tập viết có vò trí quan trọng đặc biệt ở Tiểu học.
Một trong những kó năng cơ bản của học sinh Tiểu học là kó năng viết chữ. Cũng như
cố vấn Phạm Văn Đồng nói: “Chữ viết cũng là một biểu hiện của nết người. Dạy học
sinh viết đúng, viết cẩn thận, viết đẹp là góp phần rèn luyện cho các em tính cẩn thận,
lòng tự trọng đối với mình cũng như đối với thầy, với bạn đọc bài vở của mình”. Ở bậc
Tiểu học, đòi hỏi học sinh phải nắm vững cỡ chữ, hình dáng, cấu tạo, quan hệ độ cao,
khoảng cách tọa độ, quy trình chữ viết. Các chữ viết thường, chữ viết hoa và chữ số.
Tuy nhiên phải biết viết đúng mẫu, rõ ràng, đảm bảo tốc độ viết liền mạch. Có kó năng
trình bày bài viết, thuộc các thể loại khác nhau. Mặt khác, cũng liên quan đến việc
rèn luyện, tôi quyết đònh bắt tay vào giải quyết các nội dung sau:
1.Tìm hiểu về nội dung chương trình dạy học môn Tập viết ở Tiểu học.
2.Tìm hiểu những yêu cầu cơ bản của việc luyện chữ viết.
3.Tìm hiểu về một số đặc điểm cơ bản của mẫu chữ viết cũng như một số quy đònh
của Bộ Giáo dục và Đào tạo về chữ viết ở trường Tiểu học hiện nay.
4.Rèn kó năng viết chữ đúng, đẹp theo yêu cầu đối với học sinh lớp Bốn.
3. Biện pháp giải quyết
Là người giáo viên chủ nhiệm, ai cũng mong muốn học sinh của mình tất cả đều là
những người văn hay chữ tốt. Nhưng nếu như các em học yếu, chữ viết xấu, cẩu thả, vở
chưa sạch thì kết quả sẽ ra sao? Đó là câu hỏi đặt ra mà tất cả những giáo viên cần tập
trung giải quyết kòp thời. Để đạt được điều mong muốn trên đòi hỏi cả thầy lẫn trò phải
thật kiên nhẫn. Chính vì thế, tôi vận dụng một số biện pháp để giải quyết những nội
dung cơ bản trên như sau :
3.1.Tìm hiểu về nội dung chương trình dạy học môn Tập viết ở Tiểu học.
Giáo viên nghiên cứu và nắm lại một số yêu cầu về nội dung chương trình Tập
viết hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo ở từng khối lớp như sau :
Lớp Một : Tập viết đúng tư thế, hợp vệ sinh. Viết các chữ cái cỡ vừa, cỡ nhỏ,
tập ghi dấu thanh đúng vò trí, làm quen với các chữ hoa cỡ lớn và cỡ vừa theo mẫu chữ
quy đònh, tập viết các số đã học.
Trang 3
Ví dụ :
Lớp Hai : Tập viết đúng mẫu và đều nét các chữ thường theo cỡ nhỏ, tập viết
chữ hoa cỡ vừa và cỡ nhỏ.
Ví dụ :
Lớp Ba : Viết đúng, nhanh các kiểu chữ thường và chữ hoa cỡ nhỏ. Viết rõ
ràng, đều nét một đoạn văn ngắn.
Ví dụ:
Trang 4
3.2.Tìm hiểu những yêu cầu cơ bản của việc luyện viết.
Muốn viết chữ đúng mẫu, đẹp giáo viên phải nắm được những yêu cầu cơ bản của
tập viết nét cơ bản đến viết từng chữ cái, từ viết đúng đến viết thành thạo, viết đẹp.
3.4.Rèn kó năng viết chữ đúng đẹp theo yêu cầu đối với học sinh lớp Bốn.
a)Đối với những học sinh viết sai độ cao và các chữ cái.
* Các chữ cái
Mỗi nhóm chữ cái có một đặc điểm riêng nên khi học sinh viết sai độ cao của
các chữ cái giáo viên phải cho học sinh nắm vững hình dáng, cấu tạo, quy trình viết chữ
cái. Cụ thể là giáo viên phải cho học sinh nắm vững vò trí của các đường kẻ trong vở
tập viết, tọa độ của các nét chữ, chữ cái trong khung chữ mẫu.
- Xác đònh đường kẻ :
Trên vở tập viết Trên vở ô li
Trong đó :
• Đường kẻ ngang trên.
• Đường kẻ ngang giữa.
• Đường kẻ ngang dưới.
• Đường kẻ ngang phía dưới.
+ Đường kẻ ngang, kẻ dọc : Vở luyện viết của các em đã có sẵn các đường kẻ,
giáo viên hướng dẫn cho các em cách gọi các đường kẻ. Các chữ cái có độ cao 1 đơn vò
được xác đònh bằng đường kẻ ngang trên và đường kẻ ngang dưới. Các chữ cái có độ
cao 2 đơn vò được xác đònh bằng đường kẻ ngang trên, giữa và dưới.
Ví dụ :
Đường kẻ ngang trên
Đường kẻ ngang dưới
Đường kẻ ngang trên
Đường kẻ ngang giữa
Đường kẻ ngang dưới
Đường kẻ ngang phía dưới
+ Ô vuông trên khung chữ mẫu : Các ô vuông này do các đừơng kẻ ngang dọc cắt
nhau tạo thành, khoảng cách giữa hai ô vuông nhỏ theo chiều dọc là một đơn vò chữ
chiều cao có chiều cao là 5 ô vuông(2,5) đơn vò, chữ thường có chiều cao nhỏ nhất là 2
tạo nét cong kín hoặc cong hở.
Lưu ý: Viết nét cong kín không nhấc bút, không đưa bút ngược chiều, không viết thành
2 nét, không xoay vở, nét bút không tròn quá.
*Nét móc:
+Nét móc ngược: Điểm đặt bút xuất phát từ dòng kẻ ngang trên, kéo thẳng xuống
gần đường kẻ ngang dưới thì lượn cong nét bút chạm đường kẻ ngang dưới rồi đưa cong
lên. Độ rộng của nét cong bằng
3
1
đơn vò. Điểm dừng bút cao hơn đường kẻ ngang một
chút (
3
1
đơn vò )
(1) Điểm đặt bút:
(2) Điểm uốn lượn:
(3) Điểm kết thúc:
+Nét móc xuôi : Điểm đặt bút thấp hơn đường kẻ ngang trên một chút, lượn cong
tròn nét bút sang bên phải (Phần nét cong này có độ rộng bằng
3
1
đơn vò) sau đó viết
tiếp nét thẳng đến khi chạm đường kẻ ngang dưới thì dừng lại.
(1)Điểm đặt bút:
(2)Điểm uốn lượn:
(3)Điểm kết thúc:
+Nét móc hai đầu:Nét này có phần nét móc xuôi phía trên rộng gấp đôi nét móc
bình thường phần nét móc phía dưới bằng độ rộng của nét móc ngược. Cách viết phối
hợp giữa nét móc xuôi và nét móc ngược.
1
ô) và rộng gấp đôi độ
rộng của nét bình thường .
(1)Điểm bắt đầu nét cong:
(2)Điểm chuyển tiếp giữa nét cong và nét móc hai đầu:
(3)Điểm dừng bút:
*Nét vòng (nét thắt ).
Cấu tạo nét vòng gồm hai nét cong biến thể tạo thành (một nét cong hở trái và một
nét cong hở phải). Điểm đặt bút thấp hơn đường kẻ ngang ở giữa một chút đưa nét bút
sang phải, uốn lượn nhẹ để tạo thành nét cong khép kín nhỏ. Điểm dừng bút thấp hơn
dòng kẻ ngang trên một chút.
(1)Điểm đặt bút:
(2)Điểm chuyển tiếp giữa hai nét cong:
(3)Điểm dừng bút:
c)Đối với học sinh viết sai vò trí dấu thanh:
Các dấu thanh gồm: dấu sắc ( ), dấu huyền ( ), dấu hỏi ( ), dấu ngã ( ) , dấu
nặng ( . ).
*Đối với các chữ ghi tiếng không có âm đệm và không có âm cuối vần, dấu thanh
đặt trên hoặc dưới âm chính.
Ví dụ: bò , kẻ , lá , cọ
Trang 8
*Đối với các chữ ghi tiếng có âm chính là nguyên âm đơn và nguyên âm cuối là
bán nguyên âm thì dấu thanh đặt trên chữ ghi âm đơn là âm chính
Ví dụ: màu , bạn , mùi
*Đối với các chữ ghi tiếng có âm đệm đầu vần thì dấu thanh đặt trên hoặc dưới âm
chính. (Hoặc ở các chữ ghi tiếng có âm cuối thì dấu thanh cũng đặt trên hoặc dưới âm
chính).
Ví dụ: loáng , nhoẻn
*Đối với các tiếng có nguyên âm đôi.
-Trường hợp tiếng có nguyên âm đôi mà không có âm cuối thì dấu thanh đặt ở con
-Tọa độ của điểm đặt bút hoặc dừng bút. Về cơ bản tọa độ này thống nhất ở vò trí
3
1
đơn vò chiều cao chữ cái có thể ở vò trí trên hoặc dưới đường kẻ ngang.
-Viết liền mạch:Là thao tác đưa ngòi bút liên tục từ điểm kết thúc của nét đứng
trước tới điểm bắt đầu của nét tiếp sau.
Ví dụ:
-Kó thuật lia bút:Để đảm bảo tốc độ trong quá trình viết một chữ cái hay viết nối
các chữ cái với nhau, nét bút được thể hiện liên tục nhưng dụng cụ viết (đầu ngòi bút,
phấn) không chạm vào mặt phẳng viết (giấy, bảng) thao tác đưa bút trên không ấy gọi
là “lia bút”
Ví dụ:
-Kó thuật rê bút: Đó là trường hợp viết đè lên theo hướng ngược lại với nét chữ
viết thừa, ở đây xảy ra trường hợp dụng cụ viết (đầu ngòi bút, phấn) chạy nhẹ từ điểm
kết thúc của nét đứng trước đến điểm bắt đầu của nét liền sau.
g)Ngoài việc rèn cho học sinh sai ở từng trường hợp cụ thể để cho học sinh viết chữ
đẹp, giáo viên còn phải luyện để viết nét thanh nét đậm .
Muốn vậy, đầu tiên giáo viên cho học sinh viết chữ đứng, nét đều rồi tăng dần
đến luyện cách viết chữ theo kiểu nghiêng nét thanh, nét đậm. Đồng thời giáo viên
phải hướng dẫn học sinh mua bút mài (nét thanh, nét đậm) của các cơ sở tin cậy. Giáo
viên phải hướng dẫn cách cầm bút để luyện viết.
h)Để học sinh có chữ đẹp giáo viên phải quan tâm hướng dẫn cho học sinh tư thế
ngồi viết, cách cầm bút.
Cụ thể là:
-Tư thế ngồi viết: Khi viết, học sinh ngồi ngay ngắn, lưng thẳng, không tì ngực vào
cạnh bàn, hai chân để thoải mái, đầu hơi cúi, hai mắt cách mặt vở khoảng 25 -30 cm.
Cánh tay trái tì giữ vỡ, tay phải cầm bút , viết.
-Cách cầm bút: Học sinh cầm bút và điều khiển bút bằng 3 ngón tay (ngón trỏ, cái,
giữa) của bàn tay phải. Không cầm bút bằng tay trái. Các chữ viết liền mạch, không
nhấc bút từng nét, từng chữ cái.
mẫu, tôi cũng không quên tuyên dương các em tiến bộ về chữ viết nhằm động viên
khuyến khích tinh thần học tập của các em. Đặc biệt tôi không bao giờ phê bình hoặc
cũng không phê điểm xấu cho các em mà cho các em có một cơ hội khác để vươn lên.
Cụ thể như hàng tháng giáo viên chủ nhiệm đều có tổng kết lại số vở sạch chữ đẹp của
các em đã đạt được. Qua đó giúp cho giáo viên có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc
rèn chữ viết cho các em, tức là nắm bắt được em nào có tiến bộ, em nào chưa tiến bộ
để có kế hoạch giúp đỡ các em tiếp tục.
4.Kết quả chuyển biến .
Qua một năm học, tôi áp dụng các biện pháp rèn luyện chữ viết cho học sinh vào
thực tế của lớp mình thì kết quả đạt được thật khả quan. Phần động các em viết chữ
đẹp hơn, đúng mẫu, biết trình bày bài viết khoa học, giữ gìn tập vở sạch sẽ hơn, viết
với tốc độ nhanh hơn. Cụ thể:
-Không còn học sinh viết sai, gãy nét, sai độ cao các con chữ.
Trang 11
-Học sinh viết sai khoảng cách các con chữ,viết ngửa chữ, trình bày bài viết không
cân đối: 1 em.
-Học sinh viết chữ nét thanh, nét đậm: 30 em tương đương 83,3%
Đặc biệt là vào năm học 2008 – 2009 này, khi tham gia phong trào “Vở sạch chữ
đẹp” đã đạt một giải I cấp Huyện và giải khuyến khích cấp Tỉnh
PHẦN III : KẾT LUẬN
1.Tóm lược giải pháp:
a)Về phía giáo viên:
-Bản thân phải tự rèn .
-Viết chữ mẫu mực ở mọi lúc, mọi nơi như ở vở học sinh khi chấm điểm, có lời
phê, viết trên bảng lớp.
-Lập kế hoạch khảo sát trên thực tế đưa ra danh sách luyện viết chữ, chấm vở theo
từng tháng cho học sinh.
-Thường xuyên động viên khuyến khích những học sinh có tiến bộ, chữ viết đẹp.
b)Đối với học sinh:
-Rèn viết chữ ở lớp.
Châu Thò Lùng
Mục lục.
PHẦN I : Mở đầu Trang
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Mục đích đề tài 1
3.Lòch sử đề tài 2
4.Phạm vi đề tài 2
PHẦN II : Nội dung công việc.
1.Thực trang đề tài 3
2.Nội dung giải quyết 3
3.Biện pháp giải quyết 3
4.Kết quả chuyển biến 12
Trang 13
PHẦN III : Kết luận
1.Tóm lược giải pháp 13
2.Kết luận chung 13
PHẦN IV : Phụ lục.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Dạy Tập viết ở Tiểu học - Tác giả : Lê A và Trònh Đức
Minh – Nhà xuất bản Giáo dục .
2. Phương pháp dạy học Tiếng Việt 1 – Tác giả Lê Phương Nga
– Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
3. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kì III ( Tập 2 ) - Nhà
xuất bản Giáo dục .
4. Vở Tập viết lớp 1,2,3.
5. Sách hướng dẫn giảng dạy Tiếng Việt lớp 1 , 2, 3 .
Trang 14