hình tượng nam nhi trong sáng tác của trương hiền lượng - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Bùi Thị Mỹ Linh

HÌNH TƯỢNG NAM NHI TRONG
SÁNG TÁC CỦA TRƯƠNG HIỀN LƯỢNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Bùi Thị Mỹ Linh

HÌNH TƯỢNG NAM NHI TRONG
SÁNG TÁC CỦA TRƯƠNG HIỀN LƯỢNG

Chuyên ngành : Văn học nước ngoài
Mã số

: 60 22 02 45
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS. ĐINH PHAN CẨM VÂN



MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 1
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 2
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
DẪN NHẬP .................................................................................................................. 5
1. Lí do chọn đề tài.............................................................................................................. 5
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................................. 5
3. Đối tượng nghiên cứu ..................................................................................................... 8
4. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................................ 8
5. Mục đích nghiên cứu ...................................................................................................... 8
6. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................... 9
7. Đóng góp của luận văn ................................................................................................... 9
8. Cấu trúc của luận văn .................................................................................................... 9

CHƯƠNG 1: TRƯƠNG HIỀN LƯỢNG VÀ VĂN HỌC THỜI KÌ “ĐẠI CÁCH
MẠNG VĂN HÓA”................................................................................................... 11
1.1. Xu hướng đổi mới của văn học đương đại Trung Quốc ........................................ 11
1.2. Nhà văn Trương Hiền Lượng và cuộc Đại cách mạng văn hóa............................. 14
1.3. Cơ sở hình thành loại hình nhân vật ....................................................................... 18
1.4. Chân dung người nam nhi trong tiểu thuyết của Trương Hiền Lượng ............... 22

CHƯƠNG 2: HÌNH TƯỢNG NAM NHI VỚI VẺ ĐẸP TÂM HỒN VÀ BI KỊCH
TINH THẦN .............................................................................................................. 25
2.1. Người nam nhi với vẻ đẹp tâm hồn .......................................................................... 25
2.1.1. Người nam nhi giàu cá tính ..................................................................................25
2.1.2. Người nam nhi giàu khát vọng .............................................................................30
2.2. Những bi kịch tinh thần ............................................................................................ 39
2.2.1. Bi kịch bản năng ...................................................................................................39
2.2.2. Bi kịch lí tưởng .....................................................................................................46

nhiều khởi sắc, đạt được nhiều thành tựu. Nhà văn phản ánh cuộc sống với cái nhìn
đa diện, đa chiều bởi cuộc sống vốn phức tạp, bề bộn nhiều niềm vui và nước mắt.
Nhiều nhà văn Trung Quốc đã được độc giả Việt Nam biết đến như Mạc
Ngôn, Giả Bình Ao, Phùng Kí Tài, Thiết Ngưng… Một trong những gương mặt góp
phần làm rực rỡ nền văn học đương đại Trung Quốc là Trương Hiền Lượng.
Vấn đề nam nhi lại được đặt ra mạnh mẽ ở đất nước Trung Hoa. Trong mối
quan hệ phương Đông và phương Tây, ở phương Đông vai trò của người nam nhi lại
có phần gánh nặng hơn về trách nhiệm với gia đình, xã hội. Qua ngòi bút tài hoa của
Trương Hiền Lượng, ông vừa kế thừa những quan niệm cũ vừa đặt ra nhiều vấn đề có
tính đột phá qua hình tượng người nam nhi. Ông đặc biệt đi sâu khai thác kiểu người
nam nhi trí thức, số phận của họ thăng trầm cùng số phận lịch sử.
Tác phẩm của nhà văn Trương Hiền Lượng được dịch ra tiếng Việt nhiều
nhưng hầu như chỉ được tiếp cận ở góc độ dịch mà ít nghiên cứu.
Xuất phát từ những lí do trên, người viết nghiên cứu tác giả Trương Hiền
Lượng với một khía cạnh nổi bật thuộc nội dung tác phẩm, đó là hình tượng nam nhi
nhằm thỏa mãn niềm say mê của bản thân và phục vụ thiết thực cho công tác giảng
dạy. Chúng tôi hi vọng mở ra một hướng tiếp cận khoa học về sáng tác của Trương
Hiền Lượng, một nhà văn tài năng trong nền văn học đương đại Trung Quốc.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Có rất ít công trình nghiên cứu tiểu thuyết Trương Hiền Lượng. Ở đây, chúng
tôi xin tổng hợp những bài nghiên cứu và chia lịch sử nghiên cứu về tác giả Trương
Hiền Lượng thành hai nhóm vấn đề lớn như sau:
* Những công trình nghiên cứu Trương Hiền Lượng ở Trung Quốc
Viết về văn học đương đại Trung Quốc, có rất nhiều bài nghiên cứu như:
nghiên cứu của Vương Khánh Sinh trong Trung Quốc đương đại văn học, nghiên
5


cứu của Hồng Tử Thành trong Trung Quốc đương đại văn học sử, nghiên cứu của
Trần Tư Hòa trong Trung Quốc đương đại văn học sử giáo trình,…

◊ Luận văn Thạc sĩ “Tính triết lí và trữ tình trong tiểu thuyết của Trương Hiền
Lượng” (Đại học KHXH và NV Hà Nội năm 2012), Hoàng Thị Lan làm rõ triết lí về
cái đói và sự tồn tại, triết lí giữa tự do và kìm kẹp, triết lí giữa sự sống và cái chết.
Tuy nhiên, luận văn này người viết chỉ tập trung đi vào nghiên cứu “Tính triết lí – trữ
tình” qua hai tác phẩm Cây hợp hoan và Một nửa đàn ông và đàn bà. Người viết
chưa đi khai thác hình tượng nam nhi được nhà văn Trương Hiền Lượng thật sự chú
ý.
◊ Bài đăng trên online http://vietnamese.cri.cn ngày 16 tháng 12 năm 2010,
giới thiệu về cuộc đời, sự nghiệp của nhà văn Trương Hiền Lượng. Ông đã bày tỏ
những trăn trở: “Tôi cảm thấy rất tự hào, vì tôi cùng vận mệnh với dân tộc Trung Hoa
cũng đang gặp trắc trở, hơn nữa lúc đó ngoài tôi ra nhiều công nhân, nông dân, cán
bộ và tri thức gặp phải chuyện tan cửa, nát nhà, lạc vợ, xa con, mất tự do, thậm chí
mất tính mạng, tôi vẫn phải coi là người may mắn sống sót”. Chính vì vậy, bằng ngòi
bút tài hoa của mình, ông đã ghi lại một cách chân thật một thời kì lịch sử để lại nhiều
đau thương không chỉ trên bản thân người thi sĩ mà còn cả dân tộc Trung Hoa.
◊ Bài đăng trên báo văn nghệ trẻ, ông trả lời phỏng vấn: “Tôi là một người đi
bán đảo hoang”, Trương Hiền Lượng đã biến đống hoang tàn đổ nát trở nên đậm nét
văn hóa của dân tộc mình. Trong quá trình ông làm kinh doanh, đầu tư xây dựng
thành phố điện ảnh Trấn Bắc Bảo cũng là quá trình thâm canh tác phẩm của ông sau
này. Trương Hiền Lượng được xếp vào 100 nhà văn có ảnh hưởng ở thế kỉ XX.
◊ Bài phỏng vấn trên báo Thể thao văn hóa, Trương Hiền Lượng là một trong
mười người Trung Quốc được công nhận là nhân vật văn hóa kiệt xuất vào năm 2004.
Trong bài trả lời phỏng vấn, ông đã đưa ra ý kiến của mình về việc sáng tác văn học
Trung Quốc hiện nay: “Nữ nhi viết cũng tốt, nam nhi viết cũng hay. Tôi cho rằng
hiện nay đã bước vào giai đoạn tự do sáng tác, đây là biểu hiện cụ thể của sự chuyển
đổi quĩ đạo văn hóa Trung Quốc”.
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu về nhà văn Trương Hiền Lượng và
tác phẩm của ông ở Việt Nam còn khá ít. Vì vậy, chúng tôi muốn đi nghiên cứu sáng
tác Trương Hiền Lượng với một khía cạnh nổi bật trong tác phẩm của ông, đó là hình
tượng nam nhi.

phát triển của văn học nghệ thuật đương đại Trung Quốc.
8


6. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên
cứu sau:
Phương pháp hệ thống: Phương pháp này giúp chúng tôi đặt đối tượng nghiên
cứu trong một hệ thống để thấy được tính toàn diện.
Phương pháp lịch sử - xã hội học: Đặt đối tượng nghiên cứu vào một bối cảnh
xã hội để nghiên cứu, tránh xa rời thực tiễn. Mặc dù sáng tác văn học phải có sự hư
cấu, tuy nhiên có thể nói hơn ai hết Trương Hiền Lượng đã ghi lại một cách rất chân
thực những gì mà bản thân ông đã trải nghiệm trong thời Đại cách mạng văn hóa.
Phương pháp phân tích tổng hợp: Chúng tôi trực tiếp khảo sát văn bản, từ đó
phân tích để đưa ra những luận điểm tổng hợp khái quát.
Phương pháp so sánh: Đặt hình tượng nam nhi trong mối quan hệ với các kiểu
nhân vật khác trong sáng tác của Trương Hiền Lượng.
Phương pháp miêu tả: Dùng cách thức miêu tả, kể chyện để tái hiện lại những
sự kiện, tình tiết mang tính triết lí trong tác phẩm.
Phương pháp phê bình tiểu sử: Phương pháp này giúp chúng tôi có cái nhìn cụ
thể hơn về những tác động từ cuộc đời của nhà văn Trương Hiền Lượng lên hình
tượng người nam nhi trong tác phẩm.
7. Đóng góp của luận văn
Nghiên cứu “Hình tượng nam nhi trong sáng tác của Trương Hiền Lượng”,
chúng tôi hi vọng sẽ góp phần nhỏ để giới thiệu hình tượng nam nhi, một chân dung
mới mẻ, đặc sắc trong sáng tác của ông. Đồng thời cũng cho thấy những đóng góp
của nhà văn cho sự nghiệp văn học Trung Quốc.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương.
Chương 1: Nhà văn Trương Hiền Lượng và văn học thời kì Đại cách mạng văn

Cuộc Đại các mạng văn hóa kết thúc vào năm 1976, văn học Trung Quốc đi
vào thời kì nở rộ, đạt được nhiều thành tựu xuất sắc. Đặc biệt từ sau năm 1976 đến
năm 1982, những Đảng viên cộng sản được sự ủng hộ của quần chúng nhân dân đã
kiên quyết chống lại bọn “bè lũ bốn tên” từng làm khuynh đảo văn đàn Trung Quốc
một thời. Đất nước đã thoát ra khỏi cuộc Đại cách mạng văn hóa, đưa xã hội Trung
Quốc từ thời trung cổ tối tăm, dần dần được hồi sinh, người dân dần dần quay trở về
với cuộc sống bình thường, mọi suy nghĩ của con người được giải phóng. Tháng 5
năm 1978, Đại hội mở rộng lần thứ III của Hội lien hiệp văn học nghệ thuật Trung
Quốc khóa 3, khôi phục hội văn liên, Hội nhà văn Trung Quốc và các Hội nhà văn
địa phương… Cùng với đường lối “bốn hiện đại hóa” theo đường lối, tư tưởng của
Đặng Tiểu Bình, văn học đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ.
Văn học đương đại Trung Quốc xuất hiện nhiều trào lưu tiểu thuyết mới: dòng
“văn học tiên phong”, dòng “văn học tả thực”, dòng “siêu thực”, dòng “hiện đại chủ
nghĩa”… nhưng đáng chú ý là dòng “văn học vết thương” và “văn học phản tư” góp
phần mở ra một thời kì nở rộ cho văn đàn đương đại Trung Quốc.
11


Thế hệ nhà văn xuất hiện sau cuộc Đại cách mạng văn hóa làm nên diện mạo
nền văn học Trung Quốc. Hơn ai hết, thế hệ nhà văn này là những nạn nhân, chịu
nhiều đau khổ, bị bức hại tàn khốc trong những năm tháng rối ren, loạn lạc nhưng họ
là những người mẫn thế, dám nghĩ, dám làm. Họ không phủ định hiện thực bằng
những lí thuyết dối trá “tô hồng” hay chủ trương “hai kết hợp”, tức là kết hợp “Chủ
nghĩa hiện thực cách mạng” với “Chủ nghĩa lãng mạn cách mạng”. Những lớp nhà
văn này thẳng thắn nhìn thẳng vào hiện thực đau khổ, không né tránh, vạch trần tội
lỗi của bọn “bè lũ bốn tên”, vạch trần những tàn dư xấu xa trong xã hội. Thế hệ nhà
văn này rất đông đảo: Trương Hiền Lượng, Lưu Tâm Vũ, Mạc Ngôn, Lưu Hằng, Giả
Bình Ao, Phùng Kí Tài, Thẩm Dung…
Lớp nhà văn này đã tạo ra dòng “Văn học vết thương”, tố cáo một cách trực
diện tính chất vô nhân đạo của cuộc Đại cách mạng văn hóa, triệt để phê phán những

phản tư”. Dựa trên “Quyết nghị của Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc về các
vấn đề lịch sử từ ngày dựng nước đến nay” (1981), các nhà văn có cơ sở để lí giải
những vấn đề khó nói, có điều kiện chạm đến những “vùng cấm” mà xưa không được
mô tả. Không dừng lại ở việc mổ xẻ vết thương, nghiêng về phơi bày những đau khổ
trong những năm tháng động loạn, dòng “văn học phản tư” hướng về việc truy tìm
căn nguyên của nỗi đau khổ, đi tìm những khuất mắc chưa có lời giải đáp, chỉ ra
nguyên nhân đã đưa đất nước Trung Hoa đi tới bờ vực thẳm. Dòng “văn học phản tư”
nhìn nhận lại luồng gió “tả khuynh”, những sai lầm trong đường lối “Đại nhảy vọt”,
“Chống phái hữu”, “Cuộc đấu tranh chống phái đi theo con đường Tư Bản”… Hầu
hết các tiểu thuyết thuộc dòng văn học này đều thể hiện mong muốn mọi người hãy
suy nghĩ lại một cách thấu đáo, cặn kẽ lịch sử để bi kịch không bao giờ tái diễn trên
đất nước Trung Hoa. Những tác phẩm tiêu biểu: Câu chuyện bị cắt xén lầm của Như
Chí Quyên, Cây hợp hoan củaTrương Hiền Lượng, Truyền kì núi Thiên Vân của Lê
Ngạn Chu…
Bước sang thế kỉ XX, người ta nhận thấy văn học Trung Quốc đang có phần
nghiêng về khuynh hướng hiện đại của phương Tây, tiểu thuyết đang có một hướng
đi mới. Cách khai thác bằng những thủ pháp mới của dòng ý thức từ Hemingway,
William Faulkner, Borge… đi sâu khám phá nội tâm con người đã ảnh hưởng rất lớn,
chi phối cách viết của các nhà văn đương đại Trung Quốc. Các nhà văn trẻ hào hứng
đón nhận những thuyết hiện đại và hậu hiện đại. Từ Vương Mông, Trương Hiền
Lượng, Dư Hoa, Thiết Ngưng… đều đi sâu khai thác nội tâm của con người theo kĩ
13


thuật của văn học phương Tây. Một xã hội tồn tại như một mớ hỗn độn, con người
luôn mang tâm thế hoang mang, bất ổn, luôn loay hoay tìm mặt này rồi mặt khác để
hiểu bản thân mình. Đó cũng chính là sự gặp gỡ nhau ở những tác phẩm Cây hợp
hoan, Một nửa đàn ông là đàn bà, Thành phố không mưa, Thị trấn phù dung… Văn
học còn hướng tới khôi phục giá trị đích thực của con người, đề cao tính người như
Chủ nhiệm lớp của Lưu Tâm Vũ, Hồ Điệp của Vương Mông, Cây hợp hoan, Một nửa

Đông ngày càng muốn khẳng định quyền lực chính trị của mình trong Đảng so với
đối thủ Lưu Thiếu Kỳ và loại bỏ những bất đồng ý kiến như Đặng Tiểu Bình, Bành
Đức Hoài…
Đây là một sự kiện lịch sử lớn tác động đến tất cả mọi giai tầng trong xã hội,
đặc biệt trừng phạt và cô lập giới tri thức, giam cầm họ trong một thứ tù không kì
hạn, mất hẳn sự tự do. Cuộc Đại cách mạng văn hóa đã làm đảo lộn mọi thang bậc,
giá trị trong xã hội.
Một xã hội tràn ngập không khí khủng bố, thất điên bát đảo, một xã hội bao
trùm sự ngột ngạt lên mọi người, hiện lên từng khuôn mặt của người đi tố giác, kẻ bị
tố giác, người đi tù, kẻ coi tù, tù đàn ông, tù đàn bà, đi đâu cũng đấu tố, con người bị
đọa đày với những suy tư, vật vã và nhiều trăn trở.
Đại cách mạng văn hóa đã tác động đến mọi giai tầng trong xã hội, từ những
người bần nông ít học đến những người tri thức, từ đàn ông, đàn bà đến người già,
người trẻ, tất cả đều bị cuốn vào những phong trào đấu tố, xét lại… khi nhìn vào đó
người ta thấy rất rõ những sai lầm đến mức ấu trĩ.
Nhà văn Trương Hiền Lượng là một trong những gương mặt tiêu biểu của nền
văn học đương đại Trung Quốc. Trương Hiền Lượng sinh năm 1936 tại Nam Kinh,
quê ở Giang Tô. Ông tốt nghiệp trường trung học năm 1954 vào 18 tuổi. Khi người
cha mất, ông trở thành người đàn ông trụ cột trong gia đình. Ông cùng mẹ và em gái
rời khỏi Nam Kinh đến Ngân Xuyên, Ninh Hạ làm giáo viên trường văn hóa cán bộ.
Mảnh đất Ninh Hạ đã thu hút chàng trai trẻ, là nơi ươm mầm tài năng nhà văn
Trương Hiền Lượng. Tại đây, ông bắt đầu sáng tác, ông nghĩ “viết văn là cách tốt
nhất để bộc lộ suy nghĩ của mình”. Không bao lâu, ông đã trở thành một nhà thơ tiêu
biểu, nổi tiếng ở Trung Quốc.
Năm 1957, bài thơ Đại phong ca in trên nguyệt san Diên Hà, đã thể hiện sự
hăng hái, nhiệt huyết của tuổi thanh niên, thu hút sự quan tâm mạnh mẽ của dư luận
15


nhưng cũng chính bài thơ này, Trương Hiền Lượng bị chụp mũ “hữu phái”, bị đem ra



rõ ràng trọn vẹn một nước Trung Quốc ngày ấy, ngột ngạt không thể chịu đựng mãi
được, buộc con người phải thay đổi. Mỗi câu chuyện không chỉ là một cảnh đời mà
còn là vận mệnh của một đất nước với ý nghĩa triết học, xã hội lớn lao: “Nếu khi tôi
mới bắt đầu viết tiểu thuyết, chỉ phản ánh số phận cá nhân tôi, thì tác phẩm không có
giá trị lịch sử lớn, cũng không có sự đóng góp lớn cho xã hội. Nhưng, tác phẩm của
tôi đã phản ánh trắc trở của dân tộc Trung Hoa chúng ta trong hơn 20 năm”. Ông luôn
trăn trở, suy nghĩ về một thời kì lịch sử của dân tộc. Đó cũng là chủ đề xuyên suốt
cuộc đời ông vì hơn ai hết ông chính là nạn nhân của những đường lối sai lầm, ấu trĩ
một thời, dù bằng lòng hay không bằng lòng thì số phận của cá nhân ông đã gắn chặt
với số phận của đất nước ông.
Dù được tự do nhưng ông vẫn tiếp tục ở lại nông trường và sáng tác, khi ông
gửi bài viết số ba, số phận của ông cũng thay đổi từ đây, đó là tiểu thuyết Cụ Hình và
con chó nhỏ đã vinh dự được đạo diễn Tạ Tấn chuyển thể thành phim Cụ già với con
chó. Trương Hiền Lượng liên tục cho ra đời nhiều tác phẩm có giá trị, để lại những ấn
tượng độc đáo trong lòng độc giả và cả sự quan tâm của giới phê bình. Hai truyện
ngắn Hồn và Xác và Xéc-pu-lắc lần lượt giành được giải thưởng “Truyện ngắn ưu tú”
toàn quốc năm 1980 và năm 1983. Không chỉ dừng lại ở đó, tác phẩm Cây hợp hoan
đã đem lại niềm vinh dự cho nhà văn, khi giành được giải thưởng “Truyện vừa ưu tú”
toàn quốc lần thứ ba. Nhà văn Trương Hiền Lượng hăng say và hoạt động sáng tạo
không ngừng, ông tiếp tục cho ra mắt độc giả cuốn tiểu thuyết Một nửa đàn ông là
đàn bà, được đánh giá là một trong một trăm cuốn tiểu thuyết có ảnh hưởng nhất
trong một trăm năm qua. Cuốn tiểu thuyết này cùng với truyện ngắn Nụ hôn đầu và
cuốn truyện vừa Cây hợp hoan đã hợp thành cuốn Lịch trình tình cảm, tức tập một
của bộ ba Những điều gợi ý của một người duy vật đã được xuất bản 60.000 bản
thường và 12.000 bản bìa cứng, được Nhà xuất bản Tác gia xuất bản tại thành phố
Bắc Kinh vào năm 1985. Cuốn sách này được xếp vào tủ sách Kho tàng tiểu thuyết
đương đại.
Không bằng lòng với cách miêu tả rập khuôn, công thức, Trương Hiền Lượng

Quốc, ông là một trong mười người vinh dự nhận được danh hiệu “Nhân vật văn hóa
kiệt xuất” vào năm 2004.
1.3. Cơ sở hình thành loại hình nhân vật

18


Trung Quốc là một quốc gia tồn tại rất nhiều tôn giáo khác nhau và mỗi triều
đại lại chọn cho mình một tôn giáo để thống trị đất nước: Đạo gia với đường lối “vô
vi”, Mặc gia với đường lối “kiêm ái, hỗ lợi” không đáp ứng được quyền lợi của giai
cấp thống trị, Pháp gia với đường lối trị nước bằng luật, ban hành những điều luật hết
sức nghiêm ngặt nên cũng có kết cục bi thảm. Riêng đạo Nho của Khổng Tử hướng
tới nguồn gốc của sự bình an hơn là dùng hình phạt để đe dọa. Mục đích của đạo Nho
có tính giáo hóa: vua - tôi có nghĩa, cha - con có tình thân, chồng - vợ có phân biệt,
anh - em có trật tự với nền tảng chế độ tông pháp. Các triều đại phong kiến Trung
Quốc trong lịch sử dù tồn tại với những hình thức khác nhau song đều tồn tại dựa trên
chế độ tông pháp của nhà Nho. Trung Hoa là một quốc gia có lịch sử hàng ngàn năm
gắn liền với sự ra đi, phồn thịnh và độc tôn của Nho giáo. Cùng với chế độ tông pháp
thì không nơi nào trên thế giới vai trò của người đàn ông lại được đề cao, xem trọng
như ở Trung Quốc.
Ngay từ thời cổ đại Trung Quốc đã bắt đầu xuất hiện chế độ chiếm hữu nô lệ
nhưng không tồn tại dưới một hình thức bình thường như những quốc gia khác trên
thế giới, mà đó là hình thức tồn tại chế độ chiếm hữu nô lệ gia trưởng, trong đó đặc
biệt xem trọng vai trò của tông tộc. Quan hệ tông tộc được áp dụng rộng rãi trong
nhiều mối quan hệ khác nhau từ lĩnh vực chính trị đến việc chi phối nhiều mối quan
hệ trong xã hội. Quan hệ tông tộc được duy trì qua nhiều triều đại, từ đời Nghiêu
Thuấn cho đến đời Hạ, Thương. Quan hệ này phát triển mạnh mẽ vào thời đại nhà
Chu bằng cách xây dựng chế độ tông pháp. Nhà Chu đã bắt đầu mở rộng sự ảnh
hưởng của họ mình sang những họ khác, thiết lập một trật tự theo mối quan hệ: Thiên
tử - chư hầu - Khanh - Đại phu - Sĩ. Chế độ tông pháp ngày càng được củng cố và mở

ổn, thứ dân được yên ổn thì của cải đủ, của cải đủ và nam nữ hữu mọi ý chí đều được
thực hiện, mọi ý chí đều được thực hiện thì lễ phục được định hình, lễ phục được định
hình thì sau đó sẽ được yên vui” [31, tr.121]. Giữ gìn trật tự trên dưới là một cách
tránh sự lộn xộn, tranh giành. Đó là cách lấy gia đình thuận hòa làm mẫu để xây
dựng xã hội thái bình, trật tự, ổn định. Tất cả suy cho cùng cũng chính vì mục đích ấy
nên Nho giáo đã tìm ra một điểm tựa làm đòn bẩy một phần lớn người trong xã hội.
Tông pháp lập nên với mục đích cho con người biết được nguồn gốc của mình. Cũng
vì vậy mà theo thời gian, qua tới triều đại nhà Hán, chế độ tông pháp càng được trọng
dụng củng cố và phát triển, phù hợp với cách trị nước của thiên tử, vẫn lấy tư tưởng,
20


“Thân thân, tôn tôn, trưởng trưởng và nam nữ hữu biệt” làm cơ sở tư tưởng của
mình.
Trong gia đình, Nho giáo đề cao vai trò của người cha trong mối quan hệ cha con. Người cha có một vị trí quan trọng hơn người mẹ, cha là bề trên của con cái, cha
sinh ra con cái, cho nên trong tư tưởng xã hội thời ấy, mất cha đem lại điều bất hạnh
lớn trong gia đình hơn là mất mẹ. Cha là trời của con, là giềng mối của việc giáo hóa
con cái. Chính vì vậy mà đòi hỏi trách nhiệm của người con đối với cha, phải phục
tùng cha, theo mệnh lệnh của cha một cách tuyệt đối. Người con làm được điều đó
mới là người có nhân, nghĩa, lễ, tín. Việc đề cao vai trò của người cha trong gia đình
cũng là cách duy trì chế độ tông pháp ngày một bền vững hơn. Trong mối quan hệ
chồng - vợ, Nho giáo lại đề cao vai trò của người chồng. Nhìn chung quyền lợi và địa
vị của người vợ lúc nào cũng thấp kém hơn người chồng, phụ nữ phải có trách nhiệm
“tề gia” theo quan niệm “gia có tề thì xã hội mới được yên trị”. Ngoài ra, người vợ
còn phải tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh của người chồng, điều này càng khẳng định
uy quyền của người đàn ông trong gia đình.
Nho giáo muốn xây dựng được một xã hội lí tưởng, phải có những con người
thật sự lí tưởng để phụng sự. Mà con người có lí tưởng theo quan niệm của đạo Nho
là người “quân tử”, người “quân tử” chỉ có thể là đàn ông nên đã có hai cặp phạm trù
đối lập giữa “quân tử” với “tiểu nhân”. Đạo Nho ví người phụ nữ ngang với những kẻ

Chất suy ngẫm và triết lí làm cho tính cách nhân vật trong tiểu thuyết của nhà
văn Trương Hiền Lượng càng trở nên phức tạp. Đó là nhân vật người lái xe, người tù
lao cải, công nhân nông trường, anh cán bộ giảng dạy triết học… Trong các sáng tác
của mình, Trương Hiền Lượng đặc biệt thành công khi viết về người nam nhi. Bằng
tài năng, bản lĩnh và sự trải nghiệm của bản thân giúp ông nắm bắt được những
chuyển biến tinh vi trong thế giới nội tâm nhân vật. Mỗi nhân vật là một nét tính cách
hoàn toàn riêng, tạo nên nguồn hứng thú lớn ở người đọc.
Tác phẩm Cây hợp hoan và Một nửa đàn ông là đàn bà được viết sau cuộc Đại
cách mạng văn hóa nhưng nó đã được hun đúc trong thời kì lịch sử đen tối, rối ren.
Tác phẩm đã đem đến cho văn đàn Trung Quốc những hình tượng nam nhi độc đáo.
Đó là hình tượng nam nhi Chương Vĩnh Lân bị quản thúc ba năm vì viết “Nhật kí
phản động”, trong phong trào “Giáo dục xã hội chủ nghĩa”, anh bị đưa đi cải tạo lao
động ba năm vì tội “phái hữu lật lại án”. Khi hết hạn cải tạo, về lại nông trường, anh
cảm nhận hết cái tự do từ trong tinh thần và thân phận thể xác của chính mình.
22


Nông trường lao động là một vùng hẻo lánh, nhà cửa vô cùng ọp ẹp với những
bức tường đất bong tróc, hoàn toàn cách biệt với thế giới bên ngoài. Người tri thức
“vật lộn” với cái ăn và ở. Họ dùng trí tuệ làm “cần câu cơm”, dùng mọi tính toán,
mánh khóe nhằm đạt được mục đích. Con người trở nên sa đọa, lúc đói làm cho con
người ta trở nên đê tiện nhưng lúc no cũng khiến họ bị giày vò không kém.
Tác phẩm Cây hợp hoan tái hiện nạn đói năm 1959 - 1961 do đường lối “tả
khuynh” gây nên. Tác phẩm thành công khi khắc họa được những giằng xé trong nội
tâm nhân vật Chương Vĩnh Lân, “cơn đói giày vò anh, lương tri khiển trách anh, lí
tưởng vẫy gọi anh, tâm trạng anh lúc nào cũng ở trạng thái mâu thuẫn giữa cái sống
và cái chết” [39, tr.246]. Họ đều là những con người nghèo khổ trước sức ép của
cuộc sống, không có quyền và điều kiện để thực hiện ước mơ, họ rơi vào tình trạng bi
kịch. Nhân vật của nhà văn Trương Hiền Lượng luôn đau đớn, tự vấn lương tâm.
Hoàn cảnh sống đã làm thay đổi con người nhưng cho dù có ngột ngạt, bế tắc vẫn hé


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status