Vấn đề căn tính trong sáng tác của các tác giả di dân gốc việt ( qua một số tiểu thuyết được xuất bản trong nước thời gian gần đây) - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

ĐỖ THUỲ ANH

VẤN ĐỀ CĂN TÍNH TRONG SÁNG TÁC CỦA
CÁC TÁC GIẢ DI DÂN GỐC VIỆT
(QUA MỘT SỐ TIỂU THUYẾT ĐƢỢC XUẤT
BẢN TRONG NƢỚC THỜI GIAN GẦN ĐÂY)

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Hà Nội 2015

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------------------------ĐỖ THUỲ ANH

VẤN ĐỀ CĂN TÍNH TRONG SÁNG TÁC CỦA
CÁC TÁC GIẢ DI DÂN GỐC VIỆT
(QUA MỘT SỐ TIỂU THUYẾT ĐƢỢC XUẤT
BẢN TRONG NƢỚC THỜI GIAN GẦN ĐÂY)

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21


Hà Nội, tháng 12 năm 2015
Tác giả luận văn

Đỗ Thùy Anh

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................................................... 1

4


PHẦN NỘI DUNG ......................................................................................................................... 17
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ......................................................................... 17
1.1

Cơ sở lý luận ....................................................................................................................... 18

1.2

Cơ sở thực tiễn .................................................................................................................... 27

CHƢƠNG 2: VĂN HỌC VIỆT NAM TẠI NƢỚC NGOÀINHÌN TỪ KIỂU NHÂN VẬT KHÔNG
CỘI RỄ ............................................................................................................................................ 39
2.1 Hiện tƣợng con ngƣời không cội rễ .......................................................................................... 39
2.2 Các biểu hiện của kiểu nhân vật không cội rễ ........................................................................... 42
2.3Nhân vật không cội rễ và niềm hoài niệm cố hƣơng.................................................................. 52
CHƢƠNG 3: VĂN HỌC VIỆT NAM TẠI NƢỚC NGOÀINHÌN TỪ SỰ LAI GHÉP CĂN TÍNH
VĂN HOÁ ...................................................................................................................................... 62
3.1 Sự trình hiện của căn tính văn hoá Việt Nam ........................................................................... 62
3.2 Sự trình hiện của văn hoá ngoại lai ........................................................................................... 71

Đặc biệt, từ năm 1945 trở về đây, văn học di dân vẫn tiếp tục phát triển nhƣ
một dòng chảy xuyên suốt, bền bỉ song hành cùng bộ phận văn học chính thống
trong nƣớc. Đến sau 1975, do những lý do và hoàn cảnh đặc biệt, hiện tƣợng ngƣời
Việt di dân có sự gia tăng đột biến, kéo theo đó là sự phát triển nở rộ của các tác
phẩm văn học của ngƣời Việt viết tại nƣớc ngoài. Những tác giả và tác phẩm của bộ
phân văn học di dân gốc Việt đƣợc nhắc tới nhiều hơn trên các diễn đàn văn học
trong nƣớc.Một số tác phẩm đã bắt đầu đƣợc truyền bá và in tại Việt Nam. Có thể vì
lí do đó mà nhiều độc giả chỉ biết đến văn học di dân của các tác giả gốc Việt từ
giai đoạn này.
Trong suốt hơn một thế kỷ từ đó đến nay, văn học di dân Việt Nam chủ yếu
đƣợc biết đến qua ba nguồn chính. Nguồn thứ nhất xuất phát từ đội ngũ các tác giả
gốc Việt, do không hoà nhập đƣợc với bối cảnh và hoá và môi trƣờng hoạt động
nghệ thuật trong nƣớc, đã di cƣ và chuyển đến sinh sống tại một quốc gia mới. Tại
đây, họ chủ động hội nhập và tiếp thu với nền văn hoá, văn minh toàn cầu để sống

1


và viết nhƣ một công dân quốc tế. Nguồn thứ hai xuất phát từ chủ trƣơng xuất khẩu
lao động của Chính phủ Việt Nam từ sau 1975, trong bối cảnh mở cửa, hội nhập và
xây dựng xã hội mới. Một bộ phận lớn ngƣời lao động Việt Nam đƣợc tạo điều kiện
sang các nƣớc xã hội chủ nghĩa anh em để kiếm sống và mƣu sinh. Họ cũng viết,
ban đầu nhƣ một nhu cầu để giải toả những dồn nén, bức bối về đời sống tinh thần
trong hoàn cảnh xa nhà. Về sau, chính việc đi và chứng kiến những xã hội khác,
những nền văn hoá, văn minh khác đã tích tụ thành chất liệu cho họ viết các tác
phẩm viết về đề tài cuộc sống của ngƣời Việt ở nƣớc ngoài. Cuối cùng, tiến trình
Đổi mới và hội nhập sau năm 1986 của Chính phủ Việt Nam tiếp tục dẫn đến một
luồng di dân nữa. Làn sóng của các du học sinh, các trí thức sang học tập và nghiên
cứu tại nƣớc ngoài để về cống hiến cho nƣớc nhà đƣợc lan ra. Những lí do đó đã
góp phần đẩy mạnh làn sóng di dân của ngƣời Việt Nam sau 1975. Đồng thời, đó

chất xã hội của con ngƣời1. Bản chất xã hội đƣợc nói đến ở đây nhằm phân biệt với
bản chất cá nhân – hai phƣơng diện cấu thành nên một con ngƣời hoàn chỉnh vận
động và phát triển giữa các luồng ý thức hệ và văn hoá. Từ hai hệ quy chiếu đó, có
thể chỉ ra mỗi tác giả văn học – với tƣ cách nhƣ một cá thể của xã hội, cũng sẽ phản
ánh vào tác phẩm của mình hai phƣơng diện. Một mặt, các tác giả sẽ ghi dấu ấn con
ngƣời cá nhân của mình, những ẩn ức vô thức, những dằn vặt nội tâm từ hoàn cảnh
và đời sống riêng lên tác phẩm. Mặt khác, qua tác phẩm, chúng ta cũng có thể soi
chiếu thấy những giá trị văn hoá, những sinh hoạt tinh thần có tính cộng đồng mà
tác giả chịu ảnh hƣởng vào thời điểm sáng tác. Khi ấy, văn học nhƣ là một hình
thức giao tiếp giữa tác giả và xã hội. Tác phẩm là cách thức ngƣời nghệ sĩ thể hiện
tƣ tƣởng của mình về các vấn đề mang tính xã hội.
Tƣơng đƣơng với hai phƣơng diện này trong thế giới tinh thần của tác giả,
chúng ta có hai cách đọc để tiến tới tiếp cận và giải mã ý nghĩa của văn bản tác
phẩm. Cách thứ nhất chọn hƣớng tiếp cận từ góc độ con ngƣời cá nhân của tác giả,
do Sigmund Freud (1856 – 1939)2 chủ trƣơng, đƣợc biết đến ngày nay là phƣơng
pháp tâm lý học. Phƣơng pháp này này sẽ đi tìm và cắt nghĩa nội dung tƣ tƣởng của
tác phẩm dựa trên những ẩn ức cá nhân của ngƣời nghệ sĩ liên quan đến thế giới tâm
lý của anh ta (dù sau này, sau Freud, ngƣời ta chỉ ra rằng, thế giới đó cũng mang

1Dẫn

theo quan điểm của Montesquieu, ngƣời đồng thời với Newton (1643 – 1727), là đại diện tiêu biểu của
trào lƣu Vật lý xã hội, một trào lƣu tƣ tƣởng cho rằng xã hội, cũng giống nhƣ thiên nhiên, với các “quy luật”
của riêng nó. Quan điểm đƣợc trích dẫn nằm trong Bài diễn văn mở đầu của tác phẩm nổi tiếng Tinh thần
luật pháp (1748).
2
Sigmund Freud (tên đầy đủ là Sigmund Schlomo Freud, 1856 –1939) nguyên là một bác sĩ về thần kinh và
tâm lý ngƣời Áo.Ông đƣợc công nhận là ngƣời đặt nền móng cho các nghiên cứu về phân tâm học, nền tảng
của phƣơng pháp nghiên cứu quan trọng trong các lĩnh vực khoa học xã hội ngày nay.Ông là một nhà tƣ
tƣởng có ảnh hƣởng lớn trong thế kỷ 20.

Các tác phẩm chính: Thống kê xã hội (1950), Nghiên cứu xã hội học (1837), Các nguyên tắc của xã hội học
(1876), Xã hội học mô tả (1873-1881).
2Nhà xã hội học nổi tiếng đƣợc coi là cha đẻ của xã hội học Pháp.Ông là ngƣời lập ra chuyên ngành xã hội
học ở trƣờng Đại học Bordeaux và ở Đại học Sorbonne của Paris.
Các tác phẩm chính: Phân công lao động xã hội (1893), Các quy tắc của phương pháp xã hội học (1897), Tự
tử (1897).
3Nhà xã hội học Đức, đƣợc coi là một trong những nhà xã hội học lớn nhất đầu thế kỷ 20.Lĩnh vực đƣợc ông
chú ý nhiều là hành động xã hội.
Các tác phẩm chính: Những tiểu luận phương pháp luận (1902), Kinh tế và xã hội (1910-1914), Xã hội học
tôn giáo (1916).

4


xa xứ đẩy họ vào một không gian cộng đồng mới. Họ mang phần “con ngƣời Việt
Nam” trong mình đến sống ở một môi sinh mới, nơi cuộc gặp gỡ giữa các nền văn
hoá nảy sinh.
Hiện tƣợng này đã làm nên hai dòng chảy chính trong bộ phận văn học Việt
Nam của những tác giả xa xứ, đặc biệt là trong khoảng 2 đến 3 thập kỷ trở lại đây.
Một là dòng các tác phẩm khai thác đề tài lịch sử, quá khứ (tôn vinh những giá trị
truyền thống của dân tộc (Mùa biển động, Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng
Giác, Người đi trên mây của Nguyễn Xuân Hoàng…). Một dòng là các tác phẩm
mô tả cuộc va chạm, tiếp xúc văn hoá Đông – Tây và quá trình những ngƣời Việt
Nam tại nƣớc ngoài thích nghi, biến đổi những thói quen, tập tục văn hoá trong bối
cảnh hội nhập (Chinatown, Paris 11 tháng 8 của Thuận, Và khi tro bụi của Đoàn
Minh Phƣợng, Quyên của Nguyễn Văn Thọ…). Ở dòng chủ đề thứ hai này, các tác
giả đã phản ánh hiện tƣợng giao thoa đó bằng một khái niệm mới - “căn tính văn
hoá lai” (giữa căn tính văn hoá gốc và căn tính văn hoá của cộng đồng mới nơi chủ
thể sinh sống).
Với những đặc điểm nêu trên, phƣơng pháp xã hội học văn họcđƣợc chọn

hội nhập toàn cầu.
Trên tất cả những nỗ lực đó, chúng ta sẽ thấy có một chủ đề xuyên suốt trong
sáng tác của ngƣời Việt xa xứ là vấn đề căn tính dân tộc. Vấn đề này phản ánh hiện
tƣợng, đồng thời cũng là hệ quả của quá trình di cƣ. Khi cá nhân thuộc về mộtcăn
tính dân tộc nơi họ sinh ra, nhƣng lại tiếp xúc và hoà mình vào một căn tính dân tộc
khác, nơi họ sinh sống. Câu hỏi thƣờng trực đặt ra đối với họ là: Tôi là ai? Tôi đến
từ đâu?Tôi thuộc về nơi nào? Quá trình xa xứ đã mang họ xa rời với căn cƣớc, cội
rễ quê hƣơng. Trong khi đó, họ vẫn mãi chỉ là kẻ ngoại lai đối với những quốc gia,
dân tộc khác. Họ đi quá lâu để còn ràng buộc mình với căn tính gốc, nhƣng cũng
không thể dung nạp hoàn toàn căn tính mới, trong mặc cảm cô đơn, xa lạ của kẻ lƣu
vong. Các nhân vật trong trong sáng tác của những tác giả gốc Việt dù mang những
cuộc đời, thân phận khác nhau nhƣng nhìn chung, đều hƣớng về một nỗi trăn trở,
cật vấn về vấn đề căn tính ấy. Nó là tâm thức vừa có tính phổ quát (đối với bất cứ
cộng đồng dân di cƣ nào trên thế giới), vừa là điểm để phân biệt giữa bộ phận văn
học viết bằng tiếng Việt trong nƣớc và ngoài nƣớc. Khảo sát và nghiên cứu vấn đề
căn tính dân tộc, các dạng thức biểu hiện và mối liên hệ với hệ thống nhân vật sẽ là
điểm mấu chốt để mở ra cánh cửa đến với văn học di dân.
4.

Đối với riêng bộ phận văn học di dân Việt Nam những năm trở lại

đây, vấn đề căn tính bắt đầu đƣợc thể hiện ở những diễn biến phức tạp hơn so với

6


cảm thức hoài niệm cố hƣơng và tâm thế hội nhập trƣớc đó. Cụ thể, các tác giả
không chỉ dừng lại ở việc tái hiện lại một Việt Nam trong mắt mỗi ngƣời bằng kỷ
niệm, hình dung, ký ức mà còn kín đáo gửi gắm những quan điểm, thái độ của mình
về căn tính, bản sắc văn hoá mà tổ tiên, cha ông họ tạo nên. Niềm hoài niệm cố

Về bộ phận văn học của ngƣời di dân gốc Việt, chúng tôi có tìm đến các
công trình nghiên cứu và bài viết có tính khái quát, phác hoạ lại toàn cảnh bức tranh
của bộ phận văn học Việt Nam tại nƣớc ngoài. Nghiên cứu đầu tiên có thể kể đến là
bài viết Văn học Việt Nam ở hải ngoại, những vấn đề của sự phát triển hiện nay –
A.A.Sokolov (Lê Sơn dịch) đăng trên Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội 2010. Bài
viết đã khái quát chặng đƣờng từ khi hình thành đến khi định hình ổn định thành
một phong trào sáng tác văn chƣơng chuyên nghiệp của các tác giả gốc Việt xa xứ
qua 5 thời kỳ phát triển, từ 1975 đến nay. Luận điểm quan trọng của bài viết chỉ ra
là, vào thời kỳ đầu, các tác giả chỉ viết nhƣ một nhu cầu bản năng, nhằm giải phóng
những khủng hoảng, bế tắc về tinh thần trong hoàn cảnh thiếu quê hƣơng, lạc lõng
giữa một cộng đồng mới, một nền văn hoá mới. Tác giả bài viết dẫn ra phát biểu
của nhà văn Võ Phiến, trong phần mở đầu cuốn Thư gửi bạn (1976): “Từ ngày bỏ
nƣớc ra đi, tôi đâu còn nghĩ đến chuyện nghệ thuật văn chƣơng nữa… Ai lại nghĩ
xây dựng một sự nghiệp văn nghệ trong vòng vài trăm ngàn ngƣời, tản mát khăp
mặt địa cầu, mỗi ngày một xa lạc ngôn ngữ dân tộc, xa rời cuộc sống dân tộc”. Theo
ngƣời viết, hành động sáng tác văn chƣơng với Võ Phiến nói riêng và với bộ phận
ngƣời Việt di cƣ lúc này chỉ là để thỏa mãn một “nhu cầu lẩm cẩm”. Phải đến
những giai đoạn sau này, kể từ thập niên 90 trở đi, hoạt động sáng tác văn chƣơng
mới dần đƣợc chuyên nghiệp hoá, trong bối cảnh một đời sống văn học sôi động,
của cộng đồng ngƣời Việt tại hải ngoại. Nhận định đó của A. A. Sokolov phản ánh
một ý tƣởng quan trọng, về quá trình một cá nhân, qua thời gian đã thay đổi và thích
nghi với môi sinh văn hoá mới ra sao; và hành động viết, từ chỗ nhƣ một nhu cầu
bản năng để giải toả những bức xúc, khủng hoảng của đời sống tình cảm, đã trở
thành một trong những hoạt động tinh thần cốt yếu của đời sống văn hoá nhƣ thế
nào. Tuy nhiên, không thể bỏ qua điểm hạn chế lớn nhất của công trình là việc tác
giả chỉ khảo cứu phần văn học di dân Việt Nam từ 1975 đến nay và gián tiếp phủ
nhận toàn bộ những diễn biến trƣớc đó. Công việc phân kì để đánh giá quá trình
phát triển của bộ phận văn học này, do đó, là hết sức chủ quan, thiếu chính xác.

8

9


ngoại: Hoài niệm đăng trên tạp chí Văn nghệ trẻ. Bài viết đã chỉ ra một trong những
cảm hứng chủ đạo, dẫn dắt nhóm đề tài chính trong các sáng tác văn xuôi của
những tác giả di dân gốc Việt là cảm thức hoài niệm (nostalgia). Theo tác giả bài
viết, triệu chứng tâm lí này xuất phát từ những biến động và thay đổi khôn lƣờng
mà việc “rời bỏ quê hƣơng, quá khứ là mất mát và ngẫu nhiên đƣợc sắp xếp vào
một trú xứ, chốn tạm dung, nơi không phải là đất mẹ (motherland) sẽ cấy ghép vào
nỗi mất mát kia một hiện tại đầy bất an và vô định”. Nỗi bất an đó đƣợc biểu hiện
thành các chủ đề khác nhau, ở mỗi thế hệ và nhóm tác giả khác nhau, mà ngƣời viết
khái quát lại bao gồm:
- Thiên hƣớng mô tả cảnh trí, phong tục, tập quán với thi pháp ca dao đậm đà
cảm hứng cội nguồn, mang giọng điệu Tự lực văn đoàn lãng mạn, đẹp đẽ.
- Gợi nhắc kỷ niệm tuổi thơ và sự trƣởng thành lƣơng thiện, nhƣ một điểm
nƣơng tựa cho tâm trí ngƣời tha hƣơng trong bối cảnh với những biến cố hiện tại.
- Hoài niệm tiếng nói, ngôn ngữ dân tộc trong sự dằn vặt về cả thể xác lẫn tình
thần khi “những giới hạn về ngôn ngữ” khiến con ngƣời ta “nhƣ bị cắt lìa khỏi
nguồn cội” (Trần Doãn Nho, Một chút Việt Nam). Tác giả nhấn mạnh vùng tổn
thƣơng trong “sự bất khả của giao tiếp” đã đẩy xa hơn tình thế mặc cảm của những
“ngƣời không có đất nƣớc” (Trần Hoài Thƣ, Bên này dòng Hudson).
- Cảm niệm về sự đổ vỡ và chiêm nghiệm quá khứ. Đây là chuỗi cảm giác
“phức tạp và cần lẩy ra vài hệ đo khác vì phép hồi tƣởng đã chen chân những đại
lƣợng tự sự lạ lẫm nhƣ mê sảng, bấn loạn và dục tính”, theo quan điểm của ngƣời
viết. Một cái nhìn có tính phát hiện đƣợc đƣa ra ở đây qua việc giải mã những hành
vi dục tính, hãm hiếp trong các sáng tác của nhóm tác giả di dân này. Trên một cơ
địa văn hóa mới, kiểu quan hệ trao đổi (trong Thiếu nữ chờ trăng lên của Lê Thị
Huệ), cùng với mô hình tuổi thơ – gia đình – ngƣời cha (tiêu biểu nhƣ Chỗ tiếp giáp
với cánh đồng của Khánh Trƣờng) thì tính dục thƣờng ngụ ý tình huống văn hóa và
số phận dân tộc hậu thuộc địa hơn là bản năng sinh lí.


11


- Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Thuận, Nguyễn Thị Tuyết Nhung,
Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 9/2013
- Những ám ảnh hiện sinh trong tiểu thuyết nhà văn Thuận, Hoàng Thanh
Hƣơng, Tạp chí Nhà văn, số 11/2012
Những công trình này đã cho thấy sự quan tâm của giới nghiên cứu trong
nƣớc những năm gần đây đối với đời sống văn học Việt Nam tại nƣớc ngoài.Điều
này là một tín hiệu quan trọng cho một đời sống nghiên cứu văn học cởi mở, trên đà
toàn cầu hoá. Vấn đề văn học di dân, văn học của bộ phận ngƣời Việt xa xứ, văn
học hải ngoại đã thực sự đƣợc đặt ra để trao đổi, nhìn nhận một cách nghiêm túc.
Thông qua những trƣờng hợp tác giả, tác phẩm cụ thể, có ảnh hƣởng cả trong và
ngoài nƣớc, các công trình nghiên cứu trên đã chỉ ra đƣợc một vài vấn đề quan
trọng, mang tính diện mạo của bộ phận văn học di dân này nhƣ nỗi hoài niệm cố
hƣơng, chân dung tinh thần của con ngƣời hiện đại trong bối cảnh va chạm, xung
đột văn hoá… Các phƣơng pháp nghiên cứu chính thống (dựa trên vấn đề thể loại,
góc nhìn văn hoá) đã đƣợc áp dụng nhƣ cách giới nghiên cứu nói chung làm, khi
tiếp cận một tác phẩm văn học thông thƣờng.
Tuy nhiên, các công trình trên vẫn dừng lại ở một vài điểm hạn chế nhất định
khi mới đƣa ra những đánh giá ở mức độ một hoặc nhiều trƣờng hợp cụ thể mà
chƣa đi đến những kiến giải sâu xa, ở tầm khái quát về quá trình hình thành, phát
triển và đặc điểm chung của bộ phận văn học này. Chƣa kể, các nghiên cứu còn cho
thấy một lỗ hổng lớn khi chƣa điểm đến các công trình nghiên cứu về bộ phận văn
học này tại nƣớc ngoài, dẫn đến nhiều vấn đề quan trọng còn chƣa đƣợc kiến giải
thoả đáng nhƣ: Tại sao các nhà văn sinh sống và làm việc ở những quốc gia khác
nhau, ở những thế hệ và độ tuổi khác nhau, nhƣng vẫn tìm thấy điểm chung nhất
định khi nhìn nhận về căn tính dân tộc?
Rút kinh nghiệm từ những hạn chế đó, chúng tôi đề xuất một phƣơng pháp

dần đƣợc công nhận và ủng hộ. Chƣa kể, việc những tác giả này vẫn chọn viết bằng
Tiếng Việt, trong khi họ hoàn toàn có thể lựa chọn ngôn ngữ thứ hai, phổ biến hơn
ở đất nƣớc họ sinh sống cũng là một “dấu chỉ” sẽ gợi mở cho chúng ta nhiều điều
về nhu cầu và động lực thôi thúc hoạt động sáng tác văn học. Tiêu chí thứ ba là
những tác phẩm trên đều mang tinh thần chung là phản ánh khách quan hai dòng

13


chảy của văn học di dân đƣơng đại (giả sử có tồn tại hai hƣớng đề tài này trong các
sáng tác của ngƣời Việt tại nƣớc ngoài).Chúng tôi muốn nói đếnniềm hoài niệm cố
hƣơng và quá trình hội nhập, toàn cầu hoá của căn tính Việt. Có thể ví đây là hai
mũi tên theohai chiều ngƣợc nhau, một hƣớng về những giá trị quá khứ của dân tộc
nhằm bảo tồn, tôn vinh - một hƣớng tới tƣơng lai với các vấn đề chung của nhân
loại trên tinh thần tiếp thu cởi mở, tự nhiên. Các nhân vật trong các tác phẩm đƣợc
đề cập đến ở đây không chỉ phản ánh hiện tƣợng ngƣời Việt lƣu vong (Một mình ở
Châu Âu, Chinatown, Paris 11 tháng 8) mà còn gợi nhắc đến một quy luật tất yếu,
nhƣ hệ quả của quá trình giao thoa, lai ghép các căn tính văn hoá (Và khi tro bụi, Vu
khống) – sự tạo lập căn tính văn hoá mới, trên cơ sở căn tính sẵn có và căn tính mới
đƣợc tiếp thu. Tiêu chí thứ tƣ, nhằm đảm bảo tính nhất quán về mặt thể loại, các tác
phẩm đƣợc chọn để khảo sát ở đây đều là những tiểu thuyết - thể loại đƣợc cho là
thách thức lớn nhất mà một nhà văn chuyên nghiệp cần đạt đến.
Với những tiêu chí đó, các tác phẩm đƣợc chọn sẽ là những đối tƣợng nghiên
cứu cụ thể để chúng tôi đi đến tiếp cận và triển khai đề tài Vấn đề căn tính trong
sáng tác của các tác giả di dân gốc Việt (qua một số tiểu thuyết được xuất bản
trong nước thời gian gần đây).
D.

Phƣơng pháp nghiên cứu
Phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc hiểu là cách tiếp cận, phân tích hiện tƣợng


Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 4 chƣơng:
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1

Cơ sở lí luận

1.1.1 Văn học từ tiếp cận xã hội học
1.1.2 Vấn đề căn tính – căn tính dân tộc
1.2

Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Văn học di dân Việt Nam – cái nhìn toàn cảnh
1.2.2 Các tác giả di dân gốc Việt – những gƣơng mặt đại diện
CHƢƠNG 2: VẤN ĐỀ CĂN TÍNH NHÌN TỪ KIỂU NHÂN VẬT KHÔNG CỘI
RỄ

15


2.1

Hiện tƣợng con ngƣời mất cội rễ

2.2

Các biểu hiện của kiểu nhân vật không cội rễ

2.2.1


Căn tính Việt Nam qua tính địa phƣơng

3.2

Sự trình hiện của văn hoá ngoại lai

3.3

Sự kiến tạo căn tính văn hoá mới

CHƢƠNG 4: VẤN ĐỀ CĂN TÍNHTRÊN PHƢƠNG DIỆN HÌNH THỨC NGHỆ
THUẬT
4.1

Sự hiện đại hoá phƣơng thức trần thuật

4.1.1

Xu hƣớng cá nhân hoá điểm nhìn trần thuật

4.1.2

Kết cấu phức hợp và sự lồng ghép các thể loại

4.1.3

Giọng điệu vô âm sắc

4.2

nay, thƣờng đƣợc các nhà nghiên cứu đặt trong bối cảnh của cá nhân với cộng đồng,
dân tộc. Căn tính (identity) trƣớc hết là một dấu chỉ để phân biệt giữa ngƣời với
ngƣời, nhóm ngƣời với nhóm ngƣời và thông qua đó, chúng ta có cái nhìn xuyên
suốt hơn về quá trình hình thành, phát triển của các cộng đồng, dân tộc. Đi tìm sự

17


biểu hiện cũng nhƣ quá trình diễn biến, thay đổi của căn tính trong sáng tác của các
tác giả di dân gốc Việt đƣợc chúng tôi coi nhƣ nền tảng quan trọng nhất để hiểu và
diễn giải đúng những tác phẩm xa xứ này.
Bên cạnh đó, một số cơ sở thực tiễn nhƣ bối cảnh văn hoá, xã hội tạo điều
kiện cho các cuộc di dân cũng nhƣ hoàn cảnh sống, sáng tác của những tác giả có
tác phẩm đƣợc chọn để khảo sát, cũng là những yếu tố tiền đề cần phải điểm đến
trƣớc khi thực hiện những phân tích chuyên sâu về đề tài.
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Văn học từ tiếp cận xã hội học
Trong lịch sử, mối quan hệ giữa văn học và xã hội đã đƣợc đặt ra cũng nhƣ
thu hút sự quan tâm từ rất lâu. Thời cổ đại, Platon1 đã lần đầu bàn về vai trò của nhà
thơ trong xã hội, đồng thời đi đến đánh giá những ảnh hƣởng trên phƣơng diện tích
cực cũng nhƣ tiêu cực của văn học.Điều đó cho thấy, từ xa xƣa, các triết gia đã
công nhận ảnh hƣởng của tác phẩm văn học đến tƣ tƣởng, tình cảm vànhận thức của
con ngƣời. Trong những công trình nổi tiếng của mình nhƣ Ion và Nền cộng hoà,
Platon đã nhận xét: các hình tƣợng thơ ca (trong thần thoại và ngụ ngôn) sẽ ảnh
hƣởng nhất định đến cảm xúc, suy nghĩ và hành động của độc giả; cùng với nó,
nghệ thuật ngôn từ có thể đóng vai trò quan trọng nhƣ một vũ khí chính trị trong
việc điều hành và kiểm soát nhà nƣớc. Tuy nhiên, quan điểm của Platon vẫn hƣớng
về tính phê phán thơ ca không phù hợp với lợi ích của xã hội mà nên chịu sự chỉ
đạo của triết học.Đối thoại với quan điểm này của Platon là học trò của ông –
Aristote2.Theo Aristote, thơ ca và văn xuôi đều có vai trò hết sức quan trọng trong

kể đến định nghĩa của G. Endruweit và G. Trommsdorff trong cuốn Từ điển xã hội
học, cho rằng: “Xã hội học văn học với tƣ cách một bộ môn xã hội học đặc thù,
không phải là một ngành khoa học thống nhất về đối tƣợng, cách đặt vấn đề và
phƣơng pháp. (…) Nhƣ vậy, mỗi một quan sát khoa học về thi ca và văn học có thể
xem nhƣ là xã hội học văn học, nếu nó quan tâm nghiên cứu chủ yếu đến ảnh hƣởng
về xã hội lên văn học, nếu ngƣợc lại nó tìm hiểu tác động xã hội của văn học và nếu
nó làm ta có thể nhận thức đƣợc những quan hệ phụ thuộc lẫn nhau này bằng một
minh chứng có thể kiểm tra đƣợc”2.Theo đó, xã hội học văn học sẽ nghiên cứu quá
trình hình thành, truyền tải và tiếp nhận tác phẩm cũng nhƣ tất cả những gì liên
quan đến quá trình đó, trong một dòng thời gian liên tục vận động. Tính đặc trƣng
của xã hội học là thiết lập và miêu tả mối quan hệ giữa xã hội và tác phẩm văn học,
1Tham

khảo nguồn: http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-vanhoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/phac-thao-lich-su-hinh-thanh-xa-hoi-hoc-van-hoc
2
G. Endruweit và G. Trommsdorff, Từ điển xã hội học, (Nguỵ Hữu Tâm và Nguyễn Hoài
Bão dịch từ nguyên bản tiếng Đức), Nxb Thế giới, 2002, trang 858 – 859.
19


theo chiều xã hội có trƣớc tác phẩm nên sẽ chi phối tới sự trình hiện của tác phẩm.
Đồng thời, tác phẩm phản ánh xã hội nên ngƣời đọc sẽ dễ tìm thấy hình ảnh tồn tại
của xã hội trong tác phẩm.Theo quan điểm của các tác giả trong công trình Lí luận
văn học (Nxb Giáo dục, Tái bản lần thứ 2, 1996), “nội dung của tác phẩm bắt nguồn
từ mối quan hệ giữa văn học với hiện thực. Đó là một quan hệ nhất định của con
ngƣời đối với hiện tƣợng đời sống đã đƣợc phản ánh. Đó vừa là cuộc sống đƣợc ý
thức, vừa là sự ý thức cảm xúc – đánh giá đối với cuộc sống đó. Nói cách khác, nội
dung tác phẩm văn học là một thể thống nhất giữa khách quan và chủ quan, trong
đó có phần nhà văn khái quát, tái hiện đời sống khách quan vừa có phần bắt nguồn
từ cảm xúc, huyết mạch, lí tƣởng của tác giả”1. Nhà văn, với tƣ cách chủ thể sáng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status