phương thức tạo hàm ngôn trong truyện cười Tiếng Việt - Pdf 23


1
Mục lục
Trang
Mục lục 01
Mở đầu 03
1. Lí do chọn đề tài 03
2. Lòch sử vấn đề 04
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 17
4. Phương pháp nghiên cứu 18
5. Đóng góp của luận văn 19
6. Cấu trúc của luận văn 19
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 20
1.1. Thuật ngữ hàm ngôn và các thuật ngữ hữu quan
20
1.2. Phân loại ý nghóa hàm ngôn 31
1.3. Chức năng của ý nghóa hàm ngôn
41
1.3.1. Vì lí do khiêm tốn 41
1.3.2. Giữ thể diện cho người nghe 42
1.3.3. Người nói không nhận trách nhiệm về lời nói của mình 44
1.4. Quan điểm của luận văn 44
1.5. Một số vấn đề về văn hoá ngôn ngữ học của ý nghóa hàm ngôn 45
1.6. Đặc điểm của văn bản và truyện cười 52
1.6.1. Đặc điểm của văn bản 52
1.6.2. Đặc điểm của truyện cười 54
1.7. Tiểu kết 56
Chương 2: MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC TẠO HÀM NGÔN TRONG
TRUYỆN CƯỜI TIẾNG VIỆT 58
1. Giới thuyết chung 58
2. Phân loại và miêu tả 58

2.23. Phương thức vi phạm tiền giả đònh 113
2.24. Phương thức tạo thông tin thừa 115
2.25. Phương thức nói khái quát 116
2.26. Phương thức tạo sự mơ hồ 117
2.3. Tiểu kết 118
KẾT LUẬN 120
NGUỒN GỐC CỦA CÁC CỨ LIỆU TRÍCH DẪN 125
TÀI LIỆU THAM KHẢO 126
3
Mở đầu

1. Lí do chọn đề tài
Trong tác phẩm Bút kí triết học, V.I.Lê nin đã nói: "Viết một cách
thông minh có nghóa là giả đònh người đọc cũng thông minh, là không nói hết,
là để người đọc tự nói với mình những quan hệ, những điều kiện, những giới
hạn- chỉ với những quan hệ, những điều kiện, những giới hạn này thì một câu
nói mới có giá trò và ý nghóa" [Dẫn theo 37; 127]. Như vậy, trong tổ chức ngôn
ngữ không phải lúc nào cũng có thể nói trắng ra được, trái lại nhiều lúc phải
"vòng vo tam quốc". Sở dó phải "vòng vo tam quốc", ngoài ý nghóa là viết một
cách thông minh như Lê nin nói, nhiều lúc người viết đâu phải lúc nào cũng tự
do trong lựa chọn ngôn ngữ. Nói thế nào để diễn đạt được nội dung muốn nói
mà người nghe vẫn không phật lòng, nói thế nào mà không đụng chạm đến
người khác, quả nhiên, là vấn đề không chỉ bó hẹp trong phạm vi ngôn ngữ
học.
Trong cuộc sống thường ngày, khi giao tiếp với nhau không phải lúc
nào chúng ta cũng "nói thẳng", "nói trắng", hay "nói toạc móng heo" những
điều mình cần nói. Trái lại, chúng ta vẫn có thể thực hiện được hành vi giao
tiếp hàm ẩn của mình thông qua lối nói "úp mở", "bóng gió", "lập lờ" Còn
người nghe muốn hiểu được ý nghóa ẩn chứa ở bề sâu câu chữ thì phải dựa
vào một căn cứ nào đó để suy luận. Căn cứ để suy luận có thể là thông qua từ

vào tìm hiểu những phương thức tạo hàm ngôn phổ biến nhất trong truyện
cười tiếng Việt.
2. Lòch sử vấn đề
2.1. Có rất nhiều nhà ngôn ngữ khi nghiên cứu về ngôn ngữ học đã bàn
đến vấn đề nghóa hàm ngôn và các thuật ngữ khác như nghóa hiển ngôn,
tiền giả đònh, hàm ý Rải rác trên một số sách ngôn ngữ và tạp chí chuyên
ngành, người ta cũng đưa ra vài cách tạo ra hàm ngôn. Tuy nhiên, chưa có
tác giả nào đưa ra một cách đầy đủ và có hệ thống về các phương thức tạo
5
hàm ngôn trong văn bản tiếng Việt nói chung, trong truyện cười tiếng Việt
nói riêng.
Tại đây, chúng ta thử lần lượt điểm qua một số công trình nghiên
cứu liên quan trực tiếp đến đối tượng nghiên cứu của luận văn này.
Hồ Lê trong "Quy luật ngôn ngữ" [60,58], đã đề cập đến vấn đề ý
nghóa hiển hiện và ý nghóa hàm ẩn trong phát ngôn. Ông đã phân loại ý
nghóa hàm ẩn thành ý nghóa hàm ẩn ngữ huống và ý nghóa hàm ẩn ngôn từ;
ý nghóa hàm ẩn hạn chế, ý nghóa hàm ẩn tự do và ý nghóa hàm ẩn dự cảm. ý
nghóa hàm ẩn lại được tác giả phân tích ra thành hàm nghóa và hàm ý.
Ngoài ra, ông còn nêu lên phương thức hiển ngôn và phương thức hàm
ngôn và đặt chúng vào trong những công thức tổng quát.
Trong công trình "Tính quy luật của hệ ngôn ngữ liên đối tượng"
[61,59], Hồ Lê đề cập đến vấn đề tiền giả đònh nhưng là tiền giả đònh của
lời. Theo tác giả, "tiền ý" + "tiền nghóa" chính là tiền giả đònh của lời. Ông
còn đề cập đến mối quan hệ giữa hàm nghóa, hàm ý và tiền giả đònh của lời.
"Từ ngữ nghóa của một số kết cấu ngôn từ nào đó suy ra "tiền nghóa"+ " tiền ý"
không phải là SUY XUÔI mà là SUY NGƯợC. Thành ra, có thể nói: Sự suy
xuôi thì tìm ra hàm nghóa, hàm ý của lời; còn sự suy ngược thì tìm thấy tiền giả
đònh của lời".
Cách đặt vấn đề của Hồ Lê trong hai công trình đề cập ở trên có
nhiều sáng tạo, trong đó đáng chú ý là tác giả đã nêu rõ được bản chất của

Nhưng như Trònh Sâm đã chỉ ra, trong giao tiếp, thật khó lòng phân biệt hàm
ngôn nào là do chủ đích, hàm ngôn nào là không do chủ đích: tức là nói theo
H.Grice, làm sao biết hàm ngôn nào là non natural meaning, hàm ngôn nào
thuộc natural meaning [89, 92]. Chúng tôi sẽ khai thác vấn đề này và coi việc
vi phạm phương châm hội thoại là một trong những chiến lược giao tiếp, là
một phương thức tạo hàm ngôn rất đắc đòa.
Có thể nói, đã có rất nhiều tác giả đề cập đến sự vi phạm nguyên
tắc công tác hội thoại làm nảy sinh hàm ngôn của Grice, tuy nhiên có lẽ
7
đây là tác phẩm miêu tả tỉ mỉ nhất, kó lưỡng nhất. Điều quan trọng hơn là
việc tác giả đưa ra lí do của hàm ngôn, đó là những nhân tố chủ yếu đưa
đến việc sử dụng hàm ngôn. Và khẳng đònh: "Hàm ngôn là một sản phẩm
của hai xu hướng cố hữu của con người- xu hướng chơi chữ và xu hướng
thẩm mó- vốn rất gần nhau trong thế giới tâm lí: hàm ngôn cũng là một trò
chơi chữ như "chơi chữ", và chơi chữ cũng đã bắt đầu là một nghệ thuật ".
Vậy thì hàm ngôn cũng là một nghệ thuật.
Trong "Câu trong tiếng Việt", Cao Xuân Hạo (chủ biên) cũng đã
bàn đến vấn đề hiển ngôn, hàm ngôn và tiền giả đònh trong câu.Theo tác
giả thì hiển ngôn bao gồm tiền giả đònh và hiển nghóa, còn hàm ngôn thì
không được hiểu trực tiếp qua câu chữ mà phải suy ra từ nguyên văn, từ
các nghóa trong cấu trúc và từ ngôn cảnh. Trong hàm ngôn có hàm nghóa
và ẩn ý.
Như vậy, ở đây có sự khác biệt trong quan niệm, trong công trình
trước đây, Cao Xuân Hạo cho rằng: ý nghóa hàm ẩn= tiền giả đònh+ hàm ý,
trong cuốn sách sau (chủ biên), tác giả lại chủ trương: hiển ngôn= tiền giả
đònh+ hiển nghóa. Có thể nói rằng, chúng tôi không đủ tri thức để nhận
đònh về sự chọn lựa không nhất quán này. Tuy nhiên, để tiện làm việc,
chúng tôi chấp nhận cách lí giải trước.
Hoàng Tuệ kế thừa quan điểm của các nhà ngôn ngữ học nước
ngoài như Ducrot, Paul Grice, Catherine Kerbrat- Orecchioni để đưa ra các

Theo ông thì hàm ngôn bao gồm tiền giả đònh và hàm ý. Tiền giả đònh có
hai loại là: tiền giả đònh ngữ nghóa và tiền giả đònh ngữ dụng. Hàm ý có hai
loại là hàm ý ngôn ngữ và hàm ý ngữ dụng (Nếu hàm ý của một phát ngôn
được hình thành trong một tình huống giao tiếp cụ thể thì gọi là hàm ý hội
thoại hay hàm ý ngữ dụng). Sau đó tác giả đi vào nghiên cứu hàm ý của
những câu trỏ quan hệ nhân- quả có các cặp từ nối như: nếu thì; vì nên;
hễ là Loại câu kiểu này thường mang nghóa tường minh nhưng đôi khi
có những câu lại chứa đựng hàm ý. Người nghe muốn nhận biết được hàm
9
ý của những câu như vậy thì phải thông qua sự suy luận. Và điều kiện cần
để một câu nhân- quả có hàm ý là người nghe thấy ngay điều hiển nhiên
đúng ở một vế nào đó của nó.
Khi đánh giá cao vai trò của lập luận trong giao tiếp, trong bài viết
về "Phương pháp lập luận trong tranh cãi pháp lí", Nguyễn Đức Dân và Lê
Tô Thuý Quỳnh đưa ra hai phương thức lập luận chính như sau: lập luận
dùng đúng đắn lo gích hình thức và lập luận không hình thức dựa trên
những lí lẽ chung (lẽ thường, topos). Theo hai tác giả thì lập luận dùng
đúng đắn lo gích hình thức có sức thuyết phục nhất. Tuy nhiên, trong cuộc
sống người ta lại hay dùng lập luận dựa trên những lí lẽ chung. Hai tác giả
đã đi vào tìm hiểu hệ thống lí lẽ chung của người Việt và phương thức lập
luận dùng những lí lẽ ngôn từ trong tranh cãi pháp lí.
Trong cuốn "Ngôn ngữ học: Lónh vực- Khái niệm- Khuynh hướng"
của ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Nguyễn Đức Dân có một phần viết
về tiền giả đònh và tiêu điểm. Theo ông, khái niệm tiền giả đònh và tiêu
điểm được dùng để giải thích ngữ nghóa của câu qua cấu trúc nổi. Giữa
tiêu điểm và tiền giả đònh có mối quan hệ với nhau trong câu hỏi và câu
đáp. Khi tiêu điểm của một câu thay đổi thì tiền giả đònh của câu cũng
thay đổi. Như thế sẽ tạo ra hiện tượng mơ hồ về tiền giả đònh.
Trong nhận thức của chúng tôi sự mơ hồ về tiền giả đònh hay vi
phạm tiền giả đònh cũng là một cơ sở tạo hàm ngôn.

đến nguyên tắc cộng tác mà "liên quan đến những từ riêng biệt và được rút
ra từ những ý nghóa phụ thêm có được truyền đạt khi những từ này được
dùng" [124,92], ví dụ: nhưng, ngay, cả
Khi tìm hiểu các khái niệm như: tiền giả đònh và hàm ý, trong cuốn
""Phân tích diễn ngôn", Gillian Brown và George Yule cho rằng tiền giả
đònh là "cái mà người nói xem là cơ sở chung của những người cùng tham
gia hội thoại" [38,55]. Hai tác giả đã chia hàm ý ra làm hai loại là hàm ý
11
hội thoại và hàm ý quy ước như George Yule đã phân loại trong cuốn
"Dụng học".
Trong công trình "Lô gích ngôn ngữ học", Hoàng Phê cho rằng khi
nghiên cứu ngữ nghóa học nói chung và ngữ nghóa học tiếng Việt nói riêng
thì trước tiên phải nghiên cứu những vấn đề ngữ nghóa của từ. Tuy nhiên,
ngữ nghóa của từ không tách rời ngữ nghóa của câu và ngữ nghóa của văn
bản. Điều đó có nghóa là phải đặt từ vào trong các đơn vò lớn hơn mới thấy
được đầy đủ những nét nghóa tinh tế và phức tạp của từ. Tác giả đi sâu vào
vấn đề hàm ngôn, hiển ngôn, tiền giả đònh, hàm ý và ngụ ý cũng như phân
tích cụ thể mối quan hệ giữa các thuật ngữ trên. Đồng thời, ông áp dụng
phương pháp "giải toán ngữ nghóa" để phân tích những lời nói có hàm ngôn
trong tác phẩm Sống mòn của Nam Cao.
Lê Đông có bài viết về vai trò của hư từ như: "Ngữ nghóa- ngữ dụng
của hư từ tiếng Việt: Y# nghóa đánh giá của các hư từ". Theo tác giả thì hư
từ có thuộc tính đánh giá, là phương tiện để đưa vào câu, vào văn bản
những nội dung hàm ẩn khác nhau, tham gia vào việc tạo nên chiều sâu
của văn bản và tổ chức, liên kết các kiểu nội dung hiển ngôn. Như vậy,
theo quan điểm ngữ nghóa- ngữ dụng, tác giả đã miêu tả và xác đònh khá
rõ ý nghóa đánh giá của hư từ và vai trò của nó trong việc hình thành nghóa
hàm ẩn.
Trong bài "Phương thức liên kết của từ nối", Nguyễn Đức Dân và Lê
Đông cũng đưa ra các phương thức liên kết của từ nối như: liên kết giữa

tiếp, cơ sở của các hàm ngôn (hay hàm ý)". Theo tác giả, trong giao tiếp
thông thường hay giao tiếp nghệ thuật người ta thường dùng các hàm ngôn.
Hàm ngôn thường phụ thuộc sâu sắc vào hoàn cảnh giao tiếp mà cơ sở là
các lẽ thường (topos), "lẽ thường là những tiền đề, là cái phông chung để
người nói và người nghe hiểu nhau" [69,83]. Tác giả đưa ra một số lẽ
thường của hàm ẩn không tự nhiên- một thuật ngữ của H.Grice như đã
nhắc ở trên.
13
Trònh Thanh Trà có bài viết về "Hành vi điều khiển trong sự kiện lời
nói có hàm ẩn" cho rằng: "Lời nói điều khiển hàm ẩn là sự kiện lời nói có
hành vi chủ hướng điều khiển được thực hiện dưới hình thức của một hành
vi ở lời khác nhưng lại có hiệu lực gián tiếp điều khiển" [114,9]. Đó là hành
vi điều khiển gián tiếp. Để thực hiện hành vi loại này có nhiều cách khác
nhau. Tác giả chỉ đi vào các sự kiện lời nói có hành vi chủ hướng điều
khiển được thực hiện gián tiếp thông qua hành vi hỏi. Theo chúng tôi thì
loại câu hỏi là loại câu được sử dụng nhiều nhất trong việc hình thành hàm
ngôn. Bởi vì câu hỏi không phải chỉ dùng với mục đích là để hỏi mà nó
còn được dùng với nhiều mục đích khác : hỏi để chửi, hỏi để thanh minh,
hỏi để khẳng đònh, hỏi để khen, chê
Huỳnh Công Hiển trong "Điều kiện- Tiền đề của ý nghóa hàm ẩn
trong phát ngôn [48], trên cơ sở vận dụng bộ máy khái niệm của Hồ Lê đã
đi vào phân tích hai thuật ngữ: ý nghóa hiển hiện và ý nghóa hàm ẩn. Theo
tác giả thì ý nghóa hiển hiện có hiển nghóa và hiển ý; ý nghóa hàm ẩn có
hàm nghóa và hàm ý. Tác giả đã phân biệt ý nghóa hiển hiện và ý nghóa
hàm ẩn trên các phương diện như: sự thể hiện, môi trường tồn tại, mục đích
sử dụng, con đường lónh hội. Với quan điểm "con đường lónh hội" là quan
trọng nhất, tác giả đã đưa ra những điều kiện để hình thành nghóa hàm ẩn
như: điều kiện về cơ chế nội tại của phát ngôn (gồm điều kiện về cấu trúc
ngôn ngữ và điều kiện từ vựng- ngữ nghóa); nhóm các điều kiện nằm ngoài
cơ chế nội tại của phát ngôn (gồm điều kiện tiền giả đònh bách khoa, điều

không có dữ kiện để giải bài tập. Từ thực trạng đó, tác giả đưa ra một số ý
kiến về việc dạy hàm ngôn ở bậc phổ thông trung học là nên dạy hàm
ngôn hướng tới cả người nói và người nghe. Tức là người nói biết tạo ra
hàm ngôn còn người nghe biết nhận diện hàm ngôn cũng như biết giải mã
hàm ngôn đó. Quả vậy, hàm ngôn, bản thân nó đã là một vấn đề phức tạp
và việc giảng dạy hàm ngôn lại càng phức tạp hơn.
15
Lê Dân cũng đề cập đến vấn đề dạy hàm ngôn trong chương trình phổ
thông trung học. Tuy nhiên, tác giả chỉ đi vào một khía cạnh nhỏ là "Tục ngữ
và dạy hàm ngôn" [20,33]. Theo tác giả, việc nhận đònh hàm ngôn trong tục
ngữ chính là nghóa bóng và nghóa khái quát là chưa đúng. Vì hàm ngôn
thường phụ thuộc vào phát ngôn cụ thể mà tục ngữ là những câu nói đã
đònh hình, có nghóa xác đònh. Cho nên, muốn tục ngữ có hàm ngôn thì phải
đặt vào những hoàn cảnh phát ngôn cụ thể chứ không phải là nghóa bóng
hay nghóa khái quát của tục ngữ. Nói rõ hơn, hàm ngôn hay ý nghóa hàm
ẩn là vấn đề ngữ dụng, nó gắn liền với ngữ cảnh giao tiếp.
Trong "Tài chơi chữ của Nguyễn Khuyến" [97,10], Đào Thản đã xem
chơi chữ không chỉ "làm xiếc ngôn từ" mà còn là một biện pháp tu từ. Khi
khai thác hiện tượng này, ta thường gặp hai tầng nghóa: "nghóa mặt chữ và
nghóa bóng, nghóa ngầm". Tác giả đã phân tích một số biện pháp chơi chữ
mà Nguyễn Khuyến đã sử dụng trong thơ. Thiết nghó, biện pháp chơi chữ
không phải chỉ được vận dụng trong thơ mà trong cuộc sống hàng ngày, đó
là một phương thức cấu tạo hàm ngôn rất hữu hiệu.
Trong bài viết "Tiếng cười trong phong cách ngôn ngữ của Bác. Qua
các tác phẩm bằng tiếng Việt" [120,1], Bùi Khắc Viện cho rằng biện pháp
gây cười được chia làm hai loại: phi ngôn ngữ học và ngôn ngữ học. Biện
pháp phi ngôn ngữ học gồm những thao tác: lựa chọn, sắp xếp các tình tiết
và bình luận. Biện pháp này có tính chất phổ quát có thể áp dụng cho tất
cả các ngôn ngữ. Biện pháp ngôn ngữ học là biện pháp đặc thù nhằm khai
thác những đặc điểm riêng của từng ngôn ngữ để gây cười. Tác giả đã liệt

gây cười trong các truyện cười của người Việt Nam, đó là: Biến hoá ngôn
ngữ để gây cười (gồm chơi chữ và nói lái), cưỡng chế ngôn ngữ để gây cười
(như: gài bẫy đối tượng, tạo bất ngờ, những câu chuyện phi lí, cường điệu)
và tạo trò đùa và mẫu nhân vật để gây cười [55,30]. Tác giả minh chứng
điều đó qua một số chuyện cười tiêu biểu.
17
Sở dó chúng tôi đưa vấn đề này ra bởi vì hàm ngôn thể hiện sâu sắc
nhất trong truyện cười. Hay nói đúng hơn thì truyện cười nào cũng chứa đựng
hàm ngôn. Trong số những phương thức tạo hàm ngôn mà chúng tôi đưa ra
cũng có một số phương thức liên quan đến phương pháp gây cười mà tác giả
đã đề cập.
Khi đề cập đến "Nói ngược, nói mát và việc hiểu nghóa văn bản"
[16,9], Mai Ngọc Chừ cho rằng: muốn để một từ nào đó được hiểu với ý
nghóa ngược lại, người ta thường kéo dài giọng và nhấn mạnh các từ đó để
gây sự chú ý của người nghe. Các từ ngữ được dùng để nói ngược, nói mát
thường là tính từ. Quả thật, trong cuộc sống có những cách nói ngược thật
dễ hiểu (như những bài hát đồng dao, các bài vè nói ngược) nhưng cũng có
những cách nói ngược không dễ gì hiểu ngay được nếu không dựa vào
trọng âm hay vào từ ngữ.
Theo chúng tôi thì dựa vào trọng âm và từ ngữ để hiểu những câu
nói ngược, nói mát là chưa thực sự đầy đủ, mà điều quan trọng nhất có lẽ
vẫn là ngữ cảnh. Vì hàm ngôn phụ thuộc sâu sắc vào ngữ cảnh, bao gồm
ngữ cảnh ngôn ngữ và ngữ cảnh văn hoá.
Với đề tài "Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý trong ngôn
ngữ Nguyễn Công Hoan" [42], Nguyễn Văn Hương đã dựa trên quan điểm
của một số nhà ngôn ngữ trong và ngoài nước để nêu ra đònh nghóa về hàm
ngôn và phân tích mối quan hệ giữa thuật ngữ hàm ngôn và một số thuật
ngữ hữu quan như: hiển ngôn, tiền giả đònh, hàm ý. Sau đó tác giả vận dụng
vào nghiên cứu vai trò của hư từ đối với việc hình thành hàm ý trong ngôn
ngữ Nguyễn Công Hoan. Đề tài có giá trò thực tiễn, giúp cho chúng ta hiểu

quan đến hàm ngôn như: hàm ẩn, tiền giả đònh, hàm ý để từ đi đó đến
một cách hiểu tương đối bao quát nhất về hàm ngôn. Sau đó, chúng tôi tiến
hành phân loại hàm ngôn và làm sáng tỏ chức năng ý nghóa của nó.
Trên cơ sở này, luận văn tập trung đi vào nghiên cứu một số phương thức
hàm ngôn trong truyện cười tiếng Việt . Mỗi một phương thức, chúng tôi sẽ
19
đưa ra ví dụ minh họa rồi tiến hành miêu tả để thấy được cơ chế hoạt động của
nó. Có những phương thức, chúng tôi chỉ miêu tả sơ lược vì đó là những phương
thức khá quen thuộc, hơn nữa ví dụ cũng dễ nhận biết. Tuy nhiên, có những
phương thức chúng tôi phải đưa ra nhiều ví dụ và miêu tả tỉ mỉ vì đó là phương
thức mới, ít gặp hoặc cách hiểu hàm ngôn còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố
khác. Đó chính là những trường hợp phụ thuộc vào ngữ cảnh. Như chúng ta
đều biết, về nguyên tắc các loại văn bản nghệ thuật, các diễn ngôn hội
thoại đều có khả năng tạo hàm ngôn, nhưng phải thừa nhận do nhiều lí do
trong và ngoài ngôn ngữ, hầu hết truyện cười đều tập trung khá đều đặn
các phương thức hàm ngôn.
3.2. Về khái niệm truyện cười tiếng Việt, chúng tôi nhận thức như
sau: Đó là những văn bản mà trong tổ chức ngôn từ (hiểu theo nghóa rộng)
theo một cách thức nào đó để gây nên tiếng cười. Do vậy, truyện cười
được hiểu rất rộng, chứ không bó hẹp trong truyện cười dân gian. Đó cũng
là lí do giải thích vì sao chúng tôi sưu tập cả những ngữ liệu trong tác phẩm
văn chương lẫn truyện cười hiện đại. Nói rộng ra, hễ văn bản nào có chứa
các yếu tố gây cười do các phương tiện ngôn ngữ, bao gồm ở các cấp độ từ
ngữ và đến tổ chức văn bản đều là đối tượng khảo sát của luận văn này.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TÀI LIỆU
4.1. Phương pháp nghiên cứu
Nội dung đề tài trải dài trên một bình diện rộng, lại liên quan đến nhiều
chuyên ngành khác nên luận văn dùng nhiều phương pháp và thủ pháp khác
nhau.
Về phương pháp chung, hai phương pháp được vận dụng là phương

hữu quan như tiền giả đònh, nghóa hiển ngôn đồng thời, phân tích mối
quan hệ giữa ý nghóa hàm ngôn với các thuật ngữ đã nêu. Chúng tôi sẽ
tiến hành phân loại ý nghóa hàm ngôn, tìm hiểu về chức năng của nó cũng
như một số vấn đề về văn hoá ngôn ngữ học của ý nghóa hàm ngôn.
21
Chương 2: Một số phương thức tạo hàm ngôn trong truyện cười tiếng Việt
Trong chương này, chúng tôi phân loại và miêu tả các phương thức
tạo hàm ngôn phổ biến. Nguồn ngữ liệu để phân tích miêu tả là các truyện
cười chính danh và một số văn bản tiếng Việt có chứa yếu tố gây cười.
22
Chương một:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG

1.1. Thuật ngữ hàm ngôn và các thuật ngữ hữu quan
Trong phần này, chúng tôi đi vào tìm hiểu thuật ngữ hàm ngôn và
một số thuật ngữ có liên quan như: hiển ngôn, tiền giả đònh, hàm ý
Hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng nghóa hàm ngôn là nghóa
không hiện ngay ra trên bề mặt phát ngôn, đối lập với nghóa hiển ngôn là
nghóa hiện rõ từ hình thức bề mặt của phát ngôn. Paul Grice cho rằng: nói
một cách hiển ngôn là "nói một điều gì đó", nói một cách hàm ngôn là
"làm cho ai đó nghó tới một điều gì đó", Catherine Kerbart- Oreechioni
cũng ghi nhận: hiển ngôn là "cái người ta nói ra", còn hàm ngôn là "cái
người ta muốn nói mà không nói ra".
a) Theo Hoàng Tuệ [118,927], các cách nhận đònh bên trên đều

Về khái niệm tiền giả đònh và hàm ý, tác giả nhận đònh:
Tiền giả đònh của một câu nói là một điều gì phải được giả đònh là
đã có trước khi nói câu nói đó, vì nếu không có điều này thì không thể có
câu nói đó được (câu nói đó sẽ trở thành phi lí hoặc không thể hiểu được).
Hàm ý của một câu nói là một điều gì mà khi nghe câu ấy, người
nghe phải rút ra như một hệ quả tất nhiên.
Tiền giả đònh và hàm ý được người nghe hiểu qua hai hướng suy
diễn:
- Tiền giả đònh là cái diễn ra trước khi nói hoặc đã có sẵn trong khi
nói câu nói ấy.
- Hàm ý là cái diễn ra hay phải có sau khi hoặc ngay khi câu ấy
được nói ra.
24
Tiền giả đònh và hàm ý có thể toát ra từ nghóa nguyên văn của cả
câu với sự đóng góp của ngữ cảnh và tình huống; nhưng bên trong câu có
những từ mà nghóa chứa đựng tiền giả đònh và hàm ý.
c) Cao Xuân Hạo, Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn Bằng, Bùi Tất
Tươm gọi hiển ngôn là thông báo có thể được tiếp nhận ngay ở cái nghóa
bề mặt của câu nói, chỉ cần một ngữ cảnh để nắm được những sở chỉ cần
biết trong câu. Không có một ý lắt léo, một thâm ý nào ẩn náu trong câu.
Đó là một câu chỉ có "nghóa nguyên văn", một câu chỉ có nghóa hiển ngôn.
Cái làm cho người nghe tiếp nhận một thông báo với điều kiện giả
đònh là tiền đề của câu là có thật, là đúng. Những tiền đề được giả đònh là
đúng trong hiển ngôn gọi là tiền giả đònh của câu. Câu chỉ có nghóa đúng
hay sai khi tiền giả đònh là đúng. Những tiền đề được giả đònh là đúng
trong hiển ngôn gọi là tiền giả đònh của câu. Câu sẽ vô nghóa, vô giá trò,
không làm được gì trong chức năng giao tiếp khi tiền giả đònh của nó là
không có thật, là sai.
Tiền giả đònh không có giá trò thông báo, không thuộc nội dung của
hiển nghóa nhưng nó là điều kiện tiên quyết để hiển nghóa của câu có thể

quy ước mà theo Grice, "được quyết đònh bởi quy ước của từ".
Hàm ý hội thoại xuất phát từ nguyên lí chung trong hội thoại và một
số châm ngôn (maxim) mà người nói thường tuân theo. Một số nguyên tắc
nhưng là nguyên tắc hợp tác được Grice đònh nghóa như sau: Hãy đóng góp
cho hội thoại theo như yêu cầu của hội thoại, đúng thời điểm, theo mục
đích và phương hướng đã được chấp nhận trong cuộc trao đổi mà bạn tham
gia. Những quy ước hội thoại hay châm ngôn hỗ trợ cho nguyên lí trên gồm
có: lượng; chất; quan hệ và cách thức.
Ngoài ra, Grice còn xếp châm ngôn lòch sự cũng thường được tuân
theo; trong số các châm ngôn trên châm ngôn về phương cách không được
áp dụng rộng rãi trong hội thoại.

Trích đoạn Phương thức tạo tiền đề Phương thức sử dụng ngôn ngữ không tương thích với ngữ cảnh Phương thức suy luận Phương thức lập luận Phương thức tạo độ hẫng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status