ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRẦN THỊ THU HIỀN HÌNH ẢNH NAM NHI TRONG SÁNG TÁC CỦA
NGUYỄN CÔNG TRỨ NHÌN TỪ QUAN ĐIỂM GIỚI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam Hà Nội- 2013
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRẦN THỊ THU HIỀN HÌNH ẢNH NAM NHI TRONG SÁNG TÁC CỦA
NGUYỄN CÔNG TRỨ NHÌN TỪ QUAN ĐIỂM GIỚI LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH : Văn học Việt Nam
CHƢƠNG 3: SO SÁNH HÌNH ẢNH NAM NHI TRONG SÁNG TÁC CỦA
NGUYỄN CÔNG TRỨ VỚI SÁNG TÁC CỦA NHÀ NHO CHÍNH THỐNG
71
3.1 Điểm giống nhau trong cách nhìn nhận người nam giới của Nguyễn
Công Trứ so với các nhà nho chính thống. 71
3.2 Sự khác biệt trong cách nhìn nhận người nam giới của Nguyễn Công
Trứ so với các nhà nho chính thống. 96
3.3 Tiểu kết chương 3 109
KẾT LUẬN 110
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112 3
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Người nam nhi có một vai trò hết sức quan trọng trong xã hội nói
chung và trong văn học nói riêng. Chính vì thế mà nghiên cứu về nam giới trở
thành một đề tài khá phổ biến trong nghiên cứu văn học thời gian gần đây.
Tuy rằng, xét về mặt số lượng thì hai giới đều chiếm một nửa dân số của toàn
nhân loại, nhưng về mặt vị thế xã hội thì tương quan giữa người phụ nữ với
người đàn ông trong lịch sử văn hóa và văn học lại không phải khi nào cũng bình
đẳng với nhau.
Như chúng ta đã biết trong suốt một thời gian dài của xã hội nam quyền
phương Đông nói chung và xã hội nam quyền Việt Nam nói riêng, người đàn
ông luôn giữ vai trò thống trị xã hội và có cách nhìn khắc kỉ với đức hạnh của
trình nghiên cứu về sáng tác của Nguyễn Công Trứ nhưng hầu hết chỉ khám
phá về mặt tư tưởng, phong cách nghệ thuật chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu
hình tượng nam nhi trong thơ ông trên cơ sở quan điểm về giới. Đề tài luận
văn: “Hình ảnh nam nhi trong sáng tác của Nguyễn Công Trứ nhìn từ
quan điểm giới” sẽ góp thêm một phần công sức nhỏ bé trong nghiên cứu
“giới tính thứ nhất” của xã hội nam quyền.
2. Mục đích nghiên cứu.
Như chúng tôi đã khẳng định rõ lí do chọn đề tài ở mục trên, luận văn
nghiên cứu hình ảnh nam nhi trong sáng tác Nguyễn Công Trứ từ góc độ xem
xét quan điểm của ông về trách nhiệm của người nam nhi, cách nhìn nhận
người phụ nữ và lí giải dưới góc độ giới của họ. Qua đó chúng tôi mong muốn
5
sẽ làm nổi bật lên sự chi phối của quan điểm giới trong nghiên cứu hình ảnh
nam nhi nói chung của văn học trung đại.
Luận văn cũng làm sáng tỏ những hạn chế trong cách nhìn nhận về
trinh tiết, phẩm hạnh của người phụ nữ theo quan điểm của xã hội nam quyền.
Nghiên cứu và tìm hiểu hình tượng người nam nhi trong sáng tác của
Nguyễn Công Trứ nhìn từ quan điểm giới trên cơ sở tiếp thu những ý kiến,
những công trình nghiên cứu, những phát hiện tương đối mới mẻ của các nhà
nghiên cứu trước đây, chúng tôi mong muốn đem đến một cái nhìn mới, cụ
thể và sâu sắc hơn về vấn đề này. Đồng thời, nghiên cứu này của chúng tôi
cũng góp phần hữu ích vào công việc phục vụ học tập, giảng dạy và nghiên
cứu sau này.
3. Lịch sử vấn đề nghiên cứu.
Nắm vững được lịch sử vấn đề đang nghiên cứu để tìm ra một hướng đi
mới cho riêng mình là một việc làm hết sức quan trọng và cần thiết khi thực
hiện đề tài luận văn: “Hình ảnh nam nhi trong sáng tác của Nguyễn Công
Trứ nhìn từ quan điểm giới”. Đặc biệt trong thời gian gần đây, nghiên cứu
thơ văn của Nguyễn Công Trứ qua các giai đoạn ngày càng có bước phát triển
tr.229 -230].
Vào những năm 60 của thế kỷ XX, có nhà nghiên cứu cũng đã để ý đến
ảnh hưởng của những anh hùng thời loạn đến tâm lí trượng phu của Nguyễn
Công Trứ: Tấm gương của Đặng Trần Thường, Võ Tánh, Lê Văn Duyệt,
Nguyễn Văn Thành đi theo Nguyễn Ánh mà phất cờ lập công cũng không thể
7
không tác động mạnh mẽ đến cá tính ưa hoạt động, thích công danh của
Nguyễn Công Trứ.
Năm 1978, Tác giả Nguyễn Lộc trong cuốn Văn học Việt Nam nửa cuối
thế kỉ XVII- nửa đầu thế kỉ XIX (tập 2) đã nhận định: Xét trong toàn bộ cuộc
đời và thơ văn Nguyễn Công Trứ, phải thấy quan niệm công danh của nhà thơ
trước hết có nghĩa là nhiệm vụ của người làm trai, là một món “nợ nần” phải
trả. Nguyễn Công Trứ không có quan niệm nào khác là con người sống trong
xã hội phải chiếm lấy một địa vị để trên cơ sở đó làm việc “trí quân, trạch
dân” [24, tr.498-499]. Nguyễn Lộc cũng khẳng định: Cái ưu điểm trong quan
niệm chí nam nhi của Nguyễn Công Trứ là nó khẳng định một cách dứt khoát
vai trò tích cực của con người trong xã hội…Nhưng mặt khác cũng cần vạch
ra rằng “chí nam nhi” của Nguyễn Công Trứ không có tí liên hệ nào với
quần chúng, nó coi thường quần chúng, thậm chí còn đi ngược lại với quyền
lợi của quần chúng. [24, tr.504]. Và một chân lí nữa được nhà nghiên cứu
khẳng định: Nguyễn Công Trứ làm việc tận tuỵ suốt đời. Trước đây nhiều lúc
người ta thiên lệch khi nói đến nhân cách của Nguyễn Công Trứ. Họ chỉ thấy
ở ông một con người phóng túng, ngông nghênh, về già còn lấy vợ trẻ mười
tám, đôi mươi mà quên mất Nguyễn Công Trứ là một ông quan rất thanh
liêm, chính trực.[24, tr.501]. Ông tán dương những bài thơ viết về chí nam nhi
và nhận xét khá tinh tế rằng trong quan niệm về “chí nam nhi” của Nguyễn
Công Trứ không chỉ có ý thức về bổn phận đối với “quân, thân” mà còn ý
thức về vai trò giá trị của con người cá nhân. Tuy nhiên, khi chuyển sang
phần thơ văn hành lạc thì Nguyễn Lộc lại có một cái nhìn thiên lệch và đánh
9
Nguyễn Khắc Hoạch với bài viết Lý tưởng kẻ sĩ trong thi văn và ngoài
cuộc đời Nguyễn Công Trứ. Bài viết không đi sâu vào nghiên cứu tư tưởng
của tác giả mà tìm hiểu quá trình trưởng thành cho đến cuối cuộc đời của nhà
thơ. Mỗi giai đoạn như vậy có một lý tưởng, một cách sống riêng. Thời xuất
chính ông tích cực hành đạo, thời ẩn dật ông lui vào hậu trường hưởng cuộc
đời nhàn lạc của người đã làm tròn nhiệm vụ. Quan trọng hơn là tác giả Phạm
Thế Ngũ nhìn từ khuynh hướng thời đại đi đến quan niệm sống của tác giả đã
có cái nhìn tương đối toàn diện và sâu sắc, trong bài viết Sáng tác của Nguyễn
Công Trứ cũng đề cập đến phương diện biểu hiện của con người như: chí nam
nhi, quan niệm công danh, quan niệm hưởng lạc, triết lý nhân sinh. Đặc biệt
tác giả còn thấy được điểm tương đồng và khác biệt giữa Nguyễn Công Trứ
và một số nhà nho khác như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn
Hàng…Phạm Vĩnh Cư khi bàn về Thơ hành lạc của Nguyễn Công Trứ với
dòng thơ an lạc, xem đó là mảng sáng tác rất đặc sắc lâu nay vẫn được coi là
thơ văn cầu nhàn hưởng lạc hay là thơ văn hành lạc chiếm một vị trí đáng kể.
Tác giả khẳng định: Nhu cầu hưởng thụ của con người, nâng nó lên thành
một triết lý có sức thu phục nhân tâm thì không mấy ai làm được như Nguyễn
Công Trứ. Ở Nguyễn Công Trứ hành lạc lẫn hành đạo, cả sự hưởng thú vui
lẫn việc thực hiện sứ mệnh của người anh hùng trên đời đều khát khao sự
chơi, cuộc chơi. Tác giả cũng khẳng định rằng: Bậc trượng phu ấy vì vậy vừa
khao khát công danh, vừa vô cầu yên sở ngộ, vừa hăng say nhập cuộc, vừa
biết thanh thản xuất thế, vừa biết hành vừa biết tàng, coi hành tàng thực chất
không khác gì nhau (“hành tàng bất nhị kì quan”) [5, tr.443]. Nguyễn Công
Trứ luôn thể hiện cái khí phách cứng cỏi, bản lĩnh cao cường của mình trong
thơ. Thơ ông vừa diễu cợt người đời, vừa diễu cợt bản thân mình.
Trương Tửu cũng giải thích nguyên nhân của hoạt động xã hội của
Nguyễn Công Trứ bằng tinh thần chống bọn “phú hộ” này. Hành lạc chỉ là
Nho Thìn đã đề cập tới yếu tố hành lạc, triết lý cầu nhàn hưởng lạc biểu hiện
rất rõ trong thơ Nguyễn Công Trứ và khẳng định chí nam nhi của Nguyễn
Công Trứ là sản phẩm của xã hội nam quyền.
Trần Ngọc Vương cắt nghĩa chí nam nhi của Nguyễn Công Trứ như là
tia hồi quang - sự tiếp biến - của “người anh hùng thời loạn” trong hoàn cảnh
chế độ chuyên chế nhà Nguyễn.
Năm 2007, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na cho rằng: Tiếng nói chí
nam nhi là chủ đề lớn nhất tập trung xuất hiện trong sáng tác của Nguyễn
Công Trứ thuở hàn vi và thời làm quan đắc chí. [28, tr.236]. Đồng thời, các
tác giả cũng khẳng định công lao to lớn của ông: Nguyễn Công Trứ đã mang
vào khái niệm chí nam nhi của Nho gia cái ý thức cá nhân về sự tự do phóng
túng trong lối sống tạo nên nét riêng độc đáo và mang đến một màu sắc mới
cho thời đại. Nguyễn Công Trứ nhất quán giữa con người trong mối quan hệ
với cộng đồng và con người trong mối quan hệ với bản thân; giữa ý thức về
trách nhiệm và ý thức về quyền lợi, giữa hành động và hưởng thụ. [28,
tr.239].
Có thể khẳng định: các công trình và bài viết của các nhà nghiên cứu
phê bình đã đem lại một giá trị to lớn khi đánh giá, nhận xét thơ văn về chí
nam nhi của Nguyễn Công Trứ. Tuy mỗi người có một cách nhìn nhận, đánh
giá khác nhau nhưng tựu chung đều thấy được vẻ đẹp trong con người cũng
như giá trị tư tưởng trong thơ văn của ông. Ngoài ra còn có nhiều bài viết,
nhiều công trình nghiên cứu khác như của: Chương Thâu, Vũ Ngọc Khánh,
Kiêm Đạt, Nguyễn Minh, Nguyễn Tài Thư, Trần Mạnh Hảo, Trần Thị Băng
Thanh
12
Cho đến nay, công việc nghiên cứu về tác giả và tác phẩm Nguyễn
Công Trứ vẫn tiếp tục phát triển nhưng còn nhiều khoảng trống. Chúng tôi
nhận thấy rằng các công trình nghiên cứu đã có về sáng tác của Nguyễn Công
Trứ chưa đặt vấn đề nghiên cứu hình ảnh nam nhi từ góc nhìn giới tính của
- Phương pháp so sánh - đối chiếu.
5.1 Phương pháp khảo sát – thống kê.
Mục tiêu của phương pháp này là chúng tôi khảo sát lại toàn bộ thông
tin về hình ảnh nam nhi được Nguyễn Công Trứ nhắc đến trong các sáng tác
của ông, tìm hiểu sâu sắc hơn trách nhiệm của một nam tử hán trong xã hội
nam quyền và từ đó có cơ sở để so sánh với các sáng tác của nhà nho chính
thống viết về người nam nhi. Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp
khảo sát, thống kê để xử lí thông tin các tư liệu văn học tìm được trong quá
trình nghiên cứu, phục vụ cho công tác nghiên cứu luận văn.
5.2 Phương pháp tiếp cận văn hóa học.
Xã hội thời trung đại Việt Nam chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo,
xét trên quan điểm giới là xã hội nam quyền; một kiểu xã hội trong đó trách
nhiệm của nam nhi là phải gánh vác giang sơn, tu dưỡng đạo đức để trở thành
những bậc thánh nhân, quân tử; các chuẩn mực đạo đức của người phụ nữ do
người đàn ông áp đặt, người nam giới có quyền chủ động hơn người phụ nữ
trong cuộc sống. Quan điểm nam quyền đã ăn sâu vào trong tư tưởng của các
nhà Nho và chi phối đến cách xây dựng hình ảnh nam nhi của Nguyễn Công
Trứ. Chính vì vậy, chúng tôi sử dụng phương pháp văn hóa học, đặc biệt là
14
dựa trên quan điểm giới nhằm mục đích giải mã hình tượng nam nhi, tìm ra
nền tảng văn hóa của hình tượng này trong nền văn hóa phương Đông.
5.3 Phương pháp phân tích tổng hợp.
Chúng tôi nghiên cứu các quan điểm có giá trị về hình ảnh nam nhi của
nhà Nho nói chung và của Nguyễn Công Trứ nói riêng dưới góc độ nghiên
cứu giới để từ đó rút ra các luận điểm, luận cứ có giá trị phục vụ tốt cho công
tác nghiên cứu. Đồng thời từ những luận điểm, luận cứ đã rút ra đó, chúng tôi
tổng hợp lại để so sánh, lí giải vấn đề đang nghiên cứu.
5.4 Phương pháp so sánh - đối chiếu.
Để thấy được những nét chung và nét riêng trong cách xây dựng hình
Nội dung chủ yếu của chương 3 là so sánh và đối chiếu sáng tác của
Nguyễn Công Trứ viết về chí nam nhi với các sáng tác của nhà nho chính
thống để thấy được những nét chung và những nét độc đáo riêng của Nguyễn
Công Trứ. Từ đó, chúng tôi từng bước lí giải sự độc đáo, táo bạo ấy. 16
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU HÌNH
ẢNH NAM NHI TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN CÔNG TRỨ.
Để nghiên cứu hình ảnh nam nhi trong các sáng tác của Nguyễn Công
Trứ dưới sự ảnh hưởng của xã hội nam quyền, luận văn triển khai tìm hiểu
một số vấn đề lí luận và thực tiễn về giới để tái hiện phần nào quan điểm văn
hóa về người nam nhi trong xã hội nam quyền Việt Nam, đồng thời phác thảo
qua nền văn học trung đại Việt Nam khi viết về người nam nhi theo quan
điểm giới. Đây chính là cơ sở lí luận và thực tiễn để chúng tôi hoàn thành
luận văn này.
1.1 Khái niệm về giới ( Gender).
Giới là một khái niệm mới xuất hiện ở các nước nói tiếng Anh vào cuối
những năm 60 và xuất hiện ở nước ta vào những năm 80 của thế kỷ XX. Cho
đến nay thuật ngữ giới được hiểu chưa có sự thống nhất trong giới nghiên cứu
và nhiều bằng chứng cho thấy còn không ít mơ hồ và sự nhầm lẫn trong cách
hiểu về giới khi triển khai thực tế cũng như trong cuộc sống thường ngày.
Giới không mang ý nghĩa là giới tính, cũng không mang ý nghĩa là phụ nữ.
nam giới và phụ nữ, liên quan tới hàng loạt vấn đề thuộc về thể chế và
18
xã hội chứ không phải là mối quan hệ cá biệt giữa một nam giới hay
một phụ nữ nào” [10; tr.28].
Một số định nghĩa trên đây về giới cho phép ta hình dung cách tiếp cận
đa dạng về thuật ngữ này. Tuy nhiên, chúng tôi nhất trí với quan điểm cho
rằng: “Giới có thể dùng để chỉ vị thế xã hội của nam và nữ trong thực tế
(tương quan về vị trí, vai trò xã hội của cả nam và nữ); có thể dùng để chỉ
hành vi ứng xử xã hội của nam và nữ; cũng có thể dùng để chỉ các quan niệm,
các kỳ vọng liên quan đến nam và nữ…Nói đến giới là nói đến vai trò, trách
nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho người nam và người nữ. Bao gồm
việc phân chia lao động, các kiểu phân chia nguồn lợi và tương quan về địa vị
xã hội của nam giới và nữ giới trong một bối cảnh văn hóa xã hội cụ thể.
Thuật ngữ giới đề cập đến những đặc tính và cơ hội về mặt kinh tế, xã hội,
văn hóa và tâm lí gắn với việc là phụ nữ hay nam giới. Trong phần lớn các xã
hội, là một người đàn ông hay là một người phụ nữ không chỉ có các đặc điểm
sinh học khác nhau mà còn phải đối diện với những mong đợi khác nhau của
xã hội về mặt ngoại hình, cách cư xử, tính cách và những công việc được cho
là thích hợp đối với giới tính của người đó”. [10; tr.28].
Như vậy, giới là một thuật ngữ được dùng để chỉ vai trò xã hội, hành vi
ứng xử xã hội và những đòi hỏi, yêu cầu đối với nam và nữ. Nó là sản phẩm
của xã hội – văn hóa.
Trong cuộc sống hằng ngày, khái niệm giới (gender) thường bị dùng lẫn
lộn với giới tính (sex). Thực chất đây là hai phạm trù tương hỗ nhưng không
đồng nhất. Giới tính là sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt sinh học, bao gồm
sự khác nhau về giải phẫu ( kích thước, hình dạng cơ thể…), đặc điểm sinh lí
( hoạt động hormone, chức năng của các bộ phận). Giới tính có những đặc
trưng cơ bản là bẩm sinh, đồng nhất, không biến đổi và không thể thay đổi.
Theo nghiên cứu của nhiều học giả về giới trong nhiều lĩnh vực khoa
học xã hội, giới tính nữ (nữ tính) thường được gắn với sự tái sản sinh ra sự
sống (sinh nở) và những phẩm chất thuộc về sự chăm sóc, nuôi dưỡng như
thiên chức làm mẹ, sinh đẻ, sự nhã nhặn, dịu dàng, trực giác nhạy bén, tính
sáng tạo, chu kỳ sinh học của cuộc sống… Cổ mẫu của người phụ nữ trong
thần thoại và thế giới tâm linh thường được gắn liền với một lực lượng sáng
tạo tự nhiên (đất mẹ Gaia, bà Eve, …)
Trong triết học Trung Quốc, khái niệm về âm biểu thị cho nửa thuộc
giống cái trong cặp nhị phân âm/dương. Trong truyền thống văn hóa Hinđu,
Shakti là năng lượng sáng tạo thần thánh mang tính nữ, là năng lượng thiêng
vận động trong toàn bộ vũ trụ; đó là đối tác giống cái mà nếu thiếu thì giống
đực còn lại, biểu thị cho ý thức và khả năng suy xét, sẽ bất lực và vô giá trị.
Theo đạo Hinđu, lực lượng sáng tạo trong vũ trụ Yoni là giống cái với năng
lực sáng tạo ra sự sống.
Trong tâm lý học phương Tây, những cổ mẫu chính được giới thiệu lần
đầu tiên bởi Carl Jung và thường được vận dụng trong văn chương là những
mô hình hành vi tuân theo chu kỳ sinh học của sự sống ở người phụ nữ và rơi
vào một trong các vai trò sau: Con gái: đồng nghĩa với trinh nữ; Mẹ: gắn với
vai trò tái sản xuất sự sống (sinh nở) và nuôi dưỡng con cái - một chức năng
xã hội, văn hóa và tôn giáo; Mụ già: là người có vẻ cau có, gắt gỏng, độc ác,
hoặc nham hiểm, thường có phép thuật có thể hoặc giúp đỡ hoặc cản trở; bà ta
bị gạt ra ngoài lề xã hội vì đã rút khỏi chu trình sinh sản; sự gần kề với cái
chết đặt bà ta vào mối liên hệ với trí tuệ huyền bí; Nữ hoàng: chia làm hai
kiểu mẫu. Nữ hoàng trị vì: là một vị vua đàn bà tự mình cai trị đất nước;
21
hoàng hậu: là vợ của một ông vua trị vì, được chia sẻ tước hiệu nhưng không
được chia sẻ quyền lực.
Như vậy, cả giới tính nam (nam tính) và giới tính nữ (nữ tính) đều là
những tập hợp các biểu hiện đặc trưng về giới (của nam giới hay phụ nữ)
cạnh sinh lý mà còn quan tâm đến cả phương diện văn hóa – xã hội của họ
như trong mối quan hệ gia đình, quan hệ nam nữ.
1.2 Quan niệm nam giới trong văn học nhà nho.
Trong xã hội phương Đông trung đại, một điều được mặc nhiên thừa
nhận và liên tục củng cố cả bằng luật pháp lẫn phong tục, văn hoá và văn
chương là địa vị đứng trên của người đàn ông so với người phụ nữ. Quan
niệm về nam giới và nữ giới trong văn học trung đại trước hết chịu sự chi
phối của hệ thống quan niệm triết học dựa trên nguyên lý âm – dương trong
Kinh Dịch. Ban đầu âm và dương vốn chỉ có nghĩa là bóng tối và ánh sáng,
nhưng về sau chúng không có hàm nghĩa cố định nữa. Chúng được xem là
cách để miêu tả các mối quan hệ giữa vạn vật. Trong vũ trụ luận của Lão-
Trang, âm được đồng nhất với tự nhiên và đàn bà; các nguyên lý được đánh
giá cao hơn là dương, văn hóa và nam tính. Trái lại, trong Nho giáo chính
thống, âm và dương lại liên quan tới các mối quan hệ mang tính tôn ty của
con người và quan hệ quyền lực giữa những gì mang tính âm và tính dương
lại bị đảo ngược. Người vợ bị coi là thấp kém hơn người chồng, như là âm so
với dương. Ngay cả một bề tôi hoặc một ông quan nhà nho cũng được xem là
âm trong mối tương quan với tính dương của vua chúa, và điều đó vẫn đúng
ngay cả khi cả hai người trong mối quan hệ cặp đôi này đều là đàn ông. Âm và
dương thể hiện những mối quan hệ có tính tôn ti, phụ thuộc lẫn nhau không
23
nhất thiết là giữa đàn ông và đàn bà, mặc dù những gì thuộc dương thường có
đặc trưng là gắn với những nguyên lý của đàn ông và âm thì gắn với những
nguyên lý của phụ nữ. Như vậy, âm/dương là một quan niệm đã bị chính trị
hóa, đưa đến những vị trí khác nhau của chủ thể trong một nền văn hóa có
tính chính trị xác định sự tồn tại về mặt xã hội và thậm chí cả cảm nhận trong
tâm hồn của con người.
Văn học trung đại Việt Nam trước thế kỷ XVIII, tiếng nói át trội trên
thi đàn là tiếng nói của các anh hùng hào kiệt, các đấng trượng phu, các bậc
với quê hương: “Lo việc nước chính là phận sự của bọn chúng ta. Nhờ ai nhắn
nhủ điều đó với dân Nghệ An. Mãi mãi làm cho nước nhà được nhàn hạ”.
Sang thời Lê, Nho giáo giành được địa vị độc tôn, trở thành ý thức hệ
chính thống của dân tộc từ thời Lê Thánh Tông. Giới trí thức và cũng là bộ
phận tác giả văn học chủ chốt của thời kỳ này là nhà nho. Học thuyết Nho
giáo, với sự phân chia trật tự xã hội theo triết lý âm/dương, những lý tưởng
“tam cương”, “ngũ thường” áp đặt đối với nam giới và đạo “tam tòng”, “tứ
đức” ràng buộc người phụ nữ… khiến sự phân biệt giữa nam và nữ càng trở
nên triệt để. Nam tôn nữ ty, nam cao nữ thấp, nam ngoại nữ nội… là những
quy tắc mặc nhiên được thừa nhận và tuân thủ. Đàn ông là giới nắm đặc
quyền về mọi mặt chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa. Chỉ có đàn ông mới được
đi học và tham gia vào những kì thi chọn người ra làm quan. Vì thế, lực lượng
sáng tác tuyệt đại đa số vẫn là các nhà nho nam giới và mẫu hình con người lý
tưởng trong văn học thời kỳ này là bậc thánh nhân, người quân tử. Bậc quân