Một số phương thức tạo hàm ngôn trong sáng tác của nguyễn công hoan - Pdf 26

Một số phương thức tạo hàm ngôn trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan
MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC: 01
MỞ ĐẦU 03
1. Lý do chọn đề tài 03
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 04
3. Mục đích nghiên cứu 06
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 06
5. Phương pháp nghiên cứu 06
6. Đóng góp của luận văn 07
7. Cấu trúc của luận văn 07
CHƯƠNG 1.MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 08
1.1. Hàm ngơn và các thuật ngữ có liên quan 08
1.2. Một số cách phân loại hàm ngơn 15
1.3. Mục đích đích dùng hàm ngơn 19
1.3.1. Người nói khơng muốn chịu trách nhiệm về lời nói của mình 20
1.3.2. Người nói dùng hàm ngơn với mục đích mỉa mai, châm biếm 20
1.3.3. Người nói muốn tiết kiệm lời 21
1.3.4. Người nói muốn giữ thể diện cho người nghe 21
1.3.5. Người nói dùng hàm ngơn vì khiêm tốn 23
1.3.6. Người nói dùng hàm ngơn vì kiêng kị 23
1.4. Ý nghĩa văn hố của hàm ngơn 24
1.5. Tiểu kết 27
CHƯƠNG 2. MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC TẠO HÀM NGƠN TRONG
SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN CƠNG HOAN 29
2.1. Nguyễn Cơng Hoan – Tác giả, tác phẩm và nghệ thuật 29
2.1.1. Vài nét về tác giả - tác phẩm 29
2.1.2. Quan điểm sáng tác 30
2.2. Một số phương thức tạo hàm ngơn trong sáng tác của
Nguyễn Cơng Hoan 32

nghóa hiển ngôn và nghóa hàm ngôn, đồng thời đề cập đến một số thuật ngữ
khác như: tiền giả đònh (TGĐ), hàm ý… nhưng còn một số thuật ngữ chưa
thống nhất mặt khác chưa có công trình nào đưa ra được đầy đủ, hệ thống các
phương thức cấu tạo hàm ngôn.
Trong thực tế, nghóa hàm ngôn rất quan trọng, nó ẩn chứa nhiều vấn đề
mà người tham gia giao tiếp phải suy luận mới hiểu được. Những cách nói
vòng vo, bóng gió, lập lờ… được sư ûdụng thường xuyên và đạt hiệu quả cao
trong giao tiếp. Người nói thường nói tránh, nó khéo nhằm làm cho người
nghe nhận ra ý của người nói mà không cảm thấy bò mất thể diện. Trong văn
chương HN được sử dụng phổ biến – chủ yếu trong ngôn ngữ đối thoại giữa
các nhân vật. HN có tác dụng làm cho lời nói thêm cô đọng, hàm súc, mang
nhiều ý nghóa. Do vậy, để tạo tính đa nghóa cho tác phẩm của mình các nhà
văn luôn chú ý sử dụng HN để nhân vật của mình nói những câu nói mang
tính đa nghóa để cho các nhân vật khác và độc giả cùng suy luận ra ý nghóa gì
từ câu nói đó.
1.2. Trong hoàn cảnh lòch sử của những năm 1930 – 1945, cùng với
những biến cố chính trò thì trong lónh vực văn chương cũng đã xuất hiện cùng
một lúc nhiều khuynh hướng văn học: Văn học lãng mạn, văn học hiện thực
phê phán và văn học cách mạng. Chúng cùng song song tồn tại và tác động
lẫn nhau. Do vậy, một số nhà văn có sự đan xen giữa các xu hướng kể trên
như Thạch Lam, Trần Tiêu, Nguyễn Công Hoan…
3
Một số phương thức tạo hàm ngôn trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan
Nguyễn Công Hoan sáng tác cả ở khuynh hướng hiện thực phê phán và
khuynh hướng lãng mạn. Tuy nhiên thành công chủ yếu và được đánh giá cao
là mảng truyện ngắn trào phúng theo cảm hứng phê phán.
Nguyễn Công Hoan rất thành công trong việc sử dụng ngôn từ. Ngôn
từ của ông độc đáo và mang nhiều ý nghóa sâu sắc. Nghiên cứu về hàm ngôn
trong
sáng tác của Nguyễn Công Hoan để có cách hiểu cách đánh giá chính xác

hiển ngôn, phương thức hàm ngôn, TGĐ.
Nguyễn Thiện Giáp với công trình “Dụng học Việt Ngữ” cũng có đề cập
đến với nghóa hiển ngôn, nghóa hàm ẩn, tiền đề, phép kéo theo, nguyên tắc
hợp tác và hàm ý trong hội thoại.
Ngoài ra còn nhiều tác giả nghiên cứu về HN như Cao Xuân Hạo,
Hoàng Tuệ, Nguyễn Đức Dân, Lê Bá Miên, Lê Xuân Mậu, Đào Thản,
Gillian Brown và George Yule…
Trên cơ sở kế thừa, vận dụng những tri thức lý thuyết đã có, chúng tôi
sẽ cố gắng tìm ra những phương thức tạo hàm ngôn phổ biến trong sáng tác
của Nguyễn Công Hoan.
2.2. Vấn đề hàm ngôn và các phương thức tạo hàm ngôn trong sáng tác
Nguyễn Công Hoan thì hầu như chưa có bài viết nào, chưa có công trình nào
đi sâu vào tìm hiểu và phân tích cụ thể.
Chúng tôi mới thấy có đề tài: “Vai trò của hư từ trong việc hình thành
hàm ý trong ngôn ngữ Nguyễn Công Hoan” (luận văn Thạc só của Nguyễn
5
Một số phương thức tạo hàm ngôn trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan
Văn Hương) có đề cập đến hàm ý trong ngôn ngữ Nguyễn Công Hoan qua
một mảng nhỏ (hư từ) và công trình “Thi pháp truyện ngắn trào phúng
Nguyễn Công Hoan” của Trần Đình Sử – Nguyễn Thanh Tú, có đề cập đến
lời văn trào phúng, nghệ thuật kể chuyện trào phúng của Nguyễn Công Hoan.
Nhưng nhìn chung những phát hiện những tìm tòi về các phương thức, các
nguyên tắc mà Nguyễn Công Hoan sử dụng cũng đều nhằm mục đích tìm ra
bản chất của tiếng cười, mà chưa đi sâu vào tìm hiểu ý nghóa hàm ngôn từ
những phương thức tạo HN.
Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét “Nhìn chung tiếng nói văn học của Nguyễn
Công Hoan là tiếng nói giản dò, trong sáng, linh hoạt, mới mẻ và rất đỗi Việt
Nam” [5, 173]. Theo Phan Cự Đệ thì từ cách ăn nói đầy ngụ ý của người Việt,
Nguyễn Công Hoan khuyên các nhà văn trẻ phải giữ gìn bản sắc dân tộc, “Cố
gắng dùng cho hết tiếng nói Việt Nam”, “Dùng cho đúng lối nói Việt Nam” [5,

Luận văn tìm hiểu thuật ngữ hàm ngôn và các thuật ngữ có liên quan
đến HN như: TGĐ, nghóa tường minh, hàm ý Thông qua những lý thuyết đã
có, chúng tôi đi vào tìm hiểu một số phương thức tạo hàm ngôn trong sáng tác
của Nguyễn Công Hoan (đặc biệt là mảng truyện ngắn trào phúng).
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp tiếp cận văn bản

- Phương pháp tổng hợp
6. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Về mặt lý luận, luận văn hệ thống lại những lý thuyết cơ bản về HN
giúp cho người đọc có cái nhìn khái quát về hàm ngôn.
7
Một số phương thức tạo hàm ngôn trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan
Việc tìm ra phương thức tạo hàm ngơn trong sáng tác Nguyễn Cơng Hoan
sẽ góp phần giảng dạy những tác phẩm của ơng trong nhà trường phổ thơng nói
riêng và những tác phẩm của các tác giả khác nói chung.
7. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu kết luận, luận văn gồm hai chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung
Chương 2: Một số phương thức tạo hàm ngôn trong sáng tác của Nguyễn Công
Hoan.
8
Một số phương thức tạo hàm ngôn trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. HÀM NGÔN VÀ CÁC THUẬT NGỮ CÓ LIÊN QUAN
Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về hàm ngôn, tuy còn
nhiều điểm chưa thống nhất nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng
nghóa HN là nghóa không hiện ngay ra trên bề mặt phátù ngôn. Đi tìm nghóa

bất tất phải bàn cãi, bất tất phải đặt lại thành vấn đề, đã được các nhân vật
giao tiếp mặc nhiên thừa nhận, dựa vào chúng mà người nói tạo nên ý nghóa
tường minh trong phát ngôn của mình [1,366].
Để minh hoạ, Đỗ Hữu Châu đưa ra ví dụ:
- Vũ hội làm chúng ta quên rằng bây giờ đã mười hai giờ đêm rồi.
Ý nghóa tường minh của phát ngôn này là: Vũ hội đã kéo dài đến mười
hai giờ đêm.
TGĐ (Presuppstion –ký hiệu pp’):
pp’1: Có một cuộc vũ hội
pp’2: Vũ hội được tổ chức vào ban đêm
pp’3: Vào ban đêm cần nhớ không nên thức quá khuya
pp’4: Đối với sinh hoạt thông thường của người Việt Nam, mười hai giờ
đêm là đã quá khuya rồi.
HN (implicitation –ký hiệu imp): Tuỳ theo hoàn cảnh giao tiếp và ý
đònh của người nói và tuỳ theo tư cách của người nói (Người tổ chức vũ hội
hay người dự) mà phát ngôn này có thể có các HN:
Imp1: Chúng ta cần phải giải tán thôi
10
Một số phương thức tạo hàm ngôn trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan
Imp2: Vũ hội thành công, chứng cớ là mọi người đã quên mệt mỏi vì giờ
giấc.
Theo tác giả thì HN và TGĐ có dấu hiệu phân biệt với nhau nhờ ngữ
cảnh: TGĐ nói chung ít lệ thuộc vào ngữ cảnh giao tiếp còn HN lệ thuộc sâu
sắc vào ngữ cảnh giao tiếp [1,362]. Ngoài ra, TGĐ phải có quan hệ với các
yếu tố ngôn ngữ cấu thành phát ngôn, phải có những dấu hiệu ngôn ngữ đánh
dấu nó. Còn HN không tất yếu phải được đánh dấu bởi các dấu hiệu ngôn
ngữ. Hầu như TGĐ có lượng tin thấp - không có hiệu quả thông tin. HN (và ý
nghóa tường minh) có tính năng động hội thoại cao hơn TGĐ. TGĐ có những
đặc điểm sau đây trong khi HN không có:
Tính chất kháng phủ đònh (HN thì không giữ nguyên khi phát ngôn

Hoàng Phê cho rằng trong sử dụng ngôn ngữ, lắm khi chúng ta nói một
điều này nhưng lại muốn người nghe hiểu từ đó hiểu ra một điều khác, hoặc
hiểu thêm một điều khác nữa. Điều nói gián tiếp đó gọi là HN, đối lập với hiển
ngôn là điều nói ra trực tiếp [15, 89]. HN thường phụ thuộc nhiều vào ngôn
cảnh và hiện tượng thuộc lời nói.
Trong hiển ngôn có sự đối lập giữa cái đã biết và cái mới. Sự đối lập
này cho phép vạch ra trong ngữ nghóa của lời sự đối lập khác, rộng hơn giữa
phần không có giá trò thông báo (gồm có TGĐ và cái đã biết trong hiển ngôn)
với phần có giá trò thông báo (gồm cái mới trong hiển ngôn và hàm ngôn)
[15, 95].
Tác giả đề cập đến mối quan hệ giữa HN và TGĐ: Đó là mối quan hệ
chặt chẽ và tác động lẫn nhau, cùng với hiển ngôn TGĐ là cơ sở cho HN. Mối
quan hệ giữa TGĐ và HN làm xuất hiện trường hợp: Khi TGĐ bò triệt tiêu thì
12
Một số phương thức tạo hàm ngôn trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan
nội dung của nó không mất đi mà lại chuyển thành nội dung của HN và từ
không có giá trò thông báo đến có giá trò thông báo.
TGĐ là những điều mà phải coi như đã biết rồi, hoặc nếu chưa biết thì
cũng phải thừa nhận là đúng như vậy thì câu hoặc lời mới thật sự có ý nghóa
[15, 94].
HN là những gì người nghe tự mình suy ra từ hiển ngôn (và TGĐ), để
hiểu được đúng và đầy đủ ý nghóa của lời trong một phát ngôn nhất đònh [15,
107].
Trong HN có hàm ý và ngụ ý.
Cấu trúc ngữ nghóa của lời có thể là một cấu trúc nhiều tầng, gồm:
TGĐ, hiển ngôn, HN.
Theo Hồ Lê, trong phát ngôn có ý nghóa hiển hiện và ý nghóa hàm ẩn, ý
nghóa hiển hiện là loại ý nghóa mà các phương tiện để thể hiện nó hiện rõ trên
bề mặt hình thức phát ngôn. Trái lại, ý nghóa hàm ẩn là loại ý nghóa mà các
phương tiện để thể hiện nó đều không hiện rõ trên bề mặt hình thức phát ngôn.

chung có cơ sở hợp lí để có thể hiểu được, để cho trong lónh vực bộ máy ngôn
ngữ, thì các đơn vò từ vựng có thể được đònh nghóa rõ ràng [11, 349]. Hoặc
TGĐ là cái phần nội dung trong phát ngôn có tác dụng làm cơ sở cho sự hiểu
và sự đánh giá tính hợp lý hay không hợp lý của ý nghóa phát ngôn [11, 362].
Trên cơ sở đó, tác giả đi vào phân tích hiển ngôn và phân tích HN.
Phương thức hiển ngôn là đơn vò ngôn giao chỉ mang ý nghóa hiển hiện
mà không mang ý nghóa hàm ẩn. Hàm ngôn là đơn vò ngôn giao mang ý nghóa
hàm ẩn nhưng đồng thời cũng mang cả ý nghóa hiển hiện [11, 345].
14
Một số phương thức tạo hàm ngôn trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan
Phương thức HN phải bao gồm trong nó việc đưa câu vào ngữ huống, việc sử
dụng sử dụng những kết cấu ngôn từ bất bình thường và sử dụng những quan
hệ phi cấu trúc câu mà có khả năng biểu đạt một ý nghóa nào đó.
Theo Cao Xuân Hạo, “mỗi câu nói đều truyền đạt đến người nghe một
thông báo nhất đònh. Thông báo này thường gồm hai phần. Phần thứ nhất là
những gì người nghe có thể trực tiếp nhận ra nhờ nghóa nguyên văn (Gồm
nghóa đen và một số nghóa bóng quen thuộc) của những từ ngữ có mặt trong
câu và nhờ mối quan hệ cú pháp giữa các từ ngữ ấy: Đó là nghóa hiển ngôn
của câu nói. Phần thứ hai là những gì không có sẵn trong nghóa nguyên văn
của các từ ngữ và trong mối quan hệ cú pháp ấy, nhưng vẫn thấu đến người
nghe thông qua một sự suy diễn : Đó là nghóa hàm ẩn của câu nói” [6, 468].
Hay hiển ngôn là là nội dung mà trực tiếp nói rõ bằng từ ngữ của mỗi câu nói.
Còn hàm ẩn là những thông báo cho người nghe không thấy có trong nghóa
nguyên văn của từ ngữ. Nghóa hàm ẩn bao gồm TGĐ và hàm ý [6, 470].
TGĐ của một câu nói là một điều gì phải dược giả đònh là đã có từ
trước khi nói câu đó vì nếu không có điều này thì không thể nói câu đó dược.
Hàm ý của một câu nói là một điều gì mà khi nghe câu ấy, người nghe
phải rút ra như một hệ quả tất nhiên [6, 469].
Trong công trình nghiên cứu này Cao Xuân Hạo cũng lưu ý một số quy tắc:
“Nói cho có nội dung”, “Nói cho đúng sự thật”, “Nói vào đề”.

TGĐ và nghóa ẩn ý chung lại là nghóa HN [17, 932].
Gillian Brown –Georeg Yule dẫn quan điểm của Givón: TGĐ “Nó
được quy đònh trên cơ sở các giả đònh về những điều mà theo người nói thì
người nghe có thể chấp nhận không tranh cãi” [4, 54] và đònh nghóa của
Stalnaker: “TGĐ, là cái mà người nói xem là cơ sở chung của những người
cùng tham gia hội thoại”[4, 55]. Hai tác giả xem đó như là đặc điểm của TGĐ
16
Một số phương thức tạo hàm ngôn trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan
và lưu ý nguồn chỉ đònh của TGĐ là người nói chứ không phải là TGĐ của
câu hay mệnh đề.
“Hàm ý” được Grice dùng để giải thích điều người nói ngụ ý, đề nghò
hay muốn nói, khác với điều ta thực tế nói ra. Có những hàm ý quy ước, mà
theo Grice, “được quy đònh bởi quy ước từ”.
Hàm ý trong hội thoại xuất phát từ nguyên lý chung trong hội thoại và
một số châm ngôn (maxim) mà người nói thường tuân theo. Một số nguyên
tắc chung là nguyên tắc hợp tác. Những quy ước hội thoại, hay châm ngôn, hỗ
trợ cho nguyên lý trên gồm có: Lượng, chất, quan hệ, phương cách, lòch sự…
Trong bài “Hàm ngôn và dạy hàm ngôn”, Lê Xuân Mậu bàn về vấn
đề nhận diện HN và dạy HN. Tác giả nêu ra những điều chưa thống nhất của
các nhà ngôn ngữ học và đề nghò nên có sự thống nhất về nội dung HN, về
cách nhận biết và phân tích các HN thông thường để làm cơ sở cho việc giảng
dạy HN ở trường phổ thông.
Như vậy, hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng nghóa HN là nghóa
không hiện ngay trên bề mặt của phát ngôn, đối lập với hiển ngôn là nghóa
hiện rõ từ hình thức bề mặt của phát ngôn. Dù cách dùng tên thuật ngữ chưa
thống nhất (Tiền ước, TGĐ, hàm ẩn, hàm ý, HN… tuỳ từng tác giả) nhưng về
bản chất thì chúng giống nhau. Theo cách hiểu phổ biến nhất chúng tôi đồng
tình với quan điểm cho rằng trong phát ngôn có các tầng nghóa là hiển ngôn
và hàm ẩn. Trong đó hàm ẩn gồm TGĐ và HN. Chúng tôi cũng xin chốt lại
đònh nghóa về các thuật ngữ đó như sau:

18
Một số phương thức tạo hàm ngôn trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan
Ý nghóa KTN
Được nói ra Hàm ẩn
(Tường minh)
Quy ước Không quy ước
Không hội thoại Hội thoại
Khái quát Đặc thù
Theo Đỗ Hữu Châu, cách phân biệt các hàm ẩn là TGĐ với các hàm ẩn là
HN của Grice không theo cách hiểu của chúng ta và giữa hàm ẩn quy ước với
hàm ẩn hội thoại, giữa hàm ẩn khái quát với hàm ẩn đặc thù có nhiều trường
hợp khó phân biệt. Do vậy, tác giả đồng ý TGĐ và HN thuộc phạm trù ý
nghóa hàm ẩn. Hàm ngôn được phân thành hàm ngôn ngữ nghóa và hàm ngôn
ngữ dụng. Trong đó lónh vực ngữ nghóa gồm tất cả những yếu tố có quan hệ
với nội dung miêu tả (xác tín) được biểu thò bởi các tín hiệu ngôn ngữ một
cách tường minh, nội dung miêu tả này làm thành cái lõi mệnh đề cho phát
ngôn. Các nội dung khác có liên quan tới lónh vực ngữ dụng như chỉ xuất, lập
luận, hội thoại… [1,393].
Hàm ngôn ngữ nghóa là HN được suy ra từ nội dung tường minh của phát
ngôn, là các luận cứ hay kết luận không được nói ra một cách tường minh mà để cho
người nghe dựa vào quan hệ lập luận mà rút ra [1 ,393]. Ví dụ:
- Ừ thì lấy! Con lớn thuốc, con bé thuốc… thuốc lắm rồi sau cũng có
bận đi ăn mày (Nam Cao).
HN ngữ nghóa là: “Hết cả tiền”. Có thể dựng lại quan hệ lập luận như
sau:
19
Một số phương thức tạo hàm ngôn trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan
“Thuốc lắm thì hết cả tiền, hết cả tiền mà không có việc thì phải đi ăn mày
mới sống được”. Tác giả bỏ đi luận cứ trung gian, luận cứ này trở thành một
HN. Bằng phát ngôn này nhân vật Điền muốn trách vợ về việc chỉ lo thuốc

phần này phụ thuộc vào ngôn cảnh và chỉ có ngụ ý (Đối lập tương đối vì ranh
giới giữa hàm ý và ngụ ý chỉ là tương đối).
Hồ Lê phân ý nghóa hàm ẩn thành ý nghóa hàm ẩn ngữ huống và ý nghóa
hàm ẩn ngôn từ.
Ý nghóa hàm ẩn ngữ huống gồm những phát ngôn đơn giản, dễ hiểu,
gồm có hai tiểu loại: Ý nghóa hàm ẩn văn chu và ý nghóa hàm ẩn hoàn cảnh
[11, 327]. Ý nghóa hàm ẩn văn chu là ý nghóa hàm ẩn được tạo ra do sự tương
tác giữa phát ngôn với văn chu.Ý nghóa hàm ẩn hoàn cảnh là ý nghóa được tạo
ra do sự tương tác giữa phát ngôn với hoàn cảnh nói năng /viết lách.
Ý nghóa hàm ẩn ngôn từ là những phát ngôn có sự lắt léo về ngôn từ,
làm cho bản thân sự liên kết ngôn từ trong phát ngôn đã chứa đủ hai tầng ý
nghóa hiển hiện và ý nghóa hàm ẩn mà chưa cần tính đến sự tác động của ngữ
huống. Ý nghóa hàm ẩn ngôn từ cũng có hai tiểu loại: Ý nghóa hàm ẩn ngôn từ
phi cấu trúc và ý nghóa hàm ẩn ngôn từ bất bình thường.
Ý nghóa hàm ẩn ngôn từ phi cấu trúc câu được tạo ra bằng cách liên hệ
những từ ngữ hoặc những bộ phận nhất đònh của từ ngữ trong câu theo những
quan hệ phi cú pháp. Ý nghóa hàm ẩn ngôn từ có tính hạn chế (Dù ngữ huống
có thay đổi, ý nghóa hàm ẩn ngôn từ nếu được thể hiện ra vẫn không có gì
thay đổi), nên thường được gọi là ý nghóa hàm ẩn hạn chế [11, 330]. Ý nghóa
hàm ẩn ngữ huống có tính tự do (chỉ cần thay đổi ngữ huống thì ý nghóa hàm
ẩn ngữ huống vốn có sẽ thay đổi thành một ý nghóa hàm ẩn ngữ huống khác)
nên nó được xem là ý nghóa hàm ẩn tự do [11, 331].
21
Một số phương thức tạo hàm ngôn trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan
Riêng ý nghóa hàm ẩn ngôn từ phi cấu trúc câu nếu tách rời ngữ huống
thì chỉ còn là ý nghóa hàm ẩn dự cảm.
Theo Cao Xuân Hạo, ở trong câu, các từ ngữ đều có thể có những hàm ý
tuỳ theo ngữ cảnh và tình huống nói năng. Tuy nhiên cũng có những từ mang
sẵn một hàm ý thường xuyên không lệ thuộc vào văn cảnh và tình huống
(Như: những từ tình thái đặt trước vò từ trung tâm: bèn, đònh, toan, muốn…).

đầy đủ và chính xác được. HN có tác dụng quan trọng trong phát ngôn, nó có
thể chuyển tải nhiều hơn ý nghóa của phát ngôn, để tăng tính hấp dẫn và tính
thuyết phục cho lời nói. Do vậy, nó được tích cực sử dụng và người nói thường
dùng HN với nhiều mục đích khác nhau.
1.3.1. NGƯỜI NÓI KHÔNG MUỐN NHẬN TRÁCH NHIỆM VỀ LỜI NÓI CỦA MÌNH
Theo Hoàng Phê thì muốn“nói một cái gì đó mà không vì thế nhận
trách nhiệm là đã có nói, nghóa là vừa có được hiệu lực của nói năng, vừa có
được sự vô can của im lặng” [15, 95].
Khi dùng HN, người nói có thể nói bóng gió xa xôi, nói mát, nói
ngược… để người nghe tự suy nghó và rút ra nội dung thông tin chính mà
người nói muốn nói nhưng không có dấu hiệu nào để bắt bẻ và gán ghép ý đó
cho người nói. Theo Cao Xuân Hạo thì việc sử dụng HN còn do một nhân tố
tâm lý: Người ta không bao giờ muốn mang tiếng là nói xấu, dèm pha hay vu
khống người khác. Sử dụng HN, dù là một cách có thiện ý hay ác ý thì người
nói có thể phủ nhận cái ẩn ý chứa trong câu nói ra, khi có ai trách cứ [4, 518].
Ví dụ:
Viên phó thuyền trưởng của một chiếc tàu viễn dương nọ có thói nát
rượu. Một hôm thuyền trưởng phải ghi vào nhật kí của tàu: Hôm nay phó
thuyền trưởng lại say rượu. Hôm sau, đến phiên trực của mình, viên phó
thuyền trưởng đọc thấy mấy câu này trong nhật kí của tàu, giận lắm, liền viết
23
Một số phương thức tạo hàm ngôn trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan
vào trang kế theo: Hôm nay thuyền trưởng không say rượu (Dẫn theo Cao
Xuân Hạo).
Đọc câu viết của phó thuyền trưởng thì ai cũng nghó thuyền trưởng say
rượu vào những hôm khác trong khi thuyền trưởng không hề uống rượu bao giờ.
Mặc dù ta biết đó là một lời vu khống nhưng trên nội dung nguyên văn thì hoàn
toàn đúng sự thật. Vậy nên nếu có ai trách cứ thì phó thuyền trưởng hoàn toàn
không chòu trách nhiệm và cho rằng mình viết đúng sự thật vì “hôm ấy thuyền
trưởng không say rượu. Tôi không hề viết là những hôm khác thuyền trưởng say

họ như sau: Đàn ông thật đễ tìm nhưng khó giữ, hãy giữ họ bằng nước hoa
Magique
(Dẫn theo Đỗ Thò Kim Liên).
Lời quảng cáo này chứa đựng nhiều lớp ý nghóa: Khuyên người phụ nữ
hãy dùng nước hoa để giữ người đàn ông của họ, quan trọng nhất là hãy mua
nước hoa Magique.
Hoặc trong phát ngôn: Bẩm quan, quan nên biết thương người.
(Bước đường cùng- Nguyễn Công Hoan).
Với câu nói ngắn gọn này, anh Pha có hàm ý nhắc nhở khéo Nghò lại,
vừa nhắc đến tình người cho nghò Lại thức tỉnh vừa cảnh báo hậu quả của
việc “không biết thương người” của ông ta.
1.3.4. NGƯỜI NÓI MUỐN GIỮ THỂ DIỆN CHO NGƯỜI NGHE
Người nói không muốn nói trắng ra mà nói tránh đi để người nghe
không cảm thấy bối rối, mất thể diện. Để nâng cao hiệu quả giao tiếp, người
nói phải chú ý tăng cường đề cao người khác và tránh hoặc giảm những hành
vi phương hại đến thể diện đó. Ví dụ:
Một ông quan không râu ăn cơm cùng một ông quan râu rậm, ông râu
rậm để cơm dính vào râu nhưng được tên lính hầu khéo léo bẩm: “Bẩm quan
lớn trong chòm râu của quan lớn có hạt ngọc minh châu ạ”; Thấy người đầy tớ
25

Trích đoạn Phương thức tạo độ hẫng Phương thức tạo câu mơ hồ Phương thức đánh tráo khái niệm Phương thức lập luận
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status