Tiểu luận môn tâm lý học xuyên văn hóa - Pdf 23

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA: TÂM LÝ HỌC

TIỂU LUẬN
MÔN: TÂM LÝ HỌC XUYÊN VĂN HOÁ
Học viên : Nguyễn Tuấn Anh
Lớp : Cao học Tâm lý K14
Giảng viên: TS. Lê Văn Hảo
HÀ NỘI – 2012
ĐỀ BÀI
Bàn về tính cộng đồng và tính cá nhân như là một chiều cạnh văn hoá có ảnh
hưởng lớn đến hành vi xã hội của chúng ta, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đó là hai khái
niệm tương phản nhưng lại có thể cùng tồn tại trong các nền văn hoá, mỗi cá nhân.
1. Hãy cho biết ý kiến và đánh giá của bạn?
2. Hãy nêu và bàn luận về hệ quả của tính cá nhân và tính cộng đồng trong:
a. Xã hội hoá trẻ em.
b. Các hành vi xã hội.
c. Hỗ trợ xã hội và sức khoẻ.
2
Tính cộng đồng/tập thể và tính cá nhân là hai khái niệm rộng, được nhiều ngành
khoa học tiếp cận từ các cách khác nhau, và trên những cấp độ khác nhau. Từ những năm
80 của thế kỷ XX, chủ đề về tính cá nhân và tính cộng đồng đã thu hút được sự quan tâm
lớn trong giới tâm lý học, đặc biệt là tâm lý học xuyên văn hoá (Cross-Cultural
Psychology). Rất nhiều cuộc thảo luận cho đến ngày nay chứng tỏ tầm quan trọng rất lớn
của tính cá nhân và tính cộng đồng.
Tác giả Trần Ngọc Thêm
1
quan niệm tính cộng đồng là hiện tượng tâm lý – văn
hoá ở cấp độ nhóm lớn, mỗi người trong cộng đồng đều hướng đến người khác, vì người
khác trong cộng đồng.: “Tính cộng đồng là sự liên kết các thành viên trong làng lại với

:
(a) Coi trọng những quan điểm, nhu cầu và mục tiêu của những người trong
nhóm hơn là của chính mình;
(b) Coi trọng những nguyên tắc và trách nhiệm do các thành viên trong nhóm
định ra hơn là dựa trên ý kiến của một cá nhân;
(c) Đặt niềm tin vào những người trong nhóm chứ không vào riêng một cá nhân
nào;
(d) Sẵn sàng hợp tác với những thành viên trong nhóm
Ở cấp độ tâm lý, Triandis, Leung, Villarcal, Clard đề xuất các chiều cạnh của
nhân cách được xem là lấy mình làm trung tâm (Idiocentrism) và lấy người khác làm
trung tâm (Allocentrism) – tương đương với tính cá nhân và cộng đồng ở cấp độ văn hoá.
Nhìn chung có thể thấy, hai khái niệm tính cộng đồng và tính cá nhân tương
phản nhưng lại gắn liền với nhau, cùng tồn tại trong mỗi con người và mỗi nền văn hoá.
Tính cộng đồng và tính cá nhân có thể chuyển hoá cho nhau và có mối quan h biện chứng
với nhau. Fischer khi bàn về cách tiếp cận của tâm lý học xã hội cũng đã nhấn mạnh vấn
đề này, theo nghĩa khẳng định con người là một thực thể xã hội. Theo tác giả thì “Tâm lý
học xã hội coi vị trí con người trong xã hội là một hoàn cảnh đặc thù, trong đó hai mặt
vốn không thể trừ bỏ khỏi hiện thực là cái cá nhân và cái tập thể có quan hệ chằng chịt
với nhau. Tâm lý học xã hội phân tích xem hai cực ấy nối tiếp nhau như thế nào, nghĩa là
hành động của một cá nhân và sức mạnh của một xã hội có cấu trúc tác động qua lại
như thế nào. Hai chiều này trộn lẫn mật thiết với nhau và do đó không thể gỡ ra được.
Cái nhìn của tâm lý học xã hội là trú trọng hai điều đó để đo những hiện tượng xã hội do
mối liên hệ của chúng tạo ra”
3
.
Về vấn đề này, GS. Vũ Khiêu đã nhận xét khái quát: “Khi tìm hiểu về tính cá
nhân trong “cái tôi” thì chúng ta đụng chạm đến tính xã hội và khi tìm hiểu về tính xã
hội chúng ta lại đụng chạm đến tính cá nhân. Thực ra, nói chung cái xã hội không tách
rời cái cá nhân. Xã hội là môi trường hoạt động của cá nhân. Nói tới cái xã hội là phải
nói tới những con người hoạt động trong xã hội, như vậy cũng có nghĩa là phải nói đến

xa từ trong phương thức sinh tồn (phương thức tổ chức xây dựng và quản lý điều hành
các công trình thủy lợi – yếu tố sống còn của nền sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước,
yêu cầu đoàn kết chống giặc ngoại xâm ) và từ trong phương thức tổ chức xã hội truyền
thống (căn bản dựa trên các cộng đồng gia đình, họ tộc, làng,…). Trải qua hàng nghìn
năm dựng nước và giữ nước, tinh thần cộng đồng và truyền thống đoàn kết, tương thân,
tương ái đã được hun đúc, trở thành một giá trị văn hóa chủ đạo và một truyền thống quý
báu của dân tộc ta.
Tính cộng đồng chú trọng nhấn mạnh vào “sự đồng nhất”, cho nên người Việt
Nam luôn sẵn sàng đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau; có tính tập thể rất cao, gắn bó với tập thể,
hòa đồng vào cuộc sống chung của tập thể. Mặt khác, cũng chính do sự đồng nhất (giống
nhau) mà ở người Việt Nam, ý thức về con người cá nhân bị thủ tiêu, điều này thể hiện rõ
trong cách xưng hô, chẳng hạn như: Người Việt rất ít xưng “tôi”, mà luôn hòa tan vào
các mối quan hệ xã hội, cách xưng hô linh hoạt như: em, anh/chị, cháu…; thậm chí thích
dùng đại từ ngôi thứ nhất số nhiều “ta”…
Cách giải quyết xung đột theo lối “hòa cả làng” là hết sức phổ biến. Điều này
khác hẳn với truyền thống văn hóa phương Tây, nơi con người được rèn luyện ý thức về
cá nhân từ khi còn nhỏ, đến tuổi thành niên, con người đã hoàn toàn sống tách biệt khỏi
gia đình; chính vì vậy mà khi về già người phương Tây thường cô đơn, còn cụ già Việt
Nam thì sum vầy trong tình cảm của đàn con cháu.
4
GS. Vũ Khiêu, “Cái tôi” – Một số vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu, Tạp chí Tâm lý học , số 1, 2002
5
Người Việt Nam có tính dựa dẫm, ỷ lại vào tập thể (“Nước trôi thì bèo trôi, Nước
nổi thì thuyền nổi”; “Cha chung không ai khóc, Lắm sãi không ai đóng cửa chùa”; “Lụt
thì lút cả làng”); tư tưởng “an phận thủ thường” và “cả nể” (khi có việc gì xảy ra người
Việt Nam thường lựa chọn cách giải quyết “đóng cửa bảo nhau”) và tính cào bằng, đố
kị, không muốn cho ai hơn mình (“Xấu đều hơn tốt lỏi”; “Khôn độc không bằng ngốc
đàn”; “Chết một đống còn hơn sống một người”).
Những thói xấu có nguồn gốc từ tính cộng đồng này khiến cho ở Việt Nam, khái
niệm “giá trị” trở nên hết sức tương đối: Cái tốt, nhưng là tốt riêng rẽ thì trở thành xấu;

sau thông qua quá trình giáo dục và nuôi dưỡng con cái. Do đó, nghiên cứu phong cách
làm cha mẹ trong bối cảnh văn hoá là đặc biệt quan trọng (Sprott, 1994). Hành vi làm cha
mẹ có thể bị ảnh hưởng bởi những tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của các mô hình văn
hoá của cá nhân hoặc tập thể. Ảnh hưởng trực tiếp của nó vào hành vi của cha mẹ có thể
giải thích bằng việc sự truyền lại các giá trị của nền văn hoá đó cho trẻ em để trẻ em trở
thành một thành viên xã hội đó, đồng thời mang trong mình những giá trị chung của nền
văn hoá đó
Trong các nước tập thể, các bậc cha mẹ phát huy các giá trị như sự trợ giúp, tuân
thủ phù hợp với quy ước xã hội và phụ thuộc lẫn nhau trong nhóm của họ như gia đình
và xã hội. (Greenfield và Suzuki, 1998).
Chao (1994) coi khái niệm “đào tạo” bao gồm sự kiểm soát của cha mẹ, cũng như
mức độ tương tác cao giữa cha mẹ và con cái, thể hiện mức độ quan tâm và sự gần gũi.
“Đào tạo” nhấn mạnh sự vâng lời, tự kỷ luật và sự cần thiết để học tốt ở trường. Khái
niệm “đào tạo” này giải thích tại sao phong cách nuôi dạy con cái độc đoán lại có ảnh
hưởng tích cực đến sự phát triển của trẻ em châu Á, những người được nuôi dưỡng trong
nền văn hoá tập thể, còn khái niệm “đào tạo” kiểu này thường vắng mặt trong văn hoá
phương Tây, những quốc gia theo xu hướng cá nhân.
Một trong những nghiên cứu đã so sánh tích cách, đặc điểm giữa các thanh niên
trong các nền văn hoá tập thể và cá nhân, kết quả là thanh niên ở Malaysia
Trong các gia đình Trung Quốc: sự tương tác giữa cha mẹ và con cái có sự khác
nhau giữa các giai đoạn tuổi khác nhau. Cha mẹ có xu hướng khoan dung hơn đối với trẻ
sơ sinh và trẻ nhỏ vì họ được coi là quá nhỏ để hiểu nhiều điều cha mẹ mong muốn.
Ngược lại, các bậc cha mẹ đối xử với con lớn khắc nghiệt và nghiêm ngặt hơn, kiểm soát
những xung động và xúc cảm của con nhiều hơn.Tuy nhiên ở phương Tây, bắt đầu từ
khoảng giữa thời thơ ấu và trẻ em tuổi vị thành niên lại sớm gặp phải một số khó khăn và
mâu thuẫn với cha mẹ vì cha mẹ đặt kỳ vọng và yêu cầu quá cao với con cái (Ho, 1981).
Điều này cũng xuất phát từ việc các quốc gia phương Tây với xu hướng cá nhân chiếm
ưu thế, việc họ đặt kỳ vọng vào sự tự lập của con cái ngay từ nhỏ. Ở những nước này,
cha mẹ thường nuôi dạy con cái từ nhỏ theo tinh thần luôn có nguyện vọng, xu hướng và
khả năng sống tự lập. Nói chung họ thích có nơi ngủ riêng biệt để được hoàn toàn tự do,

thể có ý thức cao về giá cả, giá trị đồng tiền và tinh tế trong việc sử dụng tiền, khác với
người Mỹ lớn lên trong một xã hội cá nhân, có thể có hành vi chi tiêu ít có sự tính toán
quá chi ly như người Trung Quốc.
Các nhà nghiên cứu tập trung vào các chỉ tiêu văn hóa có thể dẫn đến sự khác
biệt trong hành vi mua sắm giữa Trung Quốc và Mỹ. Những giá trị và các chỉ tiêu được
thông qua từ cộng đồng cho một cá nhân như thể cá nhân đó đang được xã hội hóa trong
cộng đồng. Người tiêu dùng tìm hiểu các giá trị và tiêu chuẩn về tiêu thụ, thu thập và xử
lý sản phẩm thông qua cộng đồng của họ (Moschis, 1987).
Xã hội tập thể hay cá nhân quy định những động cơ để tiêu thụ những mặt hàng
sang trọng (Ahuvia & Wong, năm 1998; Hofstede, 1980). Đối với hàng hoá tiêu dùng
công cộng và đặc biệt là quà tặng, khách hàng Trung Quốc ý thức cao và không tiết kiệm
trong việc chi tiêu mặt hàng này (Yau, 1994). Trong một nền văn hoá tập thể như Trung
Quốc, ý nghĩa biểu tượng của hàng hóa công cộng là quan trọng hơn trong một nền văn
hóa cá nhân. Xã hội công nhận là quan trọng hơn khi quan hệ xã hội mạnh hơn (Schutte,
8
1998). Văn hoá “có đi có lại” trong việc tặng quà tại Trung Quốc cũng đóng góp quan
trọng vào ý nghĩa biểu tượng của việc tiêu thụ hàng hoá công cộng. Chất lượng hàng hoá
và giá cả của hàng hoá tượng trưng cho tầm quan trọng của mối quan hệ giữa người
cho/tặng và người nhận. Giá càng cao, mặt hàng càng giá trị thể hiện một mối quan hệ
càng quan trọng. Mặt khác, đối với hàng hoá tiêu dùng cá nhân Trung Quốc lại rất thực
tế trong việc chi tiêu, không hoang phí (Li & Gallup, năm 1995). Tập thể có thể là một
yếu tố quan trọng dẫn đến sự tiết kiệm trong tiêu dùng cá nhân của người Trung Quốc
(Schutte, 1998). Trung Quốc đính kèm một giá trị cao hơn trong việc mua sắm các món
quàdddeer củng cố các mối quan hệ của cá nhân. Xác định giá trị này dẫn đến chủ nghĩa
thực dụng cho việc mua sắm các sản phẩm cho tiêu dùng cá nhân lớn hơn so với những
nước có nền văn hoá cá nhân (như Mỹ). Giải thích này được củng cố bởi các cuộc điều
tra gần đây cho thấy người tiêu dùng Trung Quốc đặt một ưu tiên thấp hơn chi cho tiêu
dùng cá nhân (Scarry, 1996).
Ý thức về giá cả của người Trung Quốc được quy định bởi chuẩn mực giá trị
(Wei- denbaum, 1996; Redding, 1990). Chỉ tiêu này có thể xuất phát từ việc thiếu các

người phương Tây tránh nói chuyện trong bữa ăn). Tính cộng đồng trong ăn uống đòi hỏi
con người một thứ văn hóa giao tiếp cao - văn hóa ăn uống. Bài học đầu tiên mà người
lớn tuổi dạy cho con cháu là ăn trông nồi, ngồi trông hướng. Vì mỗi thành viên trong bữa
ăn của người Việt Nam đều phụ thuộc lẫn nhau nên phải có ý tứ khi ngồi và mực thước
khi ăn. Đó là biểu tượng của tính cộng đồng trong hành vi ăn uống của người Việt.
• Tự mô tả nét tính cách
Grimm et al. (1999) kiểm tra tự mô tả đặc điểm tính cách, giá trị, và tâm trạng
của các học sinh trong nghĩa cá nhân (Hoa Kỳ) và một nền văn hóa tập thể
(Philippines). Kết quả thu được rằng, người Philippines đánh giá bản thân thấp hơn so
với các học sinh Mỹ trên phương diện các đặc điểm cá nhân như độc lập, sự tự do, sự
quyết đoán…) và cao hơn Mỹ ở các đặc điểm như sự chú tâm, sự tôn kính, khiêm tốn,
hợp tác.
Triandis (1989) lập luận rằng người dân ở các nền văn hóa cá nhân, chẳng hạn
như những người ở Bắc Mỹ và Tây Âu, có xu hướng lựa chọn các yếu tố của bản ngã cá
nhân còn những người từ các nền văn hóa tập thể, chẳng hạn như những người của châu
Á, châu Phi, và Nam Mỹ có xu hướng lựa chọn các yếu tố thuộc về cộng đồng (Triandis
et al 1990, et al Trafimow 1991).
• Giải quyết xung đột
Carpenter (2000) cho rằng trong nền văn hóa tập thể, mọi người trong các nhóm
phụ thuộc lẫn nhau (gia đình, bộ tộc, quốc gia…), ưu tiên cho các mục tiêu của nhóm,
hành vi của họ chủ yếu trên cơ sở trong nhóm định mức, và hành động vì nhóm (Mills &
Clark 1982).
Ohbuchi et al. (1999) cho thấy rằng trong các tình huống xung đột trong quan hệ
với người khác thì những người theo xu hướng tập thể có xu hướng lựa chọn giải pháp
giải quyết xung đột theo hướng hoà giải mà không thích phá huỷ mối quan hệ trong khi
những người trong văn hoá cá nhân thì sẵn sàng đến toàn án giải quyết tranh chấp (Leung
1997).
Sự nhượng bộ chỉ được sử dụng khi cần thiết để đạt được thoả thuận (Carnevale
et al, 1996). Những yếu tố này là đặc trưng của một phong cách đàm phán cạnh tranh.
Rahim (1992) thấy rằng xu hướng cá nhân có nhiều khả năng để áp dụng một phong cách

thể.
• Thiết lập mối quan hệ
Những người trong nền văn hóa tập thường thiết lập các mối quan hệ mật thiết và
lâu dài (Verma 1992), còn những người trong các nền văn hóa cá nhân chủ thường thiết
lập các mối quan hệ không thân thiết và ngắn hạn. Các cá nhân trong nền văn hoá tập thể
thường bị ảnh hưởng mạnh bởi hành vi và suy nghĩ của những người khác.
Dựa trên một cuộc khảo sát trên 60 quốc gia, Hofstede đã kết luận rằng sự khác
biệt văn hoá dân tộc có ảnh hưởng đến công việc, giá trị và thái độ. Nền văn hóa tập thể
11
đặt mục tiêu và kết quả của nhóm hơn của cá nhân (Triandis, 1995). Kết quả là, họ sẵn
sàng hy sinh cho nhóm nội (Weldon & Jehn, 1995). Đối với những người theo xu hướng
tập thể, việc duy trì các mối quan hệ xã hội được đề cao (Ting-Toomey, 1988) và sự hòa
hợp thường được ưu tiên hơn hoàn thành nhiệm vụ và ham muốn cá nhân (Weldon &
Jehn, 1995). Do đó, những người trong xã hội tập thể có xu hướng cố gắng để giảm thiểu
sự gián đoạn do mâu thuẫn giữa các thành viên trong nhóm (Chew & Lim, năm 1995;
Goldenberg, 1988) và tạo điều kiện để các mục tiêu nhóm lên trên các mục tiêu cá nhân
(Weldon & Jehn, 1995). Quan trọng hơn, ở những xã hội tập thể, họ thể hiện sự quan tâm
đến việc đạt được các mục tiêu của người khác hơn là của cá nhân họ (Lewicki et al,
1994). Không có gì đáng ngạc nhiên, khi tập thể có sự tương quan với sự hợp tác
(Carnevale, Probst, Hsueh & Triandis năm 1996; Ting-Toomey, 1988).
Mặt khác, chủ nghĩa cá nhân mô tả xã hội mà trong đó mối quan hệ giữa cá nhân
lỏng (Elsayed-Ekhouly & Buda, 1996). Nền văn hoá cá nhân coi nhu cầu và lợi ích cá
nhân hơn những thành viên của nhóm. Họ đánh giá cao quan điểm riêng của họ (Lewicki
et al., 1994) và đặt mục tiêu cá nhân trước những mục tiêu của nhóm (Carnevale et al,
1996).
• Hành vi quản lý
Chủ nghĩa cá nhân cực đoan bỏ qua suy nghĩ, tình cảm của người khác được coi
như bất lịch sự hay vô lễ ở Trung Quốc, thì điều này dường như lại được coi như là khá
bình thường tại xã hội Bắc Mỹ. Trong môi trường kinh doanh, một nghiên cứu quy mô
kinh doanh hộ gia đình cho thấy, những giá trị văn hóa của Trung Quốc đã được thể hiện

nhau, coi con người như một thực thể linh hoạt kết nối, người bị ràng buộc với những
người khác, và xem xét nhóm mục tiêu chính và niềm tin cá nhân, nhu cầu, và mục tiêu
là thứ yếu (Kitayama Uchida, 2005; Markus & Kitayama, 1991).
Người dân ở các nền văn hóa cá nhân có thể yêu cầu hỗ trợ xã hội theo hướng cởi
mở hơn và những người khác có quyền tự do để lựa chọn việc giúp đỡ theo tinh thần tự
nguyện. Ngược lại, người dân ở những nền văn hóa tập thể lại tương đối thận trọng hơn
trong việc đưa vấn đề cá nhân của mình để cho xã hội giúp đỡ vì họ quan niệm các cá
nhân không nên gánh nặng cho xã hội và người khác (Kitayama & Uchida, 2005;
Mesquita, Năm 2001; Morling, Kitayama, & Miyamoto, 2003).
Trong một loạt các nghiên cứu so sánh châu Á, người Mỹ gốc Á, châu Âu và Mỹ
(Hashimoto, imada & Kitayama, 2007, HS Kim, Sherman, Ko & Taylor, 2006; Sasaki &
Kim, 2008; Taylor et al, 2004). Những nghiên cứu đã chứng minh sự khác biệt văn hóa
đáng tin cậy trong của người dân sẵn sàng sử dụng hỗ trợ xã hội để đối phó với căng
thẳng. Taylor et al. (2004) phát hiện ra rằng người châu Á và người Mỹ gốc Á sử dụng
hỗ trợ xã hội ít hơn người châu Âu, người Mỹ.trong việc đối phó với những vấn đề cá
nhân gặp phải.
Nghiên cứu kiểm tra sự khác biệt văn hóa trong một loạt các tình huống căng
thẳng, bao gồm cả xã hội, học tập và sức khỏe thể chất, tinh thần với sự tham gia của
những người đại diện cho nền văn hoá cá nhân (châu Âu, Mỹ) và những người trong nền
văn hoá tập thể châu Á (Hàn Quốc) (Sasaki & Kim, 2008). Một nghiên cứu tương tự
được tiến hành giữa người Mỹ và người Nhật (Hashimoto et al, 2007) cũng cho kết quả
kết quả tương tự trên, cụ thể, người châu Á và Mỹ gốc Á ít có sự tìm kiếm hỗ trợ xã hội
để đối phó với sự căng thẳng hơn so với người châu Âu và người Mỹ.
13
Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng tất cả các đối tượng được lựa chọn là người
châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Philippines) thì có xu hướng sử dụng các
chiến lược trợ giúp xã hội để đối phó với khó khăn ít hơn so với người châu Âu và
Mỹ. Như vậy, dường như xu hướng “không tìm kiếm” hỗ trợ xã hội là một hiện tượng
khá chung của nhóm người châu Á và người Mỹ gốc Á.
Có ít nhất ba lý do về sự khác biệt trong sử dụng hỗ trợ xã hội ở các nền văn hoá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status