TÌM HIỂU VỀ NGUYÊN TẮC BASEL TRONG THANH TRA
NGÂN HÀNG
PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ HIỆP ƯỚC
BASEL
I/ QUÁ TRÌNH RA ĐỜI CỦA HIỆP ƯỚC BASEL:
Vào những năm 1980, hệ thống NHTM trên thế giới phát triển
mạnh và có những dấu hiệu cạnh tranh không lành mạnh giữa các
ngân hàng. Đồng thời, quy định về vốn điều lệ của các NHTM ở
các nước khác nhau, nên dẫn đến cạnh tranh không công bằng trong
cùng một thị trường, đây là điều cấm kỵ trong cô chế hội nhập. Vì
vậy lãnh đạo các nước phát triển đã ngồi lại với nhau để tìm giải
pháp thích hợp vừa khuyến khích cạnh tranh nhưng đảm bảo công
bằng và an toàn cho người gửi tiền, đó là một trong những lí do
quan trọng cho sự ra đời Hiệp ước Basel. Basel là yêu cầu về an
toàn vốn do các ngân hàng thuộc các nước nhóm G10 khởi xướng
và được Ủy ban Quản lí ngân hàng thuộc ngân hàng Thanh toán
Quốc tế (BIS) ban hành lần đầu tiên vào năm 1+88, xuất phát từ
những cuộc khủng hoảng về tiền tệ quốc tế và thị trường ngân
hàng, mà đáng quan tâm nhất là sự sụp đổ của ngân hàng Herstatt
ở Tây Đức vào thời điểm đó. Do tính thiết thực của nó nên cộng
đồng các tổ chức tài chính, ngân hàng của hơn 100 nước khác
cùng hưởng ứng. Để phù hợp với những thay đổi lớn của thị
trường, Basel đã được cải tiến và sửa đổi lần thứ hai (Basel II) vào
năm 2001 và có hiệu lực vào năm 2006. Ủy ban Basel bao gồm
Thống đốc Ngân hàng Trung ương của nhóm G10 và một số nước
có hệ thồng ngân hàng lớn mạnh hàng đầu thế giới bao gồm Bỉ,
Canada, Pháp, Đức, Itaia, Nhật, Luxembua, Hà Lan, Tây Ban
Nha, Thụy Sĩ, Anh, Mỹ đã kí Hiệp ước Basel (Basel Accord),
một cơ quan gọi là Hội đồng Basel về giám sát ngân hàng quốc tế
cũng đã được chính thức thành lập để theo dõi và chỉ đạo việc
thực thi Hiệp ước. Ngoài ra, hệ thống ngân hàng của nhiều quốc
vốn quốc tế là mức độ tuân thủ chỉ tiêu an toàn vốn tối thiểu – đây
là nội dung nền tảng của Basel I (1988). Ngoài những ảnh hưởng
của quá trình tự do hóa tài chính và sự tiến bộ trong công nghệ
ngân hàng cũng như xu hướng đa dạng hóa các sản phẩm tài chính
diễn ra rầm rộ vào những thập kỷ cuối thế kỷ 20 thì yêu cầu xây
dựng một nền tảng so sánh hiệu quả hoạt động ngân hàng và đảm
bảo hạn chế rủi ro trong hệ thống thanh toán liên ngân hàng toàn
cầu là động lực dẫn đến sự ra đời của Hiệp ước Basel I và sau đó
hơn 10 năm là Basel II (1999).
Nội dung:
Năm 1988, Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng đã phê duyệt
một văn bản đầu tiên lấy tên là Hiệp ước về vốn của Basel (Basel I).
Ban đầu, Basel I chỉ áp dụng trong hoạt động của các ngân hàng quốc
tế thuộc nhóm 10 nước phát triển. Sau này, Basel I đã trở thành chuẩn
mực toàn cầu và được áp dụng ở trên 120 quốc gia. Theo quy định
của Basel I, các ngân hàng cần xác định được tỷ lệ vốn tối thiểu
(Capital Adequacy Ratio - CAR) đạt tối thiểu 8% để bù đắp cho rủi
ro, đây là biện pháp dự phòng bắt buộc nhằm đảm bảo rằng các ngân
hàng có khả năng khắc phục tổn thất mà không ảnh hưởng đến lợi ích
của người gửi tiền.
Phương trình 1.1:
Hệ số CAR được tính như sau:
Tỷ lệ vốn tối thiểu (CAR) = Tổng vốn / Tài sản có rủi ro (RWA)
- Tổng vốn của ngân hàng được chia làm 2 loại:
Vốn cấp 1_ Vốn tự có cơ bản: bao gồm cổ phần thường, cổ
phần ưu đãi dài hạn, thặng dư vốn, lợi nhuận không chia, dự phòng
chung các khoản dự trữ vốn khác, các phương tiện ủy thác có thể
chuyển đổi và dự phòng lỗ tín dụng). đó chính là phần vốn điều lệ và
các quỹ dự trữ được công bố.
Vốn cấp 2_Vốn tự có bổ sung: vốn này được xem là vốn có
Hạn chế:
Mặc dù Basel I đã giúp quản trị ngân hàng hiệu quả hơn, đảm
bảo khả năng chống đỡ của ngân hàng với rủi ro tốt hơn. Tuy nhiên,
qua quá trình dài áp dụng với xu thế phát triển như vũ bão của hệ
thống ngân hàng trên thế giới thì Basle I với bản sửa đổi năm 1++6
vẫn có khá nhiều điểm hạn chế.
Thứ nhất, phân loại rủi ro chưa chi tiết cho các khoản cho vay. Hệ số
rủi ro chưa chi tiết cho rủi ro theo đối tác (ví dụ khả năng tài chính
của khách hàng) hoặc theo đặc điểm của khoản tín dụng (ví dụ như
theo thời hạn). điều này chỉ ra rằng có thể các ngân hàng có cùng tỷ
lệ an toàn vốn nhưng có thể đang đối mặt với các loại rủi ro khác
nhau, ở mức độ khác nhau.
Thứ hai, Basel I chưa tính đến lợi ích của đa dạng hoá hoạt động. Các
lý thuyết về đầu tư chỉ ra rủi ro sẽ giảm thông qua đa dạng hoá danh
mục đầu tư. Tuy nhiên, theo Basel 1, quy định về vốn tối thiểu
không khác biệt giữa một ngân hàng có hoạt động kinh doanh đa
dạng (ít rủi ro hơn) và một ngân hàng kinh doanh tập trung (nhiều
rủi ro hơn). Một khoản nợ riêng lẻ yêu cầu một lượng vốn giống như
một danh mục đầu tư được đa dạng hóa, với cùng một giá trị (ví dụ
không có sự khác biệt nào giữa một khoản vay $100 và 100 khoản
vay $1).
Thứ ba, Basel I chưa tính đến các rủi ro khác. Trong quy định vốn
tối thiểu của mình, Basle I mới chỉ đề cập đến những rủi ro về tín
dụng, chưa đề cập đến những rủi ro khác như rủi ro hoạt động, rủi ro
quốc gia, rủi ro ngoại hối; đề cập chưa đầy đủ về rủi ro thị trường.
Thứ tư, một số các quy tắc do Basle I đưa ra không thể vận dụng
trong trường hợp ngân hàng sáp nhập hay tập đoàn ngân hàng, ngân
hàng mẹ, ngân hàng - chi nhánh. Xu thế phát triển hiện nay là các
ngân hàng dần dần sáp nhập với nhau để tạo thành những tập đoàn
lớn có khả năng cạnh tranh cao và có tiềm lực mạnh về tài chính,
bản
Basel trong công tác giám sát ngân hàng.
Các nguyên tắc này đã được thiết kế cho các chuyên
gia
giám sát,
nhóm giám sát khu vực và thị trường nói chung theo nguyên tắc
dễ áp dụng và
kiểm
chứng. Bộ nguyên tắc cơ bản bao hàm một số
nhóm nội dung chủ yếu
sau:
- Các Nguyên tắc thuộc về điều kiện tiên quyết cho
việc giám sát ngân hàng hiệu
qu
ả
:
được thể hiện bởi
nguyên tắc 1. Nguyên tắc chỉ ra điều kiện của một hệ thống
giám
sát
nghiệp vụ ngân hàng có hiệu quả là: i) phải có một
khung pháp lý phù hợp; ii) phân
định
mục tiêu, nguồn lực và
trách nhiệm rõ ràng giữa các cơ quan giám sát; iii) quy định
về
chia sẻ và bảo mật thông
tin.
- Các nguyên tắc về cấp phép và cơ cấu: bao gồm từ
nguyên tắc 2 đến nguyên tắc 5, với
giám sát nghiệp vụ ngân hàng được làm và nhất thiết
phải biết xử lý trong hoạt động
của
mình ví dụ như: yêu cầu
về an toàn vốn cho các ngân hàng, xác định rõ những khu vực
nào
của vốn ngân hàng chịu rủi ro; đánh giá các chính sách,
thực tiễn hoạt động, các thủ
tục
cho
vay vốn, đầu tư, việc kiểm
soát vốn vay hiện tại và hồ sơ đầu tư của ngân hàng đó;
đánh
giá chất lượng tài sản và tính thích hợp của các điều khoản
chống thất thoát và quĩ dự trữ
thất
thoát khoản
vay.
- Các nguyên tắc về giám sát nghiệp vụ ngân hàng
hiện nay: bao gồm từ nguyên tắc
số
16
đến nguyên tắc số
20. Nhóm nguyên tắc này quy định yêu cầu đối với một hệ
thống
giám sát nghiệp vụ ngân hàng hiệu quả bao gồm cả các
hình thức giám sát từ xa và
giám
khi
ngân hàng không đáp ứng được những yêu cầu cơ bản
(ví dụ tỷ lệ an toàn vốn tối
thiểu
không đảm bảo, năng lực
quản trị điều hành yếu ). Trong trường hợp khẩn cấp,
hoạt
động
can thiệp này bao gồm cả việc thu hồi giấy phép lập tức
hoặc đề nghị thu hồi giấy
phép
hoạt
động.
- Các nguyên tắc về nghiệp vụ ngân hàng xuyên biên
giới: bao gồm từ nguyên tắc số
23
đến
nguyên tắc số 25 với
nội dung hướng dẫn giám sát đối với các nghiệp vụ giao
dịch
ngân hàng quốc tế, yêu cầu các ngân hàng nước ngoài
hoạt động theo đúng các
tiêu
chuẩn cao bằng tiêu chuẩn của
các ngân hàng trong nước và thiết lập quan hệ và hệ
thống
trao đổi thông tin với các chuyên gia giám sát khác, đặc biệt
là với chuyên gia giám sát
của
tối thiểu. Theo đó, giám sát viên nên thực hiện một số hành động
giám sát phù hợp nếu họ không hài lòng với kết quả của quy trình
này.
- Giám sát viên khuyến nghị các ngân hàng duy trì mức vốn
cao hơn mức tối thiểu theo quy định.
- Giám sát viên nên can thiệp ở giai đoạn đầu để đảm bảo
mức vốn của ngân hàng không giảm dưới mức tối thiểu theo quy
định và có thể yêu cầu sửa đổi ngay lập tức nếu mức vốn không
được duy trì trên mức tối thiểu.
Nguyên tắc thứ ba: Các ngân hàng cần phải công khai
thông tin một cách thích đáng theo nguyên tắc thị trường (Cột trụ
3). Với cột trụ này, Basel II đưa ra một danh sách các yêu cầu
buộc các ngân hàng phải công khai thông tin, từ những thông tin
về cơ cấu vốn, mức độ đầy đủ vốn đến những thông tin liên quan
đến mức độ nhạy cảm của ngân hàng với rủi ro tín dụng, rủi ro thị
trường, rủi ro tác nghiệp và quy trình đánh giá của ngân hàng đối
với từng loại rủi ro này.
Như vậy, với quá trình phát triển của Basel và những Hiệp
ước mà tổ chức này đưa ra, các ngân hàng thương mại càng ngày
càng được yêu cầu hoạt động một cách minh bạch hơn, đảm bảo
vốn phòng ngừa cho nhiều loại rủi ro hơn và do vậy, hy vọng sẽ
giảm thiểu được rủi ro.
Bảng 1. Trọng số rủi ro theo loại tài sản
Trọng số rủi
ro
Phân loại tài sản
0%
Tiền mặt và vàng nằm trong ngân hàng.
Các nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ và Bộ Tài chính.
20%
Trái phiếu đô thị 20% 8% 1.000
USD
200 USD 16 USD
Thế chấp nhà ở 50% 8% 1.000
USD
500 USD 40 USD
Vay không bảo đảm 100% 8% 1.000
USD
1.000
USD
80 USD
Những sửa đổi của Hiệp ước Basel II so Hiệp ước Basel I
- Basel 2 vẫn qui định mức vốn an toàn tối thiểu là 8% và chỉ thay
đổi cách tính ở mẫu số trong công thức tính tỉ lệ đủ vốn. Theo đó,
mẫu số phải bao gồm cả ba loại rủi ro: rủi ro tín dụng, rủi ro thị
trường, rủi ro hoạt động.
- Hệ thống đo lường theo Basel 2 phức tạp hơn, nhiều phương pháp
để lựa chọn hơn, nhưng có khả năng đánh giá chính xác mức độ an
toàn vốn, và cho phép quyền tự quyết rất lớn trong giám sát hoạt
động ngân hàng. đối với rủi ro tín dụng, nếu Basel I đưa ra một
phương pháp chung thì Basel II lại đưa ra các lựa chọn. Cụ thể, 2
phương pháp được đề xuất: Phương pháp chuẩn và phương pháp
phân hạng nội bộ.
-Phương pháp chuẩn: Phương pháp tiếp cận này đo lường rủi ro tín
dụng tương tự như Basel I, nhưng ở ức độ nhạy cảm với rủi ro hơn
vì sử dụng xếp hạng tài chính do các tổ chức phân hạng độc lập cung
cấp làm hệ số khi tính toán tài sản điều chỉnh theo rủi ro.
-Phương pháp đánh giá nội bộ: Phương pháp này chủ yếu dựa vào
đánh giá nội bộ của ngân hàng về hệ số rủi ro để xác định tỷ lệ vốn
cần thiết. Tuy nhiên, vẫn dựa vào hướng dẫn của Uỷ ban Basel để xác
chính ngân hàng, đánh giá hoạt động thanh tra, giám sát và kỷ
luật trên nguyên tắc thị trường
- Về tính linh động của ứng dụng: Basel I quy định chung
một chọn lựa cho tất cả các ngân hàng. Basel II linh hoạt hơn với
một danh sách các phương pháp, các biện pháp khuyến khích để
các nhà quản lý quốc gia và các ngân hàng chọn lựa.
- Về tính nhạy cảm với rủi ro: Basel I đo đạc rủi ro quá sơ
bộ. Basel II nhạy cảm hơn với rủi ro thông qua độ nhạy cảm của
yêu cầu vốn đối với mức độ rủi ro tăng lên và sự công khai bắt
buộc một cách chi tiết về độ nhạy cảm rủi ro và chính sách rủi ro.
- Về trọng số rủi ro: Basel I quy định từ 0 – 100 và ưu đãi
hơn với các nước thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
(OECD- Organisation for Economic Co-operation and
Development). Basel II quy định từ 0 – 150 hoặc hơn và không
có đặc quyền nào, bao gồm cả phân cấp bên trong và bên ngoài.
- Về kỹ thuật giảm rủi ro tín dụng: Basel I chỉ hỗ trợ và đảm
bảo. Basel II thừa nhận về kỹ thuật giảm thiểu rủi ro tốt hơn, đưa ra
nhiều kỹ thuật hơn như hỗ trợ, đảm bảo, phái sinh tín dụng, lập
mạng lưới vị thế (position netting).
4) Basel III:
Hiệp ước Basel III được phát triển để đối phó với những
thiếu sót trong các qui định về tài chính bị bộc lộ sau cuộc khủng
hoảng tài chính toàn cầu. Basel III tăng cường yêu cầu về vốn của
ngân hàng và giới thiệu các yêu cầu mới quy định về tính thanh
khoản ngân hàng và đòn bẩy ngân hàng. Tổ chức OECD ước
tính rằng việc thực hiện Basel III sẽ giảm tốc độ tăng trưởng GDP
hàng năm khoảng 0,05%-0,15%
Để đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính gần đây, Ủy ban
Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) đã đưa ra các điều chỉnh
trong hướng dẫn đối với các quy định về vốn và hoạt động các
NĂM 1990)
Năm 1990, những quy định về đảm bảo an toàn trong hoạt
động của các ngân hàng đầu tiên được thể hiện trong các pháp lệnh
về ngân hàng. Một số quy định cơ bản đã có nhưng còn khá thô sơ
như “Tổ chức tín dụng không được huy động vốn quá 20 lần tổng
số vốn tự có và quỹ dự trữ” thay vì sử dụng hệ số an toàn vốn
theo quy định của Basel I được ban hành năm 1988.
II) GIAI ĐOẠN ÁP DỤNG BASEL VÀO HỆ THỐNG NH
VIỆT NAM:
Những chuẩn mực quốc tế về đảm bảo lần đầu tiên được
nghiên cứu và áp dụng khá chi tiết vào Việt Nam kể từ khi Luật
Ngân hàng Nhà nước và Luật Các tổ chức tín dụng được ban hành
vào năm 1997 và chúng đã được cụ thể hóa hai năm sau đó bằng
quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của các tổ
chức tín dụng (Quyết định 297/1999/QĐ-NHNN), Quy định về
giới hạn cho vay đối với một khách hàng (Quyết định
276/1999/QĐ-NHNN).
Năm 2005, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành một số quy
định mới để sửa đổi bất hợp lý về vốn của Quy định 1999 và một
số nội dung khác đã được bổ sung cho gần với Basel I hơn. Điểm
đáng chú nhất trong Quy định 2005 là việc tách bạch giữa hoạt
động của ngân hàng thương mại (các hoạt động cấp tín dụng và
thanh toán là chủ yếu) và hoạt động của ngân hàng đầu tư (các
nghiệp vụ liên quan đến kinh doanh chứng khoán).
2.1. Năm 2005-2006:
Giai đoạn này, nhìn chung, các ngân hàng ở Việt Nam đang
ở những bước đầu tiên trong quá trình áp dụng những chuẩn mực
quốc tế vào việc xây dựng một hệ thống an toàn, giảm thiểu rủi ro
trong quá trình hoạt động. Theo kết quả khảo sát do Công ty Tư vấn
Ernst & Young tiến hành năm 2006 để đánh giá mức độ tuân thủ
Basel như đã nêu ở trên, tức là mẫu số phải cộng thêm cả vốn
dành cho rủi ro thị tr ườ ng thì rất ít Ngân hàng thương mạiViệt
Nam đạt được tỷ lệ an toàn vốn ở mức trên 8%. Thêm vào đó, tỷ lệ
an toàn vốn tối thiểu là 8% được áp dụng thống nhất cho tất cả các
ngân hàng mà không tính đến sự khác biệt trong phạm vi, quy mô
cũng như rủi ro của các ngân hàng. Đối với Quyết định số
4+3/2005/QĐ-NHNN, dư nợ tín dụng tại các Ngân hàng thương
mạiphải được phân loại, trích dự phòng rủi ro và có biện pháp đặc
biệt đối với các khoản nợ xấu. Các khoản nợ được phân loại dựa
trên hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của mỗi ngân hàng và chủ
yếu dựa vào khả năng thu nợ của mỗi khoản vay. Đây đồng thời
cũng là cách phân loại nợ mà Hiệp ước Basel đã đưa ra. Phương
pháp trích lập nêu tại Quyết định 493 đã tiến khá sát với thông lệ
quốc tế, cụ thể: (i) Có trích lập dự phòng chung và dự phòng
riêng; (ii) Có tính giá trị Tài sản bảo đảm và loại trừ khi tính toán
số tiền phải trích lập; (iii) Cho phép các Ngân hàng thương
mạiđược trích lập dần trong 3 năm, phù hợp với tình hình tài
chính và kết quả kinh doanh tại các Ngân hàng thương mại. Nhìn
chung, quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về giới hạn
tín dụng với một nhóm khách hàng có liên quan tương đối phù
hợp với yêu cầu của Basel. Tuy nhiên, Quyết định 457/2005/QĐ-
NHNN quy định giới hạn tín dụng của Tổ chức tín dụng với một
nhóm khách hàng có liên quan là 60%, trong khi tỷ lệ này theo
Basel chỉ là 25%. Ngoài ra, theo quy định trên thì việc trích lập dự
phòng của các ngân hàng Việt Nam dựa trên tình trạng nợ quá
hạn của các khoản nợ chứ không dựa trên cơ sở hạch toán kế toán
nhằm đánh giá khả năng
thu hồi nợ dự kiến. Thanh tra ngân hàng cũng chỉ kiểm tra việc
tuân thủ của ngân hàng
với quy định mà chưa kiểm tra mức dự
hối, quản lý danh mục đầu tư thông qua việc đa dạng hóa danh
mục đầu tư, tránh đầu tư tập trung…Các Ngân hàng thương mại
Việt Nam chưa nhận thức đúng và đủ và loại hình rủi ro hoạt động
nên cũng chưa có nguồn dự phòng thích đáng và phù hợp đối với
loại hình rủi ro này. Mặc dù vậy, trong thực tế, các Ngân hàng
thương mại Việt Nam vẫn luôn phải đối mặt với loại rủi ro này với
mức độ nguy hiểm ngày càng lớn
Một quy định cũng đáng lưu ý là năm 2006, Thủ tướng Chính
phủ ban hành danh mục về vốn pháp định của các tổ chức tín dụng
mà hiểu một cách đơn giản, đối với một ngân hàng, đến hết năm
2010 phải có vốn điều lệ tối thiểu là 3.000 tỷ đồng. Điều này cho
thấy cơ quan giám sát và các ngân hàng trong hệ thống Ngân hàng
thương mại Việt Nam đã bắt đầu ý thức thêm về tầm quan trọng
của việc điều chỉnh hoạt động theo Hiệp ước quốc tế Basel.
2.2. Năm 2007:
Bối cảnh đã thay đổi kể từ năm 2007, khi hệ thống ngân hàng
Việt Nam gặp phải hai vấn đề lớn gồm: (1) rủi ro về mặt thanh
khoản và (2) rủi ro từ các hoạt động liên quan đến chứng khoán và
bất động sản.
Rủi ro thanh khoản của hệ thống ngân hàng gia tăng do cung
tiền được mở rộng với tốc độ cao cộng với sự nở rộng quá nhanh
của một số ngân hàng, nhất là các ngân hàng nhỏ mà phần đông
là mới thành lập hay được nân cấp lên từ các ngân hàng nông
thôn. Điều này đã tạo ra sự mất cân đối trong việc huy động vốn và
cho vay của các ngân hàng.
Những ngân hàng lớn có lợi thế về mặt huy động vốn do
mạng lưới và quan hệ có sẵn, khi cung tiền được mở rộng họ đã
huy động được rất nhiều tiền, nhưng khả năng cho vay chỉ ở một
mức nào đó nên các ngân hàng này đã dư ra một lượng vốn khá lớn.
Ngược lại các ngân hàng mới nâng cấp hay mới thành lập cần phải
cấp thiết hơn. Đề án Cải cách tổ chức và hoạt động Thanh tra Ngân
hàng (Quyết định số 1976/QĐ-NHNN) đã nêu lên 7 nội dung cơ
bản trong đó nhấn mạnh việc chuyển hướng từ thanh tra tuân thủ
sang thanh tra - giám sát dựa trên cơ sở rủi ro và hợp nhất kết hợp
với thanh tra - giám sát tuân thủ phù hợp với thông lệ quốc tế và
các nguyên tắc của Uỷ ban Giám sát ngân hàng Basel nhằm nâng
cao năng lực cảnh báo sớm rủi ro trong hoạt động ngân hàng”.
2.3. Năm 2010:
Tháng 5/2010. Ngân hàng Nhà nước (NGÂN HÀNG NHÀ
NƯớC) đã chính thức ban hành Thông tư 13/2010/TT-NGÂN
HÀNG NHÀ NƯớC có hiệu lực từ 01/10/2010 về Quy định về các
tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng.
Thông tư 13 đề cập đến các tỷ lệ bảo đảm an toàn chính yếu
như sau:
- Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu;
- Giới hạn tín dụng;
- Tỷ lệ khả năng chi trả;
- Giới hạn góp vốn, mua cổ phần;
- Tỷ lệ cấp tín dụng từ nguồn vốn huy động
(a) Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu:
1. “Tổ chức tín dụng, trừ chi nhánh ngân hàng nước ngoài,
phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% giữa vốn tự có so với
tổng tài sản “Có” rủi ro của tổ chức tín dụng (tỷ lệ an toàn vốn
riêng lẻ)”
2. Tổ chức tín dụng phải thực hiện Báo cáo tài chính hợp
nhất theo quy định của pháp luật, ngoài việc duy trì tỷ lệ an toàn
vốn riêng lẻ quy định tại Khoản 1 Điều này, phải đồng thời duy trì
tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% trên cơ sở hợp nhất vốn, tài sản của
tổ chức tín dụng và công ty trực thuộc (tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất)”
- Tỷ l
“Có” rủi ro hợp nhất
Trong đó:
Bảng 4 : Hệ số an tòan vốn (CAR) của một số ngân hàng từ 2005 –
2008
(Nguồn: Báo cáo thường niên các ngân hàng )
Biểu đồ 1: Hệ số an tòan vốn CAR của một số các NHTM từ 2005 –
2007
( Nguồn: Báo cáo thường niên các ngân hàng)
(b) Giới hạn tín dụng:
- Tổ chức tín dụng căn cứ quy chế nội bộ về quản lý chất lượng
tín dụng để xây dựng, ban hành quy định về các tiêu chí xác
định một khách hàng và nhóm khách hàng có liên quan, chính
sách tín dụng đối với khách
hàng và các giới hạn tín dụng áp dụng đối với một khách hàng và
nhóm khách hàng có liên quan, trong đó tối thiểu phải có các nội
dung sau đây:
• Tiêu chí cụ thể xác định một khách hàng, nhóm khách hàng có
liên quan.
• Giới hạn tín dụng đối với một khách hàng, nhóm khách hàng có
liên quan.
• Kế hoạch đa dạng hóa hoạt động tín dụng, phương pháp
theo dõi và quản lý đối với các khoản cấp tín dụng ở mức từ
5% vốn tự có của tổ chức tín dụng trở lên.
Từng khoản cho vay hoặc bảo lãnh, cho thuê tài chính và tổng các
khoản cho vay hoặc tổng các khoản bảo lãnh, tổng các khoản cho
thuê tài chính vượt quá 10% vốn tự có của tổ chức tín dụng phải
được Hội đồng quản trị hoặc Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc người
được Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng quản trị ủy quyền
thông qua theo phân cấp, ủy quyền quy định tại chính sách tín dụng
nội bộ của tổ chức tín dụng đối với khách hàng.
dụng đối với một nhóm khách hàng có liên quan không được vượt
quá 60% vốn tự có của tổ chức tín dụng, trong đó tổng dư nợ cho
vay và số dư bảo lãnh đối với một khách hàng không được vượt
quá tỷ lệ quy định (25% vốn tự có).
( Điều 8, Mục 2, Thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010)
(d) Giới hạn cho thuê tài chính
+
Tổng dư nợ cho thuê tài chính đối với một khách hàng
không được vượt quá
30% vốn tự có của công ty cho thuê tài chính.
+
Tổng dư nợ cho thuê tài chính đối với một nhóm khách
hàng có liên quan không được vượt quá 50% vốn tự có của công ty
cho thuê tài chính, trong đó mức cho thuê tài chính đối với một
khách hàng không được vượt quá tỷ lệ quy định (30% vốn tự có).
( Điều +, Mục 2, Thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010)
(e) Tỷ lệ về khả năng chi trả:
Cuối mỗi ngày, tổ chức tín dụng phải xác định và có các
biện pháp để đảm bảo các tỷ lệ về khả năng chi trả cho ngày hôm
sau như sau:
+
Tỷ lệ tối thiểu bằng 15% giữa tổng tài sản “Có” thanh toán
ngay và tổng Nợ phải trả
- Tổng tài sản “Có” thanh toán ngay (Phụ lục 5)
- Tổng Nợ phải trả được xác định bằng số dư trên khoản mục
Tổng nợ phải trả (Phụ lục 6).
• Tỷ lệ tối thiểu bằng 1 giữa tổng tài sản “Có” đến hạn
thanh toán trong 7 ngày tiếp theo kể từ ngày hôm sau và tổng