Lời nói đầu
Mỗi khi xã hội phát triển, đến một trình độ nhất định, tự trong bản thân nó
cho ra đời những sản phẩm - những công cụ để phục vụ chính cho sự phát triển
đó. Từ khi có sự phân công lao động xã hội, và sự xuất hiện sở hữu t nhân về t
liệu sản xuất đã tạo ra rất nhiều sản phẩm, mà một trong những sản phẩm của nó
chính là quan hệ tín dụng. Đến lợt nó, khi ra đời sẽ thúc đẩy cho nền kinh tế phát
triển lên trình độ cao hơn. Do đó, sự tồn tại của nó nh một tất yếu khách quan.
Ngày nay, chúng ta biết rằng, khi kinh tế thị trờng là sự phát triển của nền kinh
tế ở một trình độ cao. Trong đó, các chủ thể độc lập với nhau về tính chất sản xuất
kinh doanh, về quyền sở hữu, về sự tuần hoàn và luân chuyển vốn. Nh vậy trong nền
kinh tế có những doanh nghiệp thừa vốn. Ví dụ nh các doanh nghiệp có tiền bán
hàng nhng không phải trả lơng, thuế và các khoản chi khác do đó tạm thời thừa tơng
đối. Trong khi đó có những doanh nghiệp thiếu vốn những ngời thừa vốn sử dụng vốn
này để thu lợi nhuận còn doanh nghiệp thiếu vốn muốn sử dụng phải đi vay để duy
trì hoạc tién hành sản xuất kinh doanh thu lợi nhuận. Nh vậy hai nhu cầu này đều
giống nhau ở chỗ để thu lợi nhuận và mang tính chất tạm thời. Nhng chúng khác
nhau về chiều vận động và quyền sở hữu. Do đó trong nền kinh tế tất yếu tồn tại quan
hệ tiêu dùng và tín dụng.
Hiện nay, nớc ta đang trong thời kỳ quá độ chuyển sang nền kinh tế thị trờng
theo định hớng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nớc, việc tồn tại các loại hình
tín dụng là điều không thể tránh khỏi. Vấn đề là chúng ta phải nhận thức đợc tầm
quan trọng của tín dụng trong nền kinh tế và từ đó xác định đợc loại hình tín dụng
nào tồn tại ở nớc ta. Qua đó, nhà nớc có các chủ trơng, chính sách để kích thích cho
sự ra đời của nó.
Chính vì sự cần thiết nh vậy, trong điều kiện nớc ta hiện nay và đợc sự giúp đỡ
tận tình của thầy cô giáo em quyết định chọn đề tài:
Tín dụng và các hình thức trong nền kinh tế thị trờng
1
Người sở hữu
(người cho vay)
Người sử dụng
Người sử dụng
(người đi vay)
Nội dung
Tín dụng ra đời rất sớm với sự xuất hiện của môn kinh tế học và đợc lu truyền
từ đời này sang đời khác. Tín dụng xuất phát từ gốc từ Latin credittum tức là tin t-
ởng, tin nhiệm, tín dụng đợc diễn giải theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam là sự vay m-
ợn.
Trong thực tế tín dụng hoat động rất phong phú và đa dạng, nhng ở bất cứ dạng
nào, tín dụng cũng thể hiện ai mặt cơ bản sau:
Thứ nhất: Ngời sở hữu một số tiền hoặc hàng hoá chuyển giao cho ngời khac sử
dụng trong một thời gian nhất định.
Thứ hai: Đến thời hạn do hai bên thoả thuận ngời sử dụng hoàn lại cho ngời sở
hữu một giá trị lớn hơn. Phần tăng thêm đợc gọi là phần lời hay nói theo ngôn ngữ
kinh tế là lãi suất.
Phần 1
Những vấn đề chung về tín dụng
i. Những quan niệm về tín dụng
Hiện nay thuật ngữ tín dụng đợc sử dụng rộng rãi và phổ biến. Tuy nhiên không
có một định nghĩa nào thống nhất về tín dụng. Bởi vì mỗi ngời, mỗi ngành lại quan
niệm về tín dụng một cách khác nhau, ở nhiều khía cạnh khác nhau.
Tín dụng là quan hệ vay mợn giữa hai bên, đây là quan hệ điều tiết chỉ giữa hai
ngời, đó là ngời đ vay và ngời cho vay, sự vay mợn chủ yếu bằng tiền.
3
Người sở hữu
(người cho vay)
Người sử dụng
(người đi vay)
Cho vay
Trả nợ
Trong điều kiện sản xuất thấp kém, phụ thuộc nhiều vào điều kiện thiên nhiên,
lại thêm gánh nặng su thuế và các tệ nạn xã hội khác, những ngời sản xuất nhỏ khi
phải đối phó với những rủi ro xảy ra trong cuộc sốngcó thể dẫn đến phải đi vay để
giải quyết những khó khăn trong đời sống, nh mua lơng thực, thuốc men, đóng tô,
thuế. . . còn các tầng lớp khác đi vay để giải quyết những thiếu hụt tạm thời với các
nhu cầu cao.
2.3. Đặc điểm của tín dụng nặng lãi
Tín dụng nặng lãi có lãi suất rất cao. Nguyên nhân là do cầu tín dụng lớn hơn so
với cung và nhu cầu đi vay thờng là cấp bách không thể trì hoãn đợc.
Hình thức vận động của vốn trong quan hệ tín dụng nặng lãi biểu hiện rất đa
dạng đó là:
Cho vay bằng hiện vật và thu nợ bằng hiện vật;
Cho vay bằng tiền, thu nợ bằng hiện vật;
Cho vay bằng tiền, hiện vật và thu nợ bằng công lao động;
Cho vay bằng tiền và thu nợ bằng tiền;
Do những đặc điểm trên của tín dụng nặng lãi mà tín dụng nặng lãi có hai tính
chất sau: những ngời cho vay nặng lãi muốn duy trì nền sản xuất nhỏ để sự tồn tại
của hình thức tín dụng nặng lãi.
Cho vay nặng lãi thúc đẩy quá trình phân hoá giai cấp và tập trung vốn tạo tiền
đề cho sự ra đời của phơng thức sản xuất mới.
2.4. Tín dụng nặng lãi trong điều kiện ngày nay
Trong điều kiện ngày nay tín dụng nặng lãi còn tồn tại khá phổ biến ở các nớc
kém phát triển. Nguyên nhân của sự tồn tại này là do:
Do ảnh hởng của chế độ phong kiến. Trong nông nghiệp ruộng đất phần lớn tạp
trung trong tay các địa chủ và áp dụng phơng pháp phát canh thu tô, khoản địa tô
phải trả thờng là rất cao.
Mức thu nhập của ngời lao động thấp. Vì vậy, khi xuất hiện các rủi ro bất thờng
trong đời sống đòi hỏi phải có vốn vay bổ sung.
Hệ thống tín dụng cha phát triển.
5
cần thiết phải mua vật t nguyên liệu dự trữ cho sản xuất.
6
- Hoặc có nhu cầu mua vật t gàng hàng hoá phục vụ quá trình sản xuất nhng
không có tiền. Hiện tợng thừa vốn này thể hiện khá rõ nét đối với các doanh nghiệp
sản xuất mang tính thời vụ. Còn đối với các loại hình xí nghiệp khác thì hiện tợng
thừa vốn cũng thờng xuyên xảy ra; Bởi vì, mặc dù việc sản xuất đợc tiến hành liên
tục nhng việc mua bán vật t nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm đợc tiến hành theo
định kỳ. Vì vậy, tất yếu sẽ xuất hiện sự không ăn khớp giữa hai quá trình mua bán.
Tuy nhiên đối với các doanh nghiệp không thời vụ việc thừa thiếu vốn tiền tệ với thời
gian ngắn hơn và quy mô nhỏ hơn so với xí nghiệp thời vụ, chỉ trừ những doanh
nghiệp có chu kỳ sản xuất kinh doanh dài.
ở mỗi doanh nghiệp thì có lúc thiếu vốn, lúc thừa vốn, nhng đứng trên giác độ
toàn bộ nền kinh tế quốc dân thì tại mỗi thời điểm nhất định sẽ có hiện tợng:
Một nhóm doanh nghiệp có vốn tạm thời cha sử dụng.
Một nhóm những xí nghiệp khác lại có nhu cầu bổ sung tạm thời.
Sở dĩ có hiện tợng này là vì, chu kỳ sản xuất kinh doanh và tính chất thời vụ ở
mỗi doanh nghiệp, mỗi ngành kinh tế không giống nhau, trong lúc đó tái sản xuất là
một quá trình liên tục trên cơ sở phân công và hợp tác trên toàn bộ nền kinh tế.
Vì vậy khi mà xí nghiệp này thừa vốn thì tất yếu sẽ có xí nghiệp khác thiếu
vốn. Ví dụ, nông trờng sản xuất mía sau khi thu hoạch sẽ có vốn tạm thời nhàn rỗi,
ngợc lại đối với xí nghiệp chế biến đờng lại có nhu cầu rất lớn về dự trữ nguyên liệu
cho sản xuất.
Đây là hiện tợng khách quan tồn tại ngay trong quá trình tái sản xuất xã hội,
đồng thời nó là mâu thuẫn của quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn. Chính điều
này đòi hỏi phải có tín dụng làm cầu nối giữa nơi thờ và nơi thiếu.
Nếu xét về đặc điểm vốn trong quá trình tái sản xuất giản đơn thì hiện tợng thừa
thiếu vốn tạm thời trong toàn bộ nền kinh tế đợc bù trừ lẫn nhau. Tuy nhiên tái sản
xuất là quá trình thờng xuyên mở rộng và phát triển, vì vậy đòi hỏi phải có vốn đầu
t bằng vốn tiết kiệm.
Trong cơ chế thị trờng tồn tại và phát triển luôn gắn bó với nhau, vì vậy nhu cầu
sản xuất nào tín dụng cũng biểu hiện ra bên ngoài là sự vay mợn tạm thời một vật
hoặc một số vốn tiền tệ, nhờ vậy mà ngời ta có thể sử dụng đợc giá trị của hàng hoá
hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp thông qua trao đổi.
8
Để vạch rõ bản chất của tín dụng cần thiết phải nghiên cứu liên hệ kinh tế của
tín dụng trong quá trình hoạt động của tín dụng và mối liên hệ của nó với quá trình
tái sản xuất.
Về sự vận động của tín dụng: tín dụng là một quan hệ kinh tế giữa ngời cho vay
và ngời đi vay, giữa họ có mối liên hệ với nhau thông qua vận động giá trị vốn, tín
dụng đợc biểu hiện dới hình thức tiền tệ. Hoặc quá trình vận động của nó thông qua
các quá trình sau:
Thứ nhất: phân phối vốn tín dụng dới hình thức cho vay.
Thứ hai: sử dụng vốn tín dụng trong quá trình tái sản xuất.
Thứ ba: sự hoàn trả của tín dụng. Đây là giai đoạn kết thúc một vòng tuần hoàn
của tín dụng.
Sự hoàn trả của tín dụng là đặc trng thuộc về bản chất vận động của tín dụng, là
dấu ấn phân biệt tín dụng với các phạm trù kinh tế khác.
IV. Đặc điểm của tín dụng.
- Có sự vận động độc lập tơng đối giữa quyền sở hữu và quyền sủ dụng.
- Giá cả trong quan hệ mua bán ngang bằng với giá trị nhng trong quan hệ tín
dụng thì không. Gía cả ở đây là biểu hiện của giá trị sử dụng một số vốn trong một
thời gian.
Mác viết đem tiền cho vay với t cách là một vật có đặc điểm là sẽ quay trở về
điểm xuất phát của nó mà vẫn giữ đợc nguyên vẹn giá trị của nó và đồng thời lại lớn
thêm trong quá trình vận động.
V. Chức năng của tín dụng.
1. Tích tụ tập trung vốn.
Để cho vay và đáp ứng nhu cầu sử dụng khác tín dụng biến tài sản phi tài chính
thành tài sản tài chính.
1.1. Cung của quỹ cho vay.
lạm phát và thất nghiệp vẫn còn ở mức độ cao. Vì vậy thông qua việc đầu t tín dúngẽ
góp phần sắp xếp và tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý.
10