Hình ảnh nhà chùa trong sáng tác của hồ xuân hương và phạm thái - Pdf 28



TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
PHẠM THỊ DUNG

HÌNH ẢNH NHÀ CHÙA TRONG
SÁNG TÁC CỦA HỒ XUÂN HƢƠNG
VÀ PHẠM THÁI KHA LUN TT NGHIP ĐẠI HỌC
Chuyên ngnh: Văn học Việt Nam

Ngƣi hƣng dn khoa học

TS. Nguyễn Thị Nhàn

HÀ NỘI - 2014 TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN PHẠM THỊ DUNG

HÌNH ẢNH NHÀ CHÙA TRONG

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả khóa luận xin cam đoan những kết quả nghiên cứu trong khóa
luận này là của riêng tác tôi dƣới sự hƣớng dẫn của Th.S Nguyễn Thị Việt
Hằng. Các kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực và chƣa đƣợc
công bố trong bất cứ công trình nào.
Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, tháng 05 năm 2014
Tác giả khóa luận

Phạm Thị Dung
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Mục đích nghiên cứu 3
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 4
6. Phƣơng pháp nghiên cứu 4
7. Đóng góp của khóa luận 5
8. Bố cục của khóa luận 5
NỘI DUNG 6
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 6
1.1. Thuật ngữ 6

hƣớng nghiên cứu ấy.
Hồ Xuân Hƣơng và Phạm Thái là hai tác giả quan trọng trong văn học
trung đại giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến thế kỉ XIX. Bản thân tôi rất ấn tƣợng
với thơ Hồ Xuân Hƣơng và Phạm Thái bởi một chất thơ dung dị, dễ hiểu và
mang đậm dấu ấn cá nhân. Cùng lấy mảng đề tài về nhà chùa để phản ánh
trong thơ ca của mình nhƣng mỗi ngƣời lại xây dựng theo một lối đi riêng và
mang phong cách vô cùng độc đáo, mang lại cái nhìn đa chiều và sinh động
về hình ảnh nhà chùa trong xã hội đƣơng thời trƣớc mắt ngƣời đọc. Điều đó,
đã tạo hứng thú cho chúng tôi triển khai nghiên cứu đề tài này.
Là một sinh viên Ngữ Văn, tƣơng lai gắn bó với nghề nghiệp và công
việc dạy học, tôi rất muốn có những kiến thức phong phú và đa dạng để
truyền dạy lại cho học sinh của mình. Tất cả những lí do trên đã khiến tôi
quyết định lựa chọn đề tài “Hình ảnh nhà chùa trong sáng tác của Hồ Xuân
Hương và Phạm Thái” làm khóa luận tốt nghiệp.
2

2. Lịch sử vấn đề
Là một trong những hiện tƣợng văn học tài năng và độc đáo nên thơ Hồ
Xuân Hƣơng và Phạm Thái đƣợc giới nghiên cứu và những ngƣời yêu thích
văn học tìm hiểu trong khá nhiều công trình phản ánh về cả nội dung và hình
thức.Tuy nhiên nghiên cứu hình ảnh nhà chùa trong thơ Hồ Xuân Hƣơng và
Phạm Thái từ góc độ đối sánh là một đề tài mới lạ, chƣa có tác giả nào đề cập
và nghiên cứu. Hầu hết các tác giả mới chỉ đi từ góc độ đơn lẻ, riêng biệt và
chƣa chuyên sâu. Có thể kể đến một vài công trình nhƣ:
Phạm Trọng Chánh trong Hồ Xuân Hương với Phật giáo đã đƣa ra quan
điểm của mình về những bài thơ viết về mảng chùa chiền của Hồ Xuân
Hƣơng đặc biệt là những bài thơ nằm trong tập “Lưu hương kí”, ông đã lên
tiếng ca ngợi vốn hiểu biết học Phật sâu rộng của Xuân Hƣơng.
Đỗ Lai Thúy nhà nghiên cứu chuyên sâu về Xuân Hƣơng trong cuốn Hồ
Xuân Hươn - hoài niệm phồn thực phồn thực đã dùng lí lẽ và dẫn chứng của

trích “cảnh chùa chiền”.
Trong Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam (1997), Nxb
Giáo dục, Tp. HCM của tập thể tác giả Nguyễn Hữu Sơn, Trần Đình Sử,
Huyền Giang, Trần Ngọc Vƣơng, Trần Nho Thìn, Đoàn Thị Thu Vân có
những nhận định về tác phẩm Sơ kính tân trang nhƣ nói về ngoại hình nhân
vật, cách miêu tả thiên nhiên đẹp.
Kế thừa những công trình đi trƣớc và qua quá trình nghiên cứu tìm hiểu
ngƣời viết đã triển khai đề tài này.
3. Mục đích nghiên cứu
Mong muốn có cái nhìn hệ thống khách quan về hiện thực xã hội Phật
giáo đƣơng thời trong những sáng tác của hai tác giả.
4

Tìm ra những điểm nổi bật trong phong cách sáng tác của hai nhà thơ,
qua đó khẳng định tài năng, những đóng góp quan trọng của hai nhà thơ đối
với nền văn học Việt Nam.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với đề tài “Hình ảnh nhà chùa trong sáng tác của Hồ Xuân Hƣơng và
Phạm Thái” nhiệm vụ nghiên cứu của chúng tôi là:
Làm sáng tỏ hình ảnh nhà chùa từ góc nhìn phồn thực Hồ Xuân Hƣơng
và góc nhìn tả thực Phạm Thái.
Giúp ngƣời đọc thấy đƣợc những nét chung và riêng cũng nhƣ sự độc
đáo của từng tác giả.
5. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
1.1 . Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu là “hình ảnh nhà chùa” trong sáng tác của Hồ
Xuân Hƣơng và Phạm Thái.
1.2 . Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài này, đứng từ góc độ nội dung tƣ tƣởng ngƣời viết
đi vào nghiên cứu các sáng tác thơ về mảng chùa chiền của Hồ Xuân Hƣơng

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Thuật ngữ
Theo Từ điển Tiếng Việt, “nhà chùa” đƣợc giải thích là “Nơi thờ Phật
hoặc những ngƣời tu hành theo đạo Phật (đây là cách nói khái quát )”.
Nhƣ vậy, thuật ngữ “nhà chùa” đƣợc dùng để chỉ không gian, cảnh sắc
nơi thờ Phật và chỉ con ngƣời - những con ngƣời tu hành theo đạo Phật cũng
nhƣ thiện nam tín nữ mến mộ tôn giáo này. Ở luận văn này chúng tôi sử dụng
thuật ngữ “nhà chùa” với ý nghĩa nói trên và mở rộng đến cả quang cảnh sinh
hoạt và mọi nhân vật gắn với nhà chùa.
1.2. Tình hình xã hội và văn hóa Phật giáo trong giai đoạn thế kỉ XVIII
đến nửa đầu thế kỉ XIX
Phạm Thái và Hồ Xuân Hƣơng sống vào khoảnh nửa cuối thế XVIII đầu
thế kỷ XIX. Đây là thời kỳ chế độ phong kiến Việt Nam rơi vào tình trạng
khủng hoảng trầm trọng, đó là sự thay thế liên tục các triều đại phong kiến mà
Phạm Thái từng tổng kết:
Ba mƣơi tuổi lẻ là bao nả
Năm sáu đời vua khéo chóng ghê!
Những mâu thuẫn chất chứa trong lòng xã hội phong kiến đến giai đoạn
này đã trở nên gay gắt. Đó là mâu thuẫn trong nội bộ giai cấp thống trị, mâu
thuẫn giữa nhân dân với giai cấp phong kiến. Giai cấp thống trị lúc này chỉ
lao vào ăn chơi sa đọa không quan tâm đến công việc triều chính, không chăm
chút đến cuộc sống nhân dân chỉ tranh giành chém giết lẫn nhau. Vua tôi lẫn
7

lộn, cƣơng thƣờng đảo ngƣợc, mọi giá trị văn hóa đều bị đứt tung. Nho giáo là
sợi dây cố kết xã hội cũng bị lung lay đến tận gốc rễ, những giáo điều khắt
khe không còn đủ sức giam hãm con ngƣời trong những khuôn khổ chặt hẹp,
càng không đủ sức dập tắt hoặc làm yếu đi cả một trào lƣu tƣ tƣởng mới, đòi
hỏi những quan hệ dễ thở hơn, những tình cảm tự do hơn giữa ngƣời và

không áy náy. Nhất là ở Nam kỳ lại càng hổn độn hơn nữa ”. Phần đông tăng
đồ chỉ nghĩ đến danh vọng, chức tƣớc: xin bằng Tăng cang, Trụ trì, Sắc tứ
v.v…hay chỉ biết cúng cấp, cầu đạo , phù chú, làm tay sai cho các vua chúa,
quan quyền, phú hộ để làm kế sinh nhai. Còn một hạng nữa, chỉ giữ mình cho
đƣợc thanh nhàn, ăn chơi tiêu khiển, bảo là giải thoát v.v ! “Bởi vậy, các
cảnh chùa trong nƣớc đã thành cảnh gia đình riêng, không còn gì là tính cách
đoàn thể của một tôn giáo nữa. Họ sống trong Phật Giáo hầu hết chỉ còn là
“dốt” và “quên”! “Quên” để khỏi phải biết đến bổn phận bổn phận chân chính
của một tăng đồ. “Ở trong tăng đồ thì nhƣ vậy, ở ngoài tín đồ cƣ sĩ thì ngơ
ngác, mù lòa tin bƣớng, theo càn, ít ai là ngƣời hiểu đạo lý.”
Trong bối cảnh đó, bọn sƣ mô núp bóng cửa chùa đều làm những điều
xấu xa, giả tạo… Bộ mặt xã hội đƣơng thời đã tác động mạnh mẽ đến đời
sống văn học, cũng chính là tiền đề để Xuân Hƣơng và Phạm Thái vạch trần,
bóc mẽ những thói hƣ, tật xấu, những bộ mặt giả nhân, giả nghĩa diễn ra nhan
nhản ngay trong cuộc đời. Nói nhƣ Bêlinxki: “Văn thơ nào không có gốc rễ
trong thực tế đương thời, văn thơ nào không rọi sáng vào thực tế khi lí giải nó
thì chỉ là một sự vô công rồi nghề, chỉ là một lối đốt thời gian một cách vô tội
vạ nhưng hão huyền, chỉ là một trò chơi trẻ con, chỉ là công việc của những
người trống rỗng”. Và lẽ dĩ nhiên các nhà thơ không lãng phí thời gian của
mình vào những việc “vô công rồi nghề ”, sáng tác của Hồ Xuân Hƣơng và
Phạm Thái thực sự không chỉ mang giá trị văn học mà còn là những ấn phẩm
sâu sắc làm nên tên tuổi của những thi sĩ này.
9

1.3. Cuộc đi và sự nghiệp sáng tác của Hồ Xuân Hƣơng v Phạm Thái
1.3.1. Tác giả Hồ Xuân Hương
Cuộc đời và con ngƣời Hồ Xuân Hƣơng chủ yếu lƣu truyền bằng các giai
thoại và ngoài sách sử. Chính vì vậy cho đến nay, giới nghiên cứu vẫn chƣa
có kết luận thống nhất, chính xác về cuộc đời nữ sĩ. Năm sinh, năm mất của
bà chỉ là ƣớc đoán theo phƣơng pháp loại trừ hay so sánh với một số tác giả,

bằng chữ quốc ngữ là năm 1893. Số lƣợng những bài thơ của Hồ Xuân
Hƣơng cứ mỗi lần tái bản lại không trùng khớp nhau. Lần đầu tiên đƣợc in
trên dƣới 60 bài. Đến thập kỉ 30 của thế kỉ XX lên tới hơn 100 bài. Thực trạng
hiện thời cũng khá phức tạp. Tùy theo ngƣời biên soạn mà thơ ca Hồ Xuân
Hƣơng có số lƣợng không giống nhau. Trong sự nghiệp nghệ thuật, Hồ Xuân
Hƣơng sáng tác cả chữ Nôm và chữ Hán.
Văn bản thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hƣơng là vấn đề mà giới nghiên
cứu, phê bình văn học còn nhiều ý kiến tranh cãi và tiếp tục tìm hiểu. Theo
Đào Thái Tôn, văn bản thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hƣơng đƣợc thu thập
từ ba nguồn gốc :
- Các văn bản chép tay
- Các văn bản khắc ván chữ Nôm
- Các văn bản in chữ quốc ngữ
Theo Nguyễn Lộc “Hồ Xuân Hƣơng nổi tiếng với những sáng tác bằng
chữ Nôm. Về số thơ Nôm lâu nay nói là của bà, tổng cộng chừng 50 bài
nhƣng trong số đó chắc chắn còn lẫn bài của một số ngƣời khác”.
Nhà nghiên cứu Trần Thanh Mại ƣớc chừng số lƣơng thơ Nôm truyền
tụng của Hồ Xuân Hƣơng cũng khoảng 50 bài.
Từ những nghiên cứu khảo sát của giới nghiên cứu, chúng tôi thấy số
lƣợng những bài thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hƣơng vẫn chƣa có kết
11

luận thống nhất và chính xác cuối cùng. Song số lƣợng gần 50 bài đƣợc đa số
giới yêu thích thơ ca nữ sĩ chấp nhận.
Vấn đề Hồ Xuân Hƣơng còn là một nhà thơ chữ Hán đƣợc đặt ra một
cách sôi nổi bắt đầu từ năm 1963 - 1964.
Trên báo Văn học, số 242 và 243 ngày 15 và ngày 21/3/1963, nhà
thƣ tịch Trần Văn Giáp đã giới thiệu với bạn đọc về sự hoài nghi của ông
trong bài “Đồ Sơn bát Vịnh - thơ chữ Hán của Hồ Xuân Hƣơng?” Đó là
tám bài thơ vịnh cảnh Đồ Sơn. Ông đã tự hỏi: “Không biết có phải của

Nhƣ vậy, giống nhƣ văn bản thơ chữ Nôm, văn bản thơ chữ Hán Hồ
Xuân Hƣơng cũng chƣa có kết luận cuối cũng về số lƣợng. Khóa luận của
chúng tôi xin tìm hiểu những bài thơ viết về mảng chùa chiền của Hồ
Xuân Hƣơng.
1.3.2. Tác giả Phạm Thái
Ông sinh ngày 19 tháng riêng năm Đinh Dậu (26 tháng 2 năm 1777) tại
làng Yên Thị, xã Yên Thƣờng, tổng Xuân Dục, huyện Đông Ngàn, phủ Từ
Sơn, trấn Kinh Bắc (nay thuộc huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội). Phạm
Thái còn có tên gọi là Phạm Phƣợng Sinh tự là Đan Phƣợng, hiệu là Chiên
Lỳ, đạo hiệu là Phổ Chiêu thiền sƣ.
Ông là con trai Trạch trung hầu Phạm Đạt, một võ tƣớng cao cấp đời
Cảnh Hƣng, đã khởi chống Tây Sơn nhƣng thất bại. Phạm Thái mồ côi mẹ từ
thủa nhỏ. Lớn lên học cả văn lẫn võ để ứng phó với thời đại loạn ly mà ông
đã trải qua.
Nối chí cha, năm 20 tuổi, Phạm Thái đi ngao du nhiều nơi để tìm và kết
giao với nững ngƣời cùng chí hƣớng. Ông học Phổ Tỉnh thiền sƣ
(Trƣơng Quang Ngọc), Nguyễn Đoàn rồi cũng nhau chống Tây Sơn nhƣng
không thành bị truy nã, ông cắt tóc, đội lốt nhà sƣ, vào tự ở chùa Tiêu Sơn
13

(Kinh Bắc), lấy đạo hiệu là Phổ Chiêu thiền sƣ đi tu đƣợc mấy năm thì bạn
ông là Thanh xuyên hầu Trƣơng Đăng Thụ (ngƣời làng Thanh Lê, thuộc
huyện Kiến Xƣơng, trấn Sơn Nam nay thuộc tỉnh Thái Bình) đang làm quan ở
Lạng Sơn cho ngƣời đón ông lên đấy tính chuyện phù Lê.
Một năm sau ông trở về kinh Bắc thăm nhà thì đƣợc tin Trƣơng Đăng
Thụ mất. Phạm Thái liền đến làng Thanh Lê điếu tang bạn, rồi đƣợc cha bạn
là Kiến Xƣơng hầu lƣu lại. Tại đây, Phạm Thái cùng em gái bạn là
Trƣơng Quỳnh Nhƣ, xƣớng họa thơ văn rồi thầm yêu nhau. Cảm phục tài thơ
của Phạm Thái Kiến Xƣơng hầu định gả con cho ông nhƣng ngƣời mẹ không
bằng lòng vì muốn ép gả cho một gƣời giàu có trong làng. Bị ép gả,

Thái trong đó phân làm hai bảng (Xem ở phụ lục).
Theo khảo sát của chúng tôi dựa trên các tác phẩm in trong cuốn
Hồ Xuân Hương thơ và đời do Lữ Huy Nguyên tuyển chọn và giới thiệu, Nxb
văn học (2008) thì số lƣợng những bài thơ viết về chùa chiền trong sáng tác
của Hồ Xuân Hƣơng là:
- Trong thơ Nôm truyền tụng có 14/50 bài (chiếm 28%).
- Trong Hƣơng Đình Cổ nguyệt thi tập có 2/9 bài (chiếm 22.2%).
- Trong Lƣu hƣơng kí có 7/24 bài thơ (chiếm 29.1%).
- Trong tổng 23 bài thơ ấy có 11 bài thơ (chiếm 47.8%) viết về nhà chùa
dƣới cái nhìn phồn thực 12 bài thơ còn lại (chiếm 52.2%) viết về nhà chùa
trong tâm thế ngƣời vãn cảnh.
Phạm Thái, Sơ kính tân trang (1960), Nxb Văn hóa của Lại Ngọc Cang
là công trình khảo dị và hiệu đính rất công phu về tác phẩm Sơ kính tân trang
và các sáng tác khác của Phạm Thái. Chúng tôi xin thống kê những tác phẩm
viết về nhà chùa của Phạm Thái theo cuốn này:
15

- Có 8/16 bài thơ (chiếm 50%).
- Trong đó có 2/8 bài thơ (chiếm 25%) viết về nhà chùa dƣới con mắt hiện
thực và số còn lại là những bài thơ đƣợc viết trong tâm thế ngƣời vãn cảnh.
Qua quá trình thống kê tôi thấy số lƣợng những bài thơ viết về chùa chiền
của Hồ Xuân Hƣơng và Phạm Thái tƣơng đối nhiều, điều đó cho thấy sự quan
tâm của hai nhà thơ đối với đề tài này. Thông qua những bài thơ ấy Xuân Hƣơng
và Phạm Thái đã để lại cho đời sau những kho tàng văn hóa đặc sắc, những nét
vẽ truyền thần và cả hiện thực xã hội Phật giáo đƣơng thời. Tuy nhiên mỗi nhà
thơ lại đi bằng con đƣờng nghệ thuật riêng của mình. Để tìm hiểu những nét
phong cách nghệ thuật riêng ấy, để khám phá xem hai nhà thơ muốn nói gì và
phản ánh gì trong tiếng thơ của mình, chúng tôi sẽ giới thiệu trong phần sau.

16

tƣợng phồn thực trong thơ Hồ Xuân Hƣơng đƣợc độc giả cảm thông và tiếp
nhận một cách dễ dàng đặc biệt là mảng đề tài về chùa chiền không chỉ vì trên
nền một cộng cảm chung, mà bởi hình ảnh nhà chùa đƣợc Hồ Xuân Hƣơng
đƣa vào thơ một cách sống động, gần gũi và hết sức tự nhiên. Bằng ngôn ngữ
tuyệt vời của mình, nhà thơ đã nói ra điều đó, tức thức hữu hóa cái vô thức,
hiển minh hóa cái còn tù mù trong độc giả.
Xuân Hƣơng luôn gây chú ý bởi sự kết hợp hài hòa giữa ngôn ngữ và
hình ảnh một cách tài tình, độc đáo. Tất cả các hình ảnh trong thơ Nôm truyền
tụng của bà dù là trực tiếp hay gián tiếp, đều khiến ngƣời ta liên tƣởng tới nét
nghĩa ngầm trên nền tảng của hiện thực, một mặt Xuân Hƣơng phác họa hình
ảnh nhà chùa nguyên sơ dƣới góc nhìn của mình mặt khác Xuân Hƣơng lại
khéo léo phô ra điều mình muốn giãi bày mà chẳng cần phải đích thân điểm
mặt, chỉ tên. Đơn cử nhƣ những bài thơ viết về các hang động. Vốn biết rằng
hang động hầu hết là những nơi thờ Phật - là chốn linh thiêng nên khi đọc
những bài thơ của bà, ta nhận thấy cái thiêng luôn đƣợc đặt dƣới góc nhìn
phồn thực. Nhƣ nhiều nhà nghiên cứu đánh giá, đây không hẳn là sự đả kích
tôn giáo hoặc “hạ bệ”, “giải thiêng” mà là đƣa đạo Phật trở về với thời xa xƣa
thủa nó còn gắn chặt với tín ngƣỡng phồn thực. Cả hai nghĩa này đều rất
đúng, không thể tách rời nhau đƣợc và nhƣ Đỗ Lai Thúy nhận xét: “Đặc trƣng
thơ Hồ Xuân Hƣơng trong đó thanh cũng rất thanh, nhƣng cũng bắt buộc dẫn
ngƣời ta đến những cái rất tục một cách thú vị…” [ tr 11; 13]. Thật vô vị khi
nghĩ rằng Hang Cắc Cớ, Hang Thanh Hóa, Động Hương Tích hay Kẽm
Trống, Đèo Ba Dội, Qua Cửa Đó… chỉ là những bài thơ tả cảnh. Đây là bức
tranh nơi Cắc Cớ :
18

Trời đất sinh ra đá một chòm,
Nứt làm hai mảnh hỏm hòm hom.
Kẽ hầm rêu mốc trơ toen hoẻn,
Luồng gió thông reo vỗ phập phòm.

tụng của bà. Trong bài Động Hương Tích Xuân Hƣơng cũng dùng cách thức
này để nói đến cái nghĩa lấp lửng phía sau một cách thú vị, dùng đối tƣợng
này để nói đến vấn đề kia. Cứ nhƣ thế qua bề mặt câu chữ ta hình dung ra một
động Hƣơng Tích:
Bày đặt ai kia khéo khéo phòm!
Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom
Ngƣời quen cõi phật chen chân xọc
Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt dòm
Giọt nƣớc hữu tình rơi thánh thót
Con thuyền vô trạo cúi lom khom
Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại
Rõ khéo trời già đến dở dom
(Động Hương Tích)
Cái động ấy dƣờng nhƣ là do ai đó cố “bày đặt” đầy dụng ý. Động
Hƣơng Tích mở ra nhƣ một “lỗ”, “nứt”, “hỏm hòm hom”. Mọi thứ nguyên sơ
của cửa động đƣợc miêu tả đầy ý vị. Bầu tiên lạ lùng trƣớc mắt kẻ trần tục
khiến con ngƣời cứ “mỏi mắt dòm” không thôi. Rồi “giọt nước hữu tình”,
“con thuyền vô trạo”,… mọi thứ đặt kề cận bên nhau nhƣ một cõi “lâm tuyền
phồn hoa” hấp hẫn. Đã thế, nhà thơ lại bỏ lửng vào đó một lời trách thật đáng
yêu “Rõ khéo trời già đến dở dom”. Tại sao lại có lời trách đáng yêu đầy chất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status