Trờng đại học quảng bình
Khoa KHOA HọC Xã HộI
Vấn đề nhân sinh trong sáNG
Vấn đề nhân sinh trong sáNGVấn đề nhân sinh trong sáNG
Vấn đề nhân sinh trong sáNG tác
tác tác
tác
của nguyễn khải sau 1975
của nguyễn khải sau 1975của nguyễn khải sau 1975
của nguyễn khải sau 1975 Khóa luận tốt nghiệp cao đẳng
Hoàng Thị Hà Thanh
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính tôi thực hiện dưới sự
hướng dẫn của Th.S Nguyễn Thị Quế Thanh – Giảng viên trường Đại học Quảng
Bình. Nội dung khóa luận có tham khảo và sử dụng tài liệu của các tác giả, tôi đã trích
đầy đủ trong phần tài liệu tham khảo. Các số liệu, kết quả trình bày trong khóa luận là
hoàn toàn trung thực. Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung khoa học của
công trình này.
Tác giả khóa luận Hoàng Thị Hà Thanh
CHƯƠNG I: NGUYỄN KHẢI VÀ SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI VĂN HỌC 7
1.1 Cuộc đời và sự nghiệp 7
1.2 Bối cảnh chung và những đổi mới của nền văn học sau 1975 14
1.3 Sự chuyển biến trong các sáng tác Nguyễn Khải từ sau 1975 26
CHƯƠNG II: VẤN ĐỀ NHÂN SINH TRONG QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ
CON NGƯỜI 29
2.1 Cuộc sống của những phồn tạp 29
2.1.1 Sự phồn tạp trong mối quan hệ với xã hội 29
2.1.2 Sự phồn tạp trong mối quan hệ với gia đình 37
2.2 Con người với nghị lực kiên cường 46
2.2.1 Tìm kiếm mối quan hệ giữa cái tôi và chúng ta 46
2.2.2 Niềm tin và niềm khát khao tự hoàn thiện mình 49
CHƯƠNG III: VẤN ĐỀ NHÂN SINH NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN 58
NGHỆ THUẬT 58
3.1 Giọng điệu trần thuật 58
3.1.1 Giọng điệu xót xa, cảm thông chia sẻ 59
3.1.2 Giọng triết lí, tranh luận 61
3.1.3 Giọng trần thuật phân thân đa ngã 64
3.2 Ngôn ngữ 68
3.2.1 Ngôn từ giàu chất trí tuệ, sinh động 68
3.2.2 Ngôn ngữ thông tục 70
3.3 Ngôi kể 72
3.3.1 Kể ở ngôi thứ nhất 72
3.3.2 Kể ở ngôi thứ ba 73
C. PHẦN KẾT LUẬN 76
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
1
Khải là một trong những tác giả có tác phẩm được đưa vào giảng dạy nhiều trong nhà
trường phổ thông (như Ra đảo, Mùa lạc). Các tác phẩm được chọn giảng đều tiêu biểu
2 cho phong cách sáng tác của nhà văn, thể hiện rõ nét những chiêm nghiệm, trăn trở suy
tư về con người, về cuộc đời… Việc nghiên cứu Nguyễn Khải hy vọng sẽ góp thêm
một tiếng nói giúp ích cho việc dạy và học tác phẩm của ông ở trong nhà trường.
2. Lịch sử vấn đề
Nguyễn Khải là một tác giả nổi tiếng của Văn học Việt Nam hiện đại. Với số
lượng tác phẩm cũng như chất lượng trong sáng tạo nghệ thuật của mình, ông đã được
giới nghiên cứu phê bình đánh giá là một cây bút thông minh, sắc sảo trong khám phá
và nắm bắt hiện thực. Sự mẫn cảm với những gì đang diễn ra hằng ngày, với những
vấn đề hôm nay đã khiến những trang viết sắc sảo, đầy chất “văn xuôi” của Nguyễn
Khải không chỉ thu hút bao thế hệ độc giả mà còn gợi không ít hứng thú tranh luận, trở
thành nơi “giao tiếp đối thoại” với đông đảo bạn đọc. Những tác phẩm của ông sau khi
ra đời thường gây sự chú ý cho công chúng tiếp nhận và tạo ra được nhiều cuộc trao
đổi, tranh luận trong giới phê bình nghiên cứu.
Chúng ta có thể tìm thấy một số lượng khá lớn, khá phong phú những bài nghiên
cứu, phê bình được công bố dưới nhiều dạng khác nhau và đề cập đến nhiều phương
diện trong sáng tác của ông. Nghiên cứu một cách khái quát và toàn diện về tác gia, tác
phẩm của Nguyễn Khải có bài viết của Phan Cư Đệ trong cuốn Nhà văn Việt Nam
1945 - 1975 (tập II); của Đoàn Trọng Huy trong Giáo trình Văn học Việt Nam 1945 -
1975 (phần tác giả). Ngoài ra phải kể đến "Lời giới thiệu" của Vương Trí Nhàn trong
tuyển tập "Nguyễn Khải” (3 tập); bài “Nguyễn Khải - Một thời gắn bó với thời đại và
dân tộc” của Bích Thu hay những bài viết của Đào Thủy Nguyên, Nguyễn Thị Bình
Có thể nói, những công trình trên đã đưa đến cho người đọc một hình dung khá cụ
thể về Nguyễn Khải ở cả sự nghiệp sáng tác, giá trị tác phẩm cùng phong cách riêng
của ông. Hầu hết các tác giả đều khẳng định: Nguyễn Khải là một trong những nhà văn
và sự phát hiện trở lại - một phong cách vừa dân dã vừa hiện đại” [25,114]. Trong bài
viết, Vương Trí Nhàn cũng chỉ ra rằng: "Những truyện ngắn của Nguyễn Khải viết từ
1988 - 1999 đến thời gian gần đây, khơi vào hai cái mạch chính: Một là cuộc sống
hôm nay của những người chung quanh, bạn bè đồng nghiệp quen biết cùng tuổi tác
và tâm sự. Hai là số phận những người thân trong gia đình, họ hàng nội ngoại của tác
giả, những ông cậu, bà mợ mà tâm tư tình cảm của Nguyễn Khải còn nhiều quyến
luyến" [25,116].
Bên cạnh đó, phải kể đến Đào Thủy Nguyên trong cuốn Phương pháp tiếp cận
sáng tác của Nguyễn Khải trong giảng dạy văn học Việt Nam hiện đại [22] đã lưu ý tới
cái nhìn xoáy sâu vào nhiều vấn đề của đời sống con người đương thời: con người
trong thời gian và lịch sử, con người trong các khả năng lựa chọn và thích ứng; con
người trong quan hệ gia đình; con người trong mâu thuẫn và tiếp nối các thế hệ Hay
trong bài viết “Thế giới nhân vật Nguyễn Khải trong cảm hứng nghiên cứu phân tích”
4 ta sẽ thấy: “Mỗi con người, mỗi số phận nhân vật là một tìm tòi khám phá của Nguyễn
Khải để mang đến cho người đọc một nhận thức mới về con người”, “Khát vọng
hướng tới cái đẹp, hướng tới sự hoàn thiện nhân cách trong bất kỳ cảnh ngộ và tình
huống nào là một đặc điểm phổ biến của các nhân vật Nguyễn Khải” [22, 153]. Cùng
với đó, có thể kể đến bài viết "Cảm nhận về con người trong sáng tác của Nguyễn
Khải những năm gần đây" của tác giả Nguyễn Thị Huệ đăng trên tạp chí diễn đàn văn
nghệ Việt Nam, tháng 10/1999. Ở những bài viết này tác giả cũng đã khẳng định: "Con
người trong sáng tác của Nguyễn Khải đầu những năm 80 được nhìn nhận ở nhiều tọa
độ, nhiều chiều khác nhau. Thái độ đánh giá của nhà văn đối với con người cũng trở
nên sâu sắc, phổ quát và tỉnh táo hơn" [16,148].
Ngoài ra, bài viết "Nguyễn Khải và tư duy tiểu thuyết" của tác giả Nguyễn Thị
Bình in trong cuốn "Nguyễn Khải về tác gia và tác phẩm" cũng chỉ ra rằng: "Tỉnh táo
ngay từ khi đưa ra quan niệm "Nghệ thuật là khoa học thể hiện lòng người" nên các
Để thực hiện nhiệm vụ của khóa luận, trước hết chúng tôi tiếp cận với tác phẩm,
thống kê, phân loại, chỉ ra sự lặp lại của những chi tiết có ý nghĩa quan trọng trong
việc tìm hiểu, phân tích các đặc điểm về nghệ thuật truyện ngắn của Nguyễn Khải.
Việc phân tích từng hiện tượng riêng lẻ cũng như việc lý giải mối quan hệ giữa một
hiện tượng với một hiện tượng cùng loại hay khác loại được tiến hành đồng thời với
quá trình tổng hợp để rút ra những nhận định phổ quát, quy các hiện tượng riêng lẻ để
đi đến những kết luận chung một cách phù hợp.
4.2. Phương pháp so sánh - đối chiếu
Trong quá trình làm khóa luận, tác giả khóa luận sử dụng phương pháp so sánh -
đối chiếu để từ đó tìm ra những nét tương đồng và khác biệt của mỗi loại, đồng thời để
tìm ra những nét tương đồng và khác biệt giữa Nguyễn Khải với tác giả khác trong
cùng một vấn đề đang xét.
4.3. Phương pháp lịch sử
Chúng tôi sử dụng phương pháp lịch sử nhằm tìm hiểu sâu hơn về xã hội, văn hóa
của các tác phẩm.
Ba phương pháp chính này được tiến hành một cách đồng thời, trong phương
pháp này đã có phương pháp kia và ngược lại. Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các
phương pháp khác như: phương pháp khảo sát - thống kê, phương pháp trò
chuyện…nhằm thu thập các thông tin cần thiết, hỗ trợ cho việc nghiên cứu.
5. Đóng góp của đề tài
Đề tài góp phần khẳng định hiệu quả của hướng nghiên cứu: tìm hiểu, đánh giá
văn học từ tư tưởng nội dung và những giá trị nghệ thuật, trong mối liên hệ giữa nội
6 dung và nghệ thuật với từng giai đoạn phát triển của văn học, làm nổi bật vị trí và đóng
góp của nhà văn Nguyễn Khải trong quá trình đổi mới văn xuôi Việt Nam hiện đại,
thấy được dấu ấn riêng của Nguyễn Khải qua những sáng tác sau năm 1975. Đây sẽ là
tài liệu tham khảo bổ ích cho sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng khối ngành sư
7 B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: NGUYỄN KHẢI VÀ SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI VĂN HỌC
1.1 Cuộc đời và sự nghiệp
Nguyễn Khải tên thật là Nguyễn Mạnh Khải, sinh ngày 3 tháng
12 năm 1930 tại Hà Nội. Quê nội ở thành phố Nam Định nhưng tuổi nhỏ sống ở nhiều
nơi. Lúc ông đang học trung học thì gặp Cách mạng tháng Tám. Trong kháng chiến
chống Pháp, Nguyễn Khải gia nhập tự vệ chiến đấu ở thị xã Hưng Yên, sau đó vào bộ
đội, làm y tá rồi làm báo. Bắt đầu viết văn từ những năm 1950, được chú ý từ tiểu
thuyết Xung đột (phần I năm 1959, phần II năm 1962). Sau năm 1975 Nguyễn Khải
chuyển vào sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1988, ông rời quân đội với
quân hàm đại tá để về làm việc tại Hội Nhà văn Việt Nam. Nguyễn Khải từng là ủy
viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam các khóa II, III và là phó tổng thư ký khóa
III. Ông là Đại biểu Quốc hội khóa VII. Năm 1982, ông nhận giải thưởng của Hội Nhà
văn Việt Nam với tiểu thuyết Gặp gỡ cuối năm. Năm 2000, nhà văn được phong tặng
4 màn, NXB Quân đội nhân dân, 1978), Cha và Con và (tiểu thuyết, NXB Tác phẩm
mới, 1979), Gặp gỡ cuối năm (tiểu thuyết, NXB Tác phẩm mới, 1982), khoảnh khắc
đang sống (kịch bản phim, truyện ngắn, NXB Văn nghệ, 1982),Thời gian của
người (tiểu thuyết, NXB Tác phẩm mới, 1982), Điều tra về một cái chết (tiểu thuyết,
NXB Tác phẩm mới, 1986), Cái thời lãng mạn (truyện vừa, Báo Văn nghệ, 1987) hay
tác phẩm Một cõi nhân gian bé tý (tiểu thuyết, NXB Văn nghệ, 1989), Cặp vợ chồng ở
chân động Từ Thức (truyện ngắn, báo Văn nghệ, 1991), Chuyện tình của mỗi người
(truyện ngắn, Tạp chí Văn nghệ quân đội, 1992), Sư già chùa Thắm và ông đại tá về
hưu (tập truyện, NXB Hội nhà văn, 1993), Một thời gió bụi (tập truyện ngắn, NXB
Lao động, 1993), Thượng đế thì cười (tiểu thuyết, NXB Hội nhà văn, 2003. Cuối đời,
ông dành thời gian đúc kết những nghĩ suy, đau đáu trong tùy bút: Nghĩ muộn (Tùy
bút, 2000), Đi tìm cái tôi đã mất (Tùy bút, 2006).
Với những đóng góp to lớn ấy, Nguyễn Khải đã nhận nhiều giải thưởng văn học
như: Giải thưởng Văn học Lê Thanh Nghị (Liên khu III, 1951), Giải thưởng Văn nghệ
Việt Nam (1951-1952), Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam (1982), Giải thưởng Văn
học Đông Nam Á (2000), Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật (đợt II -
2000) và Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.
Những thành tích, những sáng tác cũng như những quan niệm trên của Nguyễn
Khải ít nhiều cũng chịu ảnh hưởng của lịch sử. Hoàn cảnh lịch sử thay đổi, kéo theo đó
là sự thay đổi của thị hiếu công chúng. Chủ nghĩa đề tài mất ý nghĩa do quan niệm về
hiện thực được mở rộng. Thay vì coi trọng biến cố lịch sử, văn học lấy con người làm
tâm điểm khám phá. Ngòi bút Nguyễn Khải như trẻ lại với niềm say mê “cái hôm nay
ngổn ngang, bề bộn” (Gặp gỡ cuối năm). Ông chiếm lĩnh nhiều vùng đất mới mà vùng
đất nào cũng để ông không ngừng trăn trở về số phận con người, về giá trị làm người.
9 Vẫn là cây bút năng nổ, sung sức, Nguyễn Khải liên tục xuất hiện trên văn đàn với
nhiều thể loại: Kịch (Cách mạng, Khoảnh khắc đang sống, Hành trình đến tự do), bút
10 tư thế đối thoại ấy, dự cảm của nhà văn về khả năng tự điều chỉnh để tiếp tục tồn tại
của lí tưởng tôn giáo là có cơ sở. Chất tiểu thuyết đậm nét ở thân phận cha Thư và ở
cái xu hướng mở cửa vấn đề, cùng những chi tiết sinh hoạt tươi tắn, sống động.
- Gặp gỡ cuối năm (1982): lấy bối cảnh đô thị miền Nam sau ngày giải phóng.
Một bàn tiệc tất niên trong một gia đình thượng lưu của chế độ cũ. Thực khách đều là
trí thức và đều có quan hệ họ hàng nhưng đại diện cho những xu hướng chính trị khác
nhau, có quan niệm sống khác nhau. Trước thời khắc chuyển giao năm cũ – năm mới,
đồng thời cũng là thời điểm mà tình thế lịch sử đã rõ ràng, họ thẳng thắn bộc bạch tâm
trạng, thái độ đối với thời thế. Không khí đối thoại dân chủ, khi thân tình ấm áp, lúc
căng thẳng vì các chính kiến đối lập va xiết nhau làm bật lên vấn đề: Người thắng cuộc
cần phải chinh phục được đối phương bằng nhân cách cao cả, còn kẻ thua cuộc cần
phải chấp nhận hoà nhập, thích nghi với chính thể mới. Vì “không ai có thể sống mãi
trong tâm trạng mặc cảm bị dồn đuổi, bị thua cuộc”. Ở tác phẩm này, tính đối thoại và
màu sắc triết luận của ngòi bút Nguyễn Khải là một nét mới. Ngay khi khẳng định sự
thắng thế của cách mạng, nhà văn vẫn không ngần ngại để cho nhân vật nêu lên những
non kém, ấu trĩ trong cách quản lí điều hành xã hội và bệnh lí luận của chúng ta. Đây
cũng là lần đầu tiên, Nguyễn Khải đưa “cái tôi tiểu sử” vào tác phẩm, tạo cho người
đọc cảm giác tin cậy, thân tình.
- Thời gian của người (1984): là câu chuyện về những cách sống đẹp. Ở đây,
khuynh hướng triết luận, cảm quan văn hoá đã giúp Nguyễn Khải mở rộng nội hàm
“sống đẹp”. Các nhân vật chính: Quân – chiến sĩ tình báo lão luyện, Ba Huệ - bí thư
huyện uỷ, cựu chiến sĩ biệt động, Hai Riềng – vị giám đốc nông trường đã sống trải
mấy chế độ nhưng lúc nào cũng một niềm say mê cây cao su, say mê cống hiến cho
đời, cha Vĩnh – vị linh mục dành trọn đời mình làm giảm nhẹ những đau khổ của thế
gian, mỗi người đều là một nhân cách cao cả, là mẫu người “phát triển quá mau lẹ
khiến cái mảnh đất sinh ra nó trở nên chật chội” (Tác phẩm – NXB Tác phẩm mới,
Việt trong và sau chiến tranh, lí giải sự khác biệt thế hệ với những vấn đề cần nhận
thức để tự hoàn thiện.
- Một cõi nhân gian bé tí (1989): chủ yếu viết về những nhân vật “lạc thời” hoặc
do sự xô đẩy đầy ngẫu nhiên của số phận, như ông Mọn, ông Định, hoặc do ảo tưởng
mà chọn lầm đường hoặc vì bất đắc chí mà thành tội phạm, như Mọ Vũ, Hải, một số bị
cáo mà Chính xét xử, hoặc do căn bệnh duy ý chí làm xơ cứng khả năng cảm nhận
cuộc đời như Chính, Tiến. Cõi nhân gian tưởng lớn rộng hoá ra chật chội chỉ vì con
người quá nhiều tham vọng và lầm lạc. Nhưng đấy cũng là lẽ thường tình của kiếp
người. Cách sống thích hợp chính là biết chấp nhận nghịch lí và những ngẫu nhiên,
may rủi để có được sự thanh thản tinh thần. Tác phẩm giàu sắc thái ảm đạm và có âm
hưởng buồn.
12 - Thượng đế thì cười (2003): Nhan đề có xuất xứ từ ngạn ngữ Do Thái “Con
người suy nghĩ còn Thượng đế thì cười”. Đây là một tiểu thuyết tự truyện hoặc một
dạng hồi lí được cấp cho dáng về tiểu thuyết nhờ sự khách thể hoá cái tôi tác giả. Từ
tình huống trớ trêu của một nhà văn quen được vợ tôn thờ như ông chủ, nhưng lúc về
già lại bị vợ cắn dứt, dằn vặt, phải chịu mặc cảm tội lỗi, Nguyễn Khải như muốn nhìn
lại toàn bộ đời văn của mình bằng cái nhìn chiêm nghiệm, đồng thời cũng để giãi bày
với bạn đọc nhiều nỗi niềm riêng. Ông đã vẽ chân dung mình khá tỉ mỉ, từ ngoại hình
đến tâm tính, từ tư tưởng đến số phận. Có lẽ ở đây, Thượng đế thì cười thuộc số hiếm
hoi những tiểu thuyết lấy nghề viết văn, người viết văn làm đối tượng mổ xẻ với cái
nhìn suồng sã đời thường đến thế.
Nhìn chung, từ 1978 đến nay, qua bảy cuốn tiểu thuyết đã công bố của Nguyễn
Khải, người đọc nhận ra ở ông sức sáng tạo dồi dào và một phong cách tiểu thuyết rõ
nét. Cả bảy cuốn tiểu thuyết đều có dung lượng gọn gàng (ngắn nhất là Một cõi nhân
gian bé tí: 131 trang, dài nhất là Thượng đế thì cười: 246 trang). Mỗi tác phẩm có dạng
tiểu thuyết tư liệu, khi là dáng dấp tiểu thuyết vụ án, lúc nghiêng về tự luận, lúc tự
trưởng ích kỷ và thực chất vô tích sự mà lúc nào cũng mang mặc cảm mình không
xứng đáng với chồng (Đời khổ); một trí thức vốn là giáo sư dạy văn chương Pháp ở
trường trung học, là cựu sinh viên trường đại học Sorbone danh tiếng mà phải ăn nhờ
ở đậu, bưng bát cơm ăn với vẻ mặt “nhẫn nhục, hãi sợ và thèm thuồng” (Hai ông già
ở Đồng Tháp Mười); một ông lão ăn mày mắc bệnh lao phải trốn chạy khỏi đứa cháu
nội duy nhất để cho cháu khỏi mất cơ hội có công ăn việc làm (Ông và cháu); một nhà
báo có công lớn với tỉnh nhà nhưng bị những người lãnh đạo hắt hủi, lạnh nhạt chỉ vì
ông dám phanh phui cái xấu của địa phương họ (Lạc thời); một nhà văn có tài, ôm ấp
dự định viết cuốn sách lớn của đời mình nhưng đến ngoài tuổi 60 vẫn chưa thực hiện
được vì phải lo kiếm tiền mua sữa, mua bột cho cháu (Người kể chuyện thuê)… Một
nhà văn vừa thức tỉnh khỏi “cái thời lãng mạn” gặp lại nhân vật của mình năm xưa là
anh lính phục viên sáng ngời với bao hoài bão to lớn bất ngờ rơi vào cảnh “gà trống
nuôi con”, cuộc gặp gỡ của bao nhiêu ngậm ngùi thấm thía “năm xưa chúng tôi nói
chuyện đạo, bữa nay gặp lại nói toàn chuyện đời, một người, đời người đến là luân
khổ ải…” (Cái thời lãng mạn). Sau có những người chọn lối sống ẩn dật, cố tách mình
ra khỏi không khí ganh đua sôi sục như Hồ Dzếnh, Kim Lân (Đất kinh kỳ), cặp vợ
chồng ở chân động Từ Thức (truyện cùng tên)… Không phải Nguyễn Khải không còn
quan tâm đến những tính cách mạnh mẽ, lãng mạn, những người luôn chiến thắng
hoàn cảnh, nhưng cả ở trường hợp này, ông cũng chú ý nhiều đến “phía khuất mặt
người”, đến những gì thực sự làm nên bản lĩnh, giá trị cá nhân. Đó là sự chuyển hướng
quan trọng. Ông tự bạch: “Bằng sự từng trải của tuổi tác, hắn đã nhận ra vẻ đẹp của
đời thường và sự bất biến của những tính cách mới được xác lập trong nửa thế kỷ qua
sẽ thành máu huyết của dân tộc, thành tính cách Việt Nam. Nói thì dễ nhưng hiểu được
14 vẻ đẹp của đời thường với riêng hắn cũng phải mất nửa thế kỷ. Nhận ra vẻ đẹp một
cách nên thơ trong ánh sáng của bình minh thì hắn đã nhận ra từ Mùa lạc, Hãy đi xa
hơn nữa (…). Nhưng nhận ra vẻ đẹp của thất bại, của vất vả trầm luân trong cái
15 chất thiếu thốn, đời sống văn hóa cũng bị bủa vây khép kín. Trong thời gian dài, những
tư tưởng, học thuật, văn hóa về cơ bản chúng ta chỉ có ảnh hưởng từ hệ thống phe xã
hội chủ nghĩa, vì vậy nó đơn điệu, thậm chí độc tôn một vài quan điểm nào đấy. Đặc
biệt là vào những năm 1980, tình hình kinh tế xã hội nước ta gặp nhiều khó khăn và
rơi vào khủng hoảng ngày một trầm trọng. Trước tình hình đó, tháng 12 năm 1986, Đại
hội lần thứ VI của Đảng đã xác định đổi mới toàn diện: “Đổi mới là nhu cầu bức thiết
của sự nghiệp cách mạng, là vấn đề có ý nghĩa sống còn”; “Phải đổi mới, trước hết là
đổi mới tư duy, chúng ta mới có thể vượt qua khó khăn” [4]. Ngay sau đó, Bộ Chính
trị ra Nghị quyết 05 “Về đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo quản lí văn học nghệ
thuật và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học nghệ thuật và văn hóa phát
triển lên một bước mới”, động viên văn nghệ đổi mới: văn hóa, văn nghệ nước ta càng
phải được đổi mới, đổi mới tư duy, đổi mới cách nghĩ, cách làm”. Đảng khuyến khích
văn nghệ sĩ tìm tòi sáng tạo, khuyến khích và yêu cầu có những thể nghiệm mạnh bạo
và rộng rãi trong sáng tạo nghệ thuật, trong phát triển các loại hình và các thể loại
nghệ thuật. Những việc làm ấy đã làm cho văn nghệ nước nhà có điều kiện giao lưu
với nhiều nền văn hóa, văn học trên thế giới. Văn học nước ngoài được dịch và giới
thiệu đa dạng phong phú hơn.
Nếu trước đây các tác phẩm được dịch chủ yếu là của nền văn nghệ Xô viết với tư
tưởng chủ đạo là ngợi ca chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản thì nay tiếng nói ấy
không còn độc tôn. Văn học tiến gần đến tinh thần dân chủ. Sự giao thoa, hợp lưu các
nền văn hóa đã làm cho thế giới quan, nhân sinh quan người nghệ sĩ sắc bén và tươi
mới hơn, tư duy của họ thay đổi. Thực tế cho thấy, văn học sau 1975 có hai thời kỳ.
Thời kỳ đầu là từ 1975 cho đến đầu năm 80. Văn học thời kỳ này tuy có một số biến
đổi như mở rộng đề tài, đề cập đến nhiều vấn đề hơn… nhưng về cơ bản vẫn gần với
đặc điểm của giai đoạn trước. Nghĩa là ở những sáng tác này, cảm hứng sử thi vẫn giữ
một vai trò quan trọng trong tư duy nghệ thuật. Có thể kể đến những sáng tác văn học
ở thời kỳ này như Tháng ba ở Tây Nguyên của Nguyễn Khải, Năm 1975 họ đã sống
duy nghệ thuật, đổi mới thể tài và phương thức thể hiện… Tất cả những phát triển này
không chỉ là luận chứng chứng tỏ bước phát triển của văn xuôi sau năm 1975, mà còn
là cơ sở để xem văn xuôi sau năm 1975 là một giai đoạn phát triển độc lập trong sự
phát triển của văn xuôi Việt Nam hiện đại với những vấn đề mới mẻ đa chiều Đó
cũng là qui luật và xu thế tất yếu của mọi nền văn học nói chung và của văn học hiện
đại Việt Nam nói riêng.
Sau chiến tranh, đất nước hòa bình, người nghệ sĩ lại được sự cổ vũ bởi không khí
đổi mới, nhất là từ 1980. Với khát vọng sáng tạo và sự đổi thay ấy, lúc này nhiều nhà
văn thực sự sống và viết. Những Lê Lựu, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khắc Trường,
Chu Lai, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải… đã có những hướng tìm tòi mới trong sáng
tạo văn học. Họ có một sự may mắn là “lớp người của hai thời đại”: thời của chiến
17 tranh cách mạng và thời bình. Đối với những nhà văn này “hiện thực không chỉ là hiện
thực cách mạng, các biến cố lịch sử và đời sống cộng đồng mà nó còn là hiện thực của
đời sống hàng ngày, với các quan hệ thế sự vốn dĩ đa đoan, đa sự, phức tạp, chằng
chịt, đan dệt nên những mạch nổi và mạch ngầm của đời sống. Hiện thực đó còn là đời
sống cá nhân của mỗi con người với những vấn đề riêng tư, số phận, nhân cách, với
khát vọng mọi mặt, cả hạnh phúc và bi kịch. Hiện thực đời sống trong tính toàn vẹn
của nó đã mở ra những không gian vô tận cho văn học thỏa sức chiếm lĩnh, khám phá,
khai vỡ” [18,132].
Một trong những nét biểu hiện phong cách nhà văn là sự lựa chọn đề tài. Đề tài
trong văn học vô cùng phong phú đa dạng, bởi có bao nhiêu loại hiện tượng đời sống
thì có bấy nhiêu đề tài. Đề tài mang tính khách quan của đời sống nhưng sự lựa chọn
đề tài nào của nhà văn lại là do cái tạng của người viết. Vì vậy, đề tài cũng mang dấu
ấn chủ quan của nhà văn. Nó giúp cho độc giả thấy được cái nhìn toàn cảnh về một
thời kì lịch sử, đồng thời hiểu hơn những khó khăn mà nhà văn đã trải qua để có được
thành tựu như ngày hôm nay. Vì vậy dấu ấn thời đại, hoàn cảnh sống ít hoặc nhiều đều
để tìm “thời gian đã mất”. Mỗi một nhà văn, tùy thuộc vào mục đích của mình, cùng
một đề tài chiến tranh mà đem đến cho công chúng những cảm nhận khác nhau. Đó là
sự phong phú đa dạng trong văn học.
Cũng như đề tài về chiến tranh cách mạng, đề tài về nông thôn cũng đã từng được
các nhà văn khai thác khá thành công ở giai đoạn sau 1975. Trong quá trình đổi mới,
chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, nhiều vấn đề của đời sống thôn quê được phát lộ, là
mảnh đất phì nhiêu để các nhà văn canh tác. Những nét đẹp truyền thống, những lề
thói hủ tục, cùng những cảnh đời bất hạnh sau lũy tre xanh hiện lên khá sắc sảo.
Ở thời bình cuộc sống thật đa sự, con người thật đa đoan. Đề tài thế sự đời tư là đề
tài trung tâm của tiểu thuyết giai đoạn này. Rất nhiều nhà văn đi vào khai thác mảng
thế sự, đời tư. Trong không khí đổi mới, nhà văn có quyền cất tiếng hót bằng chính
giọng của mình. Điểm nhìn của nhà văn được mở rộng với nhiều chiều kích, không bị
khúc xạ bởi một yếu tố bên ngoài nào mà phụ thuộc vào lương tâm, trách nhiệm của
người cầm bút với cuộc đời. Vì vậy, tác phẩm của họ có chiều rộng lẫn bề sâu hơn.
Những góc khuất, những mảng vỡ của kiếp nhân sinh, những xung đột trong gia đình,
trong mỗi cá nhân, bản thể người được nhà văn khám phá và lí giải tận cùng. Có thể
thấy ngòi bút tinh vi của các nhà văn đã dò la vào tận những ngóc ngách, những miền
sâu thẳm của cuộc sống thực tế để phơi bày lên trang viết tâm sự với bạn đọc.
Đời sống thị thành trong những năm đổi mới cũng là mảng đề tài có nhiều cây bút
theo đuổi. Nhà văn từ việc khắc họa hiện thực cuộc sống phố phường đã cố gắng đi
sâu vào khai thác những mặt trái của chốn thị thành: đồng tiền, quyền lực làm tha hóa
biến chất con người, những đố kị, thù hằn, dục vọng nảy sinh từ đó. Đây là mảng đề tài
khá hấp dẫn với nhiều nhà tiểu thuyết.
19 Cùng với đó, tình yêu luôn là đề tài muôn thuở của nghệ thuật. Tùy thuộc vào
từng hoàn cảnh xã hội lịch sử cụ thể mà tình yêu được thể hiện trong văn học với mức
độ đậm nhạt khác nhau. Trước 1975 trong văn học nước nhà đề tài này có phần hạn
20 các quan hệ thế sự, đời sống riêng tư. Những nhà văn có sự mẫn cảm với cuộc sống đã
không thể bỏ qua hiện thực đời thường ấy và họ nhìn ra nhiều vấn đề đáng quan tâm.
Từ Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng, Thời xa vắng của Lê Lựu, rồi Gặp gỡ
cuối năm, Thời gian của người của Nguyễn Khải… đã có một cái nhìn nhiều chiều, thể
hiện quan niệm mới của nhà văn về hiện thực. Đề tài về lịch sử dân tộc vốn là chủ đề
chính chi phối mạnh mẽ mọi bình diện của hiện thực. Văn học đã chuyển sự quan tâm
sang chủ đề thế sự và đời tư. Với quan niệm về hiện thực đời thường phong phú, vô
tận như thế, các cây bút đã đi vào khám phá và thể hiện hiện thực đời sống trong tính
muôn mặt và muôn vẻ của nó. Văn học được giải phóng khỏi “chủ nghĩa đề tài” thì
cũng đồng nghĩa với thuận lợi và thách thức đối với nhà văn. Nhà văn có thể viết mọi
điều, có thể viết cả những điều trước đây bị cho là cấm kị, nhưng điều quan trọng nhất
là ở chỗ anh ta có phát hiện ra điều gì mới, biểu đạt được cái gì của mình trong những
cái quen thuộc hay xa lạ với người đọc. Sự lựa chọn hiện thực không quan trọng bằng
cách đánh giá về hiện thực ấy. Lê Ngọc Trà nêu quan điểm văn học nghiền ngẫm về
hiện thực. Đây là sự đổi mới tích cực và đúng đắn trong quan niệm về hiện thực của
văn học Việt Nam sau 1975 nói chung và thể loại tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 nói
riêng. Bên cạnh đó, thế giới nghệ thuật không chỉ phản ánh thực tại ngoài đời mà còn
là thế giới do nhà văn sáng tạo. Thế giới đó có thể có thực hoặc ảo, nó tồn tại bên cạnh
những hình ảnh của hiện thực.
Không dừng lại ở đó, quan niệm về con người cũng dần được đổi mới: Quan niệm
nghệ thuật về con người được hiểu như là nguyên tắc cắt nghĩa thế giới và con người
vốn có của hiện thực. Quan niệm nghệ thuật không phải là những nhận xét thoáng qua
mà là những cảm nhận, những cách thức lí giải và cắt nghĩa về thế giới đã được hóa
thành nguyên tắc. Mỗi một nhà văn bao giờ cũng có nguyên tắc riêng trong quá trình
chiếm lĩnh và lí giải hiện thực.
Trong thời kì chiến tranh cách mạng, văn học nhìn con người chủ yếu ở tư cách
con người công dân, con người dân tộc, giai cấp. Đó là điều rất cần thiết. Chính vì thế
đề cập đến nỗi đau làm người với câu chuyện của một hài nhi đang băn khoăn lựa
chọn có nên làm người hay không. Vì sao hài nhi ấy lại có sự băn khoăn đó? Bởi vì
những ngày cuối của thai kì, đứa bé sắp chào đời đã nghe được những âm thanh cuộc
sống của người dội vào tai nó qua bụng mẹ. Nó thấy cuộc đời sao nhơ nhuốc, con
người đối xử với nhau thật táng tận lương tâm… Còn cõi người trong Mười lẻ một đêm
của Hồ Anh Thái cũng thật cằn cỗi và cùn trơ bởi lòng đố kị, nhỏ nhen. Chiến tranh,
tuổi trẻ đã đi qua, để lại nỗi buồn, bi kịch và mất mát. Bảo Ninh, Chu Lai với Nỗi buồn
chiến tranh, Ăn mày dĩ vãng đã dũng cảm và thành thực chỉ ra cái ác, cái mất mát của
cuộc chiến vừa qua còn dai dẳng, hiện hữu với những di họa của nó không biết bao giờ
mới hết.