Cuộc đua lãi suất của các ngân hàng thương mại việt nam và sự can thiệp của ngân hàng nhà nước giai đoạn 2008 đến nay - Pdf 23

Mục lục
Danh mục phụ lục
Danh mục các bảng và hình vẽ
Danh mục các từ viết tắt
Lời mở đầu
Chương 1: Những vấn đề chung về Ngân hàng và Lãi suất
1.1 Những vấn đề chung về NHNN
1.1.1 Khái niệm NHNN
1.1.2 Chức năng, vai trò của NHNN
1.1.2.1 Phát hành tiền và điều tiết khối lượng tiền cung ứng
1.1.2.2 Ngân hàng Nhà nước là ngân hàng của các ngân hàng
1.1.2.3 Ngân hàng Nhà nước là ngân hàng của Chính phủ
1.2 Khái quát chung về NHTM
1.2.1 Khái niệm NHTM
1.2.2 Chức năng của NHTM
1.2.2.1 Chức năng trung gian tín dụng
1.2.2.2 Chức năng trung gian thanh toán và quản lí phương tiện thanh toán
1.2.2.3 Chức năng tạo phương tiện thanh toán
1.2.2.4 Chức năng cung cấp các dịch vụ tài chính
1.2.3 Các nhiệp vụ cơ bản của NHTM
1.2.3.1 Nghiệp vụ tạo lập nguồn vốn
1.2.3.2 Nghiệp vụ sử dụng vốn
1.2.3.3 Một số nghiệp vụ khác
1.3 Một số vấn đề cơ bản về lãi suất
1.3.1 Khái niệm lãi suất
1.3.2 Phân loại lãi suất
1.3.2.1 Căn cứ vào tính chất của các khoản vay
1.3.2.2 Theo giá trị thực tế của khoản tiền lãi thu được
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất thị trường
1.3.3.1 Cung – cầu trái phiếu và quỹ cho vay
1.3.3.2 Lạm phát kì vọng

(TCTD)
3.2
Mt s kin ngh
3.2.1
Đối với NHNN và Chính phủ
3.2.2
Đối với NHTM
Kết luận
Danh mục các bảng và hình vẽ
Bảng 1: Lãi suất của 1 số NHTM tính đến 6 tháng đầu năm 2008
Bảng 2: Lãi suất huy động VNĐ và USD ( ĐVT: %) của các NHTM khối nhà nước và
TMCP 8 tháng đầu năm 2009
Bảng 3: Bảng lãi suất huy động và lãi suất cho vay của các NHTM
( tính đến cuối quý I năm 2010)
Bảng 4: Lãi suất cho vay của một số NHTMCP ( 29/06/2010 )
Bảng 5: Lãi suất huy động và lãi suất cho vay
Tài liệu tham khảo
Giáo trình
1. Giáo trình Nhập môn tài chính tiền tệ, Trường Đại học Kinh tế
TP.HCM, NXB Thống kê, 2008
2. Giáo trình Tài chính tiền tề, Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng, NXB
Tài Chính, 2011
Luận văn
1. Ponzi game và cuộc đua lãi suất ở Việt Nam, 76 trang
2. Cuộc đua lãi suất liệu đã đi đến hồi kết, 28 trang
3. Thực trạng thực hiện chính sách tiền tệ ở Việt Nam từ những
năm 90 trở lại đây
Các trang web tham khảo
1.
2.

o Vay của nước ngoài.
o Vay của ngân hàng Nhà nước.
 Phát hành tiền qua ngõ ngân hàng trung gian
Ngân hàng Nhà nước cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian chủ yếu dưới 2
hình thức:
o Chiết khấu hoặc tái chiết khấu.
o Thế chấp hay ứng trước.
Trong cả hai trường hợp trên, ngân hàng Nhà nước đều thực hiện việc phát hành
tiền tệ. Kết quả là làm cho số lượng tiền tệ trong lưu thông gia tăng. Theo các nhà kinh tế
học xem việc làm này là một nghiệp vụ thanh khiết, vì nó có khả năng tự thanh toán và
theo đúng nguyên tắc tín dụng.
 Phát hành tiền qua ngõ thị trường mở
Thông qua việc mua bán các chứng khoán ngắn hạn trên thị trường mở, ngân hàng
Nhà nước điều chỉnh lưu lượng tiền mặt trong lưu thông. Với nghiệp vụ bán ngân hàng
Nhà nước thu hẹp lượng cung tiền mặt trong lưu thông, lãi suất lại tăng lên. Bằng nghiệp
vụ mua, tức là bơm tiền vào lưu thông. Lúc này lượng tiền lưu hành trên thị trường xã hội
tăng lên tạo ra các động lực gây giảm lãi suất.
 Phát hành tiền qua ngõ thị trường vàng và ngoại tệ
Bằng việc tung ra một lượng tiền mặt nhất định vào thị trường để mua một số
ngoại tệ nào đó và vàng, ngân hàng nhà nước một mặt làm tăng dự trữ quốc gia, mặt khác
nó làm tăng lưu lượng tiền mặt trong nền kinh tế, và đây chính là phương thức phát hành
tiền qua ngõ thị trường vàng và ngoại tệ.
 Phát hành cân đối:
Mỗi khi có sự gia tăng một cách không chủ động của các khoản mục bên tài sản
có, buộc ngân hàng Nhà nước phải phát hành thêm tiền để cân đối nợ có trong bảng quyết
toán của mình như
o Chính phủ nhận được viện trợ phát triển của nước ngoài dưới dạng hàng hóa,
vàng và ngoại tệ.
o Chính phủ vay nợ nước ngoài để phát triển kinh tế.
o Các tổ chức kinh tế, các ngân hàng trong nước vay nợ nước ngoài.

sách lãi suất, …
1.1.2.3 Ngân hàng Nhà nước là ngân hàng của Chính phủ
Ngay từ khi mới ra đời, ngân hàng Nhà nước đã được xác định là ngân hàng
của nhà nước. Chức năng này của ngân hàng Nhà nước được thực hiện trên các mặt sau:
 Ngân hàng Nhà nước thuộc sở hữu nhà nước ( ở hầu hết các quốc gia trên thế giới).
 Ngân hàng Nhà nước tham gia xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, soạn thảo
chính sách tiền tệ, kiểm tra và kiểm soát việc thực hiện chính sách tiền tệ. Bởi, với ưu thế
nắm giữ nhiều thông tin kinh tế, ngân hàng Nhà nước có khả năng dự đoán và đề xuất các
biện pháp quan trọng góp phần thiệt lập một chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tối ưu.
Với việc tham gia xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hôi, cho phép ngân hàng
Nhà nước có thể soạn thảo được một chính sách tiền tệ khả thi, tạo mối liên kết chặt chẽ
giữa chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa, chính sách quản lý nợ … nhằm đạt được
các mục tiêu mà chiến lược kinh tế - xã hội đã đề ra.
 Trong quan hệ quốc tế, ngân hàng Nhà nước đóng vai trò là người hướng dẫn, chỉ đạo và
tạo điều kiện cho các ngân hàng mở rộng quan hệ kinh doanh ngân hàng trên thị trường
quốc tế, phát triển các dịch vụ thanh toán … nhằm phục vụ đắc lực cho tiến trình hội
nhập kinh tế toàn câu. Ngân hàng thay mặt chính phủ ký kết các hiệp định tiền tệ, tín
dụng và thanh toán với nước ngoài và tham gia với cương vị là thành viên của một số tổ
chức tài chính – tiền tệ quốc tế như IMF, WB…
 Ngân hàng Nhà nước nhận tiền gửi của kho bạc nhà nước, tổ chức thanh toán giữa kho
bạc với ngân hàng trung gian, làm đại lý phát hành các loại trái phiếu nhà nước, quản lý
dự trữ quốc gia và cho chính phủ vay để cân bằng thu – chi ngân sách trong những
trường hợp cần thiết.
1.2 Khái quát chung về NHTM
1.2.1 Khái niệm NHTM
Theo Điều 4 luật Tổ chức tín dụng của Việt Nam ( Quốc hội ban hành ngày 29
tháng 6 năm 2010) định nghĩa:
 Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể thực hiện tất cả cá hoạt động ngân hàng
theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân
hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã.

 Tổ chức và kiểm soát quy trình thanh toán giữa các khách hàng
Chức năng trung gian thanh toán của ngân hàng có ý nghĩa rất lớn đối với các
hoạt động của nền kinh tế. Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt qua hệ thống ngân
hàng góp phần tiết giảm chi phí và lượng tiền mặt trong lưu thông và đảm bảo an toàn
trong thanh toán. Việc lựa chọn phương thức thanh toán không dùng tiền mặt thích hợp
cho phép khách hàng thực hiện thanh toán nhanh chóng và hiệu quả, điều này góp phần
tăng tốc độ lưu thông hàng hóa, tốc độ luân chuyển vốn và hiệu quả của quá trình tái sản
xuất xã hội. Mặt khác, việc cung ứng các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt giúp
cho ngân hàng thu hút nhiều khách hàng mở tài khoản tại ngân hàng và do đó tạo điều
kiện để thu hút nguồn vốn tiền gửi.
1.2.2.3 Chức năng tạo phương tiện thanh toán
Xuất phát từ chức năng trung gian tín dụng và chức năng trung gian thanh
toán, ngân hàng vừa nhận tiền gửi lại vừa cho vay bằng chuyển khoản, làm điều kiện và
tiền đề cho hệ thống ngân hàng thương mại có khả năng tạo tiền. Với khoản tiền gửi nhận
được ban đầu thông qua cho vay bằng chuyển khoản kết hợp với thanh toán không dùng
tiền mặt, nên ngân hàng thương mại có khả năng mở rộng tiền gửi không kỳ hạn gấp
nhiều lần, do đó tạo thêm bút tệ cho lưu thông. Quá trình tạo tiền phụ thuộc vào hệ số
nhân tiền gửi, mà hệ số nhân tiền gửi lại phụ thuộc vào tỷ lệ dự trũ bắt buộc, nghĩa là nếu
tỷ lệ dự trữ bắt buộc mà càng thấp thì khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mại càng
cao và ngược lại, tỷ lệ dự trữ bắt buộc càng cao thì khả năng tạo tiền của ngân hàng
thương mại càng thấp.
1.2.2.4 Chức năng cung cấp các dịch vụ tài chính
Chức năng cung cấp các dịch vụ tài chính của ngân hàng được thực hiện dựa
trên việc khai thác các lợi thế so sánh về cơ sở vật chất, tính chuyên nghiệp và tính
chuyên môn hóa của đội ngũ nhân viên và ưu thế về thông tin. Các dịch vụ tài chính mà
ngân hàng thương mại cung cấp cho thị trường tài chính bao gồm:
 Tư vấn tài chính.
 Môi giới tài chính.
 Dịch vụ ngân hàng điện tử.
1.2.3 Các nhiệp vụ cơ bản của NHTM

sử dụng vốn và các nghiệp vụ trung gian có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua
lại với nhau đem lại thương hiêu, sự an toàn và lợi nhuận cho ngân hàng.
1.3 Một số vấn đề cơ bản về lãi suất
1.3.1 Khái niệm lãi suất
Là giá cả tín dụng – quan hệ vay mượn về vốn dưới hình thức tiền tệ hoặc các
dạng thức tài sản khác nhau hoặc giá cả của của quyền sử dụng vốn trong một thời gian
nhất định.
Công thức:
Lãi suất =
Tiền lãi
/
Tiền gốc
- Tiền lãi là số tiền mà người nhận tín dụng phải trả cho người cấp tín
dụng.
- Tiền gốc là số tiền người nhận tín dụng được sử dụng theo hợp đồng
tín dụng
1.3.2 Phân loại lãi suất
1.3.2.1 Căn cứ vào tính chất của các khoản vay
 Lãi suất tín dụng thương mại: áp dụng khi các doanh nghiệp cho nhau vay dưới hình thức
mua bán chịu hàng hóa.
 Lãi suất tiền gửi ngân hàng: là loại lãi suất mà các ngân hàng trả cho các khoản tiền gửi
vào ngân hàng. Lãi suất tiền gửi ngân hàng có nhiều mức khác nhau tùy thuộc vào các
loại tiền gửi: không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiết kiệm … theo nguyên tắc : lãi suất tiền gửi có
kỳ hạn lớn hơn lãi suất tiền gửi không kỳ hạn.
 Lãi suất tín dụng ngân hàng: là loại lãi suất mà người đi vay vốn phải trả cho ngân hàng
khi vay vốn từ ngân hàng. Lãi suất tín dụng ngân hàng có nhiều loại tùy theo các loại
hình vay: ngắn hạn, dài hạn; có tài sản đảm bảo, không có tài sản đảm bảo…
 Lãi suất chiết khấu: là lãi suất được các ngân hàng thương mai áp dụng cho khách hàng
vay nợ dưới hình thức chiết khấu các giấy tờ có giá ( hối phiếu, lệnh phiếu…)khi chưa
đến hạn thanh toán. Lãi suất chiết khấu được tính theo tỷ lệ phần trăm trên mệnh giá của

r
là lãi suất thực, i
n
là lãi suất danh nghĩa, p là tỷ lệ lạm phát.
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất thị trường
Trong các nền kinh tế thị trường, Nhà nước đóng vai trò là người điều tiết vĩ mô,
thị trường tài chính hoạt động theo cơ chế tự do hoá, cơ chế hình thành lãi suất là cơ chế
thị trường. Lãi suất vì vậy mà chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố kinh tế vĩ mô cũng
như nhiều các nhân tố khác như:
1.3.3.1 Cung – cầu trái phiếu và quỹ cho vay
Lãi suất là giá cả sử dụng vốn vì vậy bất kỳ sự thay đổi nào của cung và cầu
hoặc cả cung và cầu tiền tệ không cùng một tỷ lệ đều sẽ là thay đổi mức lãi suất trên thị
trường. Tuy mức biến động của lãi suất ít nhiều phụ thuộc vào các quy định của chính
phủ và NHTƯ, song đa số các nước có nền kinh tế thị trường đều dựa vào nguyên lý này
để xác định lãi suất. Do vậy, có thể tác động vào cung cầu trên thị trường vốn để thay đổi
lãi suất trong nền kinh tế cho phù hợp với mục tiêu, chiến lược trong từng thời kỳ chẳng
hạn như thay đổi cơ cấu vốn đầu tư, tập trung vốn cho các dự án trọng điểm. Mặt khác,
muốn duy trì sự ổn định của lãi suất thì sự ổn định của thị trường vốn phải được đảm bảo
vững chắc.
1.3.3.2 Lạm phát kì vọng
Khi lạm phát được dự đoán tăng trong một thời kỳ nào đó, lãi suất sẽ có xu
hướng tăng. Điều này là xuất phát từ mối quan hệ giữa lãi suất thực và lãi suất danh
nghĩa và để duy trì lãi suất thực không đổi, tỷ lệ lạm phát tăng đòi hỏi lãi suất danh nghĩa
phải tăng lên tương ứng. Mặt khác, công chúng dự đoán lạm phát tăng sẽ dành phần tiết
kiệm của mình cho việc dự trữ hàng hoá hoặc những dạng thức phi tài sản khác như
vàng, ngoại tệ mạnh hoặc đầu tư vốn ra nước ngoài nếu có thể. Tất cả những điều này
làm giảm cung quỹ cho vay và gây áp lực tăng lãi suất trên thị trường. Từ mối quan hệ
này cho thấy ý nghĩa và tầm quan trọng của việc khắc phục tâm lý lạm phát đối với việc
ổn định lãi suất, sự ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế.
1.3.3.3 Bội chi ngân sách

luồng vốn đầu tư ra vào đối với các nước…
Tất cả những điều này gợi ý cho những nhà nghiên cứu, soạn thảo và điều hành
chính sách lãi suất phải có một cách nhìn và đánh giá một cách tổng thể trước khi đưa ra
bất cứ một kết luận hay một quyết định nào có liên quan đến lãi suất.
Chương 2 : Cuộc đua lãi suất của các ngân hàng thương mại Việt
Nam và sự can thiệp của NHNN giai đoạn 2008 đến nay
2.1 Cuộc đua lãi suất của các ngân hàng Thương mại Việt Nam giai đoạn 2008 đến
nay
2.1.1 Thực trạng cuộc đua lãi suất từ năm 2008 đến nay
2.1.1.1 Giai đoạn 2008: Khởi đầu cuộc đua lãi suất
Năm 2008 được coi là năm biến động lãi suất với các biến động trái chiều với
một biên độ lớn chỉ trong vòng 12 tháng.
Diễn biến lãi suất trong năm 2008 gồm 2 giai đoạn chính: cuộc đua tăng lãi
suất của các ngân hàng vào nửa đầu năm 2008 và một cuộc đua khác theo chiều hướng
ngược lại, cuộc đua giảm lãi suất, dù mức độ quyết liệt kém hơn. Những sự kiện lớn đối
với diễn biếnlãi suất năm 2008 diễn ra như sau:
a) Cuộc đua tăng lãi suất trong 6 tháng đầu năm 2008
Từ mức lãi suất tháng 1 là 8,5%, các ngân hàng bắt đầu vào cuộc đua lãi
suất khởi đầu là các ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh. Lãi suất tăng cao đến đỉnh
điểm vào tháng 6 năm 2008 là 18,5%.
Bảng 1: Lãi suất của 1 số NHTM tính đến 6 tháng đầu năm 2008
Kì hạn Tên NHTM
Sacombank Vietinbank SeABank OCB Oceanbank
3 tháng 15.12 15 - 15.25 17.05
6 tháng 15.12 15.5 15.2 15.25 -
9 tháng 15.48 15.5 15.36 - 16.05
12 tháng 15.48 16 16.2 16.2 16.5
13 tháng trở lên 15.24 16.25 16 16.5 17.8
Vào 6 tháng đầu năm 2008, mức lãi suất cho các kì hạn của các NHTM
đều trên 15%/năm. Đối với kì hạn trên 13 tháng, NHTMCP Phương Đông ( OCB) với

vậy để có vốn rẻ khuyến khích nhu cầu vay của doanh nghiệp tốt thì phải hạ lãi suất
huy động.
 Thứ hai, tín hiệu tích cực từ lạm phát và chuyển biến kinh tế vĩ mô cũng là cơ sở để có
được sự điều chỉnh này. Lạm phát có chiều hướng giảm. Do dư nợ tăng thấp nên vốn khả
dụng VND dư thừa tương đối nhiều, cộng thêm tình hình kinh tế có dấu hiệu giảm phát,
các ngân hàng đã liên tục hạ lãi suất tiền gửi VND từ 16,5%- 17,5%/năm giảm về
từ 10,5%-14,5%/năm.
 Thứ ba, trên cơ sở xem xét các nhu cầu tín dụng, cân đối khả năng huy động cũng như
yêu cầu quản trị…, các ngân hàng đã có quyết định phù hợp với trường hợp của mình,
cũng như theo hướng chung của hệ thống. Trong bối cảnh khó khăn của nền kinh tế, chi
phí đầu vào tăng lên, khi có điều kiện các ngân hàng sẽ xem xét để có điều chỉnh hợp lý,
tính đến cả mục tiêu lợi nhuận của mình nữa, cùng với nhận định việc giảm lãi suất huy
động sẽ không ảnh hưởng lớn tới tốc độ huy động trong thời gian tới
2.1.1.2 Giai đoạn 2009: Lãi suất dần được ổn định nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ biến
động cao
Ngay từ những tháng đầu năm, lãi suất huy động của các ngân hàng tăng nhẹ.
Một lý giải chắc chắn cho đợt điều chỉnh lãi suất huy động mới của các NH, vốn không
chỉ dừng lại ở khối các NHTMCP, là nhằm chuẩn bị một nguồn vốn dồi dào trước các dự
báo cho rằng nhu cầu vốn của doanh nghiệp sẽ đặc biệt tăng mạnh trong năm 2009. Các
điều chỉnh tăng vì thế được thực hiện với hầu hết các kỳ hạn, từ kỳ hạn tuần đến kỳ hạn
36 tháng.
Bảng 2 Lãi suất huy động VNĐ và USD ( ĐVT: %) của các NHTM khối nhà nước và
TMCP 8 tháng đầu năm 2009 như sau:
Đến những tháng cuối năm 2009, lãi suất huy động của các NHTM trung bình
khoảng 8.2%/năm, tăng khoảng 1% so với cùng kì năm 2008. Từ cuối tháng 11/ 2009 trở
đi, các NHTM đồng loạt để mức lãi suất huy động 10,49%/năm và duy trì cho đến đầu
năm 2010.
2.1.1.3 Giai đoạn 2010: Lãi suất dần ổn định
Trong năm 2010, duy trì đà tăng của lãi suất huy động vào những tháng cuối
năm 2009, lãi suất huy động VND về cơ bản đã gia tăng ở những tháng đầu năm, giảm và

10.4 –
10.49
10.4 –
10.49
USD ( áp dụng đối
với cá nhân)
0.2 –
0.3
2.3 –
2.8
2.6 –
3.2
3.0 –
4.0
3.4 –
4.0
Nhóm
NHTMCP
VNĐ
2.4 –
4.2
10.0 –
10.49
10.3 –
10.499
10.3 –
10.499
10.4 –
10.4999
10.4 –

Agribank 14.5 13.2
Vietinbank 14.5 13.5
Vietcombank 14 - 14.5
Đông Á 15.6 15
Sacombank 15 13.8
ACB 14 – 15 14.5
Bảng 5: Lãi suất huy động và lãi suất cho vay
Lãi suất huy động Lãi suất cho vay
VNĐ 10.59 – 11.2%/năm 13 – 15%/năm ( thực tế cho
vay cá nhân và doanh nghiệp
vẫn từ 14 – 16%/năm )
USD 5 – 5.5%/năm 5.5 – 6%/năm

Thực tế, vào cuối tháng 9/2010, hầu hết các ngân hàng đẩy mạnh khuyến mãi,
sau khi đã để mức lãi suất đồng thuận cao nhất lên tới 11,2%/năm đối với tiền gửi VND,
áp dụng cho hầu hết các kỳ hạn. Một số nơi còn đưa ra những thỏa thuận “ngầm” với
khách hàng, lãi suất thực có thể lên tới 12 - 12,5%/năm, cao hơn so với mức đồng thuận.
Quý IV
2.1.1.4 Giai đoạn 2011: Lãi suất gắn liền với lạm phát
Bước sang năm 2011, kinh tế toàn cầu bắt đầu le lói phục hồi nhưng còn nhiều
khó khăn, tác động tiêu cực đến tình hình kinh tế trong nước. Trong 6 tháng đầu năm
2011, lạm phát tăng 13,29% so với đầu năm và tăng 20% so cùng kỳ năm trước, gây khó
khăn cho nỗ lực kiềm chế lạm phát dưới 15% theo mục tiêu đề ra, thị trường bất động sản
và chứng khoán sụt giảm mạnh. Lạm phát cao đẩy cuộc sống của người dân, đặc biệt là
những người có thu nhập trung bình hoặc dưới trung bình, vào vòng xoáy nguy hiểm của
suy thoái sức mua. Đó là vấn đề lớn nhất về kinh tế của năm 2011.
a) Lãi suất 6 tháng đầu năm 2011
Lãi suất cao nhất 6 tháng đầu năm 2010 là 9.11%, trong khi đó cao nhất
năm 2011 so với cùng kỳ là 13,34%. Lãi suất cao năm 2011 tập trung vào khu vực ngắn
hạn, gửi qua đêm, gửi tuần,gửi không kỳ hạn. Lãi suất huy động của các NHTM cũng

13,85
9 tháng
14 14 14
13,88
14
13,90
14
13,85
12 tháng
13 14 14
14,00
14
11,95
14
13,85
24 tháng
13 12 11
11,40
14
12
14
12,00
Như vậy trước sức ép lạm phát tăng cao, cũng như tình hình huy động
vốn ngày một khó khăn, nên hiện tượng ngân hàng phải trả giá cao hơn cho các khoản
tiền gửi không phải là chuyện hiếm. Các ngân hàng còn chạy đua “ngầm” về lãi suất huy
động để thu hút nguồn vốn vào ngân hàng. Các chương trình khuyến mãi, quà tặng và cả
tặng thêm tiền mặt cho khách hàng… là những cách thức để ngân hàng đua nhau thu hút
vốn nguồn vốn huy động và là chiêu để “lách” mức trần lãi suất 14%/năm.
b) Lãi suất 6 tháng cuối năm 2011
Đến đầu tháng 7 năm 2011, do ảnh hưởng của lạm phát, mức lãi suất huy

Bước qua năm 2013, lãi suất huy động VNĐ của các NHTM vẫn trong xu
hướng giảm nhưng tốc độ đã chậm lại so với năm. Các NHTM Nhà nước đã chủ động
điều chỉnh lãi suất trên cơ sở cân đối nguồn vốn.
Lãi suất trên thị trường giảm vào khoảng 0,8-1,5% đối với các kỳ hạn dưới 1
năm và lên tới 2,5-3,5% đối với các kỳ hạn trên 1 năm so với cuối năm 2012.
Đối với lãi suất huy động của các NHTM giảm phổ biến ở mức 1-1,2%/năm
đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng, 5,5-7,0%/năm kỳ hạn từ 1 tháng
đến dưới 6 tháng, 6,5- 7,5%/năm kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng, 8-9%/năm kỳ hạn
từ 12 tháng trở lên.
Diễn biến cùng chiều với lãi suất huy động, lãi suất cho vay VNĐ cũng được
điều chỉnh giảm. Đến cuối năm 2013, lãi suất cho vay phổ biến trong khoảng 8-
11,5%/năm kỳ hạn ngắn và 11,5-13%/năm trung dài hạn. Trong đó, các lĩnh vực ưu tiên
lần lượt là 8-9%/năm & 11-12%/năm và các lĩnh vực khác là 9-11%/năm & 11,5-
13%/năm. Đặc biệt, một số doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh, minh bạch,
phương án, dự án sản xuất kinh doanh hiệu quả đã được vay với mức lãi suất chỉ từ 7-
7,5%/năm.
Lãi suất huy động và cho vay ( tính đến cuối năm 2013 )
Lãi suất huy động VNĐ 7,5-8,5%
Lãi suất cho vay VNĐ 11,5-13%
Lãi suất huy động USD 0,25 – 1.25%
Lãi suất cho vay USD 6,5-7%
2.1.2 Nguyên nhân của cuộc chạy đua lãi suất
2.1.2.1 Ngoài nước
Khủng hoảng tài chính bùng phát tại Mỹ cuối năm 2007 đã lan nhanh và ảnh
hưởng sâu rộng đến toàn cầu, kéo theo sự sụp đổ của nhiều định chế tài chính khổng lồ,
thị trường chứng khoán khuynh đảo. Các nền kinh tế lớn trên thế giới như Mỹ, Nhật, các
nước EU lần lượt tuyên bố suy thoái, GDP toàn cầu sụt giảm nghiêm trọng, hàng loạt các
tập đoàn tài chính, ngân hàng phá sản, hoạt động sản xuất ngưng trệ ảnh hưởng đến hoạt
động của các ngân hàng trong nước.
2.1.2.2 Trong nước

suất chủ đạo được điều chỉnh tăng. Lãi suất cơ bản tăng từ 12%/năm lên 14%/năm.
Việc áp dụng công cụ lãi suất nhằm:
 Ngăn chặn được nguy cơ xáo trộn thị trường tiền tệ và mất khả năng thanh toán của các
Ngân hàng thương mại trong những tháng cuối năm 2008.
 An toàn hệ thống ngân hàng được đảm bảo
 Củng cố lòng tin của các nhà đầu tư, doanh nghiệp và người dân đối với hệ thống ngân
hàng
 Khắc phục được tình trạng cạnh tranh không lành mạnh trong huy động vốn giữa các
Ngân hàng thương mại.
 Cùng với diễn biến lạm phát có xu hướng giảm, kinh tế vĩ mô ổn định và hoạt động của
các Ngân hàng thương mại đảm bảo khả năng thanh toán, làm cho thị trường tiền tệ và lãi
suất tương đối ổn định.
Mức lãi suất cơ bản được NHNN áp dụng (năm 2008) như sau
Giá trị Văn bản quyết định Ngày áp dụng
10,0%/năm 2948/QĐ-NHNN 3/12/2008 05-12-2008
14.00%/năm 2131/QĐ-NHNN 25/9/2008 01-10-2008
14%/năm 1906/QĐ-NHNN 29/8/2008 01-09-2008

Trích đoạn Tạo lập môi trờng pháp lý lànhmạnh dể khuyến khích sự cạnh tranh giữa các Ngân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status