Tính triết - lý trữ tình trong tiểu thuyết của Trương Hiền Lượng (Cây hợp hoan và Một nửa đàn ông là đàn bà - Pdf 26



1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN HOÀNG THỊ LAN
TÍNH TRIẾT - LÝ TRỮ TÌNH TRONG TIỂU THUYẾT
CỦA TRƢƠNG HIỀN LƢỢNG
(CÂY HỢP HOAN VÀ MỘT NỬA ĐÀN ÔNG LÀ ĐÀN BÀ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học nƣớc ngoài
Mã số: 60 22 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Lê Huy Tiêu Hà Nội-2013
3
MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 5
1. Mục đích, ý nghĩa của đề tài 5
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

3.2. Giọng điệu trần thuật 84
3.2.1. Giọng điệu mang tính triết lý và tự trào xót xa 84
3.2.2. Giọng điệu châm biếm trào phúng 87
3.2.3. Giọng điệu say sưa mang đậm chất trữ tình lãng mạn 89
Tiểu kết 93
PHẦN KẾT LUẬN 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHẦN PHỤ LỤC 100

5
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Mục đích, ý nghĩa của đề tài
1.1. Lí do lựa chọn đề tài
Một nền văn học không bắt rễ từ một nền tảng triết học cơ bản thì sẽ đi
đến chỗ thiếu khám phá, thiếu chiều sâu tư tưởng. Thế giới của cái ngày

lân thứ ba (1983 – 1984). Tiểu thuyết Một nửa đàn ông là đàn bà được
bầu chọn là một trong 100 tác phẩm có ảnh hưởng nhất Trung Quốc. Tác
phẩm này đã được nhà xuất bản Tác gia trân trọng xuất bản năm 1985 tại
Bắc Kinh với số lượng 60.000 cuốn. Cũng với tác phẩm này, nhà văn
Trương Hiền Lượng được bầu chọn là một trong 100 nhà văn có ảnh hưởng
nhất thế kỉ XX của Trung Quốc.
Hai tác phẩm Cây hợp hoan và Một nửa đàn ông là đàn bà được
xếp vào tủ sách “Kho tàng tiểu thuyết đương đại” của nhà xuất bản Tác gia
tại Bắc Kinh với mục tiêu là giới thiệu những thành tựu mới nhất và xu
hướng phát triển của sáng tác văn học đương đại Trung Quốc về các mặt đề
tài, phong cách cũng như thủ pháp thể hiện. Hai tác phẩm cũng đã được
dịch ra tiếng Nga, tiếng Anh và phát hành với số lượng khá lớn ở Liên Xô,
Mỹ, Việt Nam và một số nước khác. Cây hợp hoan và Một nửa đàn ông là
đàn bà là hai tác phẩm mang đậm phong cách sáng tác của nhà văn Trương
Hiền Lượng. Đọc hai tác phẩm, người đọc vừa hiểu được những tâm tư,
những suy ngẫm, triết lý của nhà văn về xã hội Trung Quốc thối nát, đảo
lộn thời kì Cách mạng văn hóa, đồng thời cũng được thưởng thức những
áng văn trữ tình, đầy chất thơ của nhà văn.
Với những lí do như trên, chúng tôi muốn thông qua luận văn này để
nghiên cứu và tìm hiểu về Tính triết lý – trữ tình trong tiểu thuyết của
Trương Hiền Lượng. Đó cũng là một phong cách nghệ thuật độc đáo, riêng
biệt của nhà văn – một nhà văn tiêu biểu của văn học Trung Quốc đương 7
đại. Tuy nhiên, nằm trong khuôn khổ giới hạn của luận văn, chúng tôi chỉ
đi sâu khai thác dựa trên hai tác phẩm Cây hợp hoan và Một nửa đàn ông
là đàn bà.
1.2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Tính triết lý – trữ tình là một nét đặc trưng của ngòi bút Trương Hiền

này cũng nằm trong sự thay đổi của nền văn học đương đại Trung Quốc.
Một vấn đề nữa cũng được các nhà nghiên cứu, phê bình Trung Quốc
quan tâm đó là vấn đề người trí thức trong tác phẩm của nhà văn
(张贤亮:对知识分子精神世界的探索与表现). Xoay quanh người trí
thức, có rất nhiều những vấn đề cần quan tâm như: biểu hiện của thế giới
tinh thần người trí thức; sự trăn trở, tìm tòi cải tạo xã hội của những người
trí thức chân chính,…
2.2. Trƣơng Hiền Lƣợng tại Việt Nam
Tác giả Trương Hiền Lượng là một nhà văn có tên tuổi trong văn học
đương đại Trung Quốc, có rất nhiều bài viết, bình luận về các tác phẩm của
ông ở Trung Quốc. Tuy nhiên, các tác phẩm của Trương Hiền Lượng đã
được dịch ra tại Việt Nam không nhiều, cũng như việc nghiên cứu về tác
giả này cũng rất hiếm hoi.
Trong Cảm nhận mới về văn hóa và Văn học Trung Quốc, Lê Huy
Tiêu có bài Đôi điều cảm nhận về những suy ngẫm mang tính triết lý trong
tiểu thuyết của Trương Hiền Lượng. Trong bài viết này, Lê Huy Tiêu đã
cho chúng ta thấy phong cách triết lý rất đặc trưng trong cách viết của nhà
văn. Những vấn đề của cuộc sống, của xã hội, của cá nhân luôn được các
nhân vật trong các tác phẩm nghiền ngẫm và đúc kết thành những triết lý
của cuộc sống. Ngoài ra, trong bài viết, Lê Huy Tiêu cũng cho thấy nét đẹp
trữ tình trong mỗi trang văn của Trương Hiền Lượng. Đó cũng là những tư
liệu đáng quý, giúp chúng tôi trong việc hoàn thành luận văn này. 9
3. Mục đích nghiên cứu
Bước đầu tìm hiểu và phân tích Tính triết lý – trữ tình trong tiểu
thuyết của Trương Hiền Lượng thông qua hai tác phẩm Cây hợp hoan và
Một nửa đàn ông là đàn bà, từ đó nhận diện được một phong cách riêng,
độc đáo trong sáng tác của nhà văn.

1.1. Tìm hiểu về tính triết lý – trữ tình
1.2. Hoàn cảnh lịch sử xã hội và văn học
1.3. Nhà văn Trương Hiền Lượng
Chƣơng 2: Tính triết lý – trữ tình qua nghệ thuật xây dựng nhân
vật
2.1. Nhân vật chiêm nghiệm về cuộc sống
2.2. Nhân vật mang vẻ đẹp nội tâm phóng khoáng trữ tình
2.3. Nhân vật siêu thực mang suy ngẫm của tác giả
Chƣơng 3: Tính triết lý – trữ tình qua tuyến cốt truyện và giọng
điệu trần thuật
3.1. Tuyến cốt truyện – hành trình kiếm tìm bản ngã
3.2. Giọng điệu trần thuật
PHẦN KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHẦN PHỤ LỤC
11
Chƣơng 1
CƠ SỞ HÌNH THÀNH TÍNH TRIẾT LÝ – TRỮ TÌNH
TRONG TIỂU THUYẾT CỦA TRƢƠNG HIỀN LƢỢNG
1.1. Tìm hiểu về tính triết lý – trữ tình
Để hiểu về tính triết lý – trữ tình, trước hết chúng ta cần tìm hiểu ý
nghĩa của khái niệm về tính triết lý và tính trữ tình. Theo Từ điển tiếng Việt
do Hoàng Phê chủ biên, trữ tình có nội dung phản ánh hiện thực bằng cách
biểu hiện những ý nghĩ, xúc cảm, tâm trạng riêng của con người trước cuộc

tình được kết hợp ở mức ngang nhau. Người ta gọi chúng là tác phẩm tự sự
- trữ tình. Mặt khác, trong bản thân các tác phẩm tự sự luôn lấy chất liệu từ
hiện thực cuộc sống, rồi từ hiện thực đó đúc rút ra được những triết lý sâu
sắc, mang tư tưởng của tác giả. Chính điều đó khiến cho các tác phẩm tự sự
có sự kết hợp giữa tính triết lý và tính trữ tình.
Hai tiểu thuyết Cây hợp hoan và Một nửa đàn ông là đàn bà của
nhà văn Trương Hiền Lượng là hai tác phẩm tự sự trữ tình, trong đó những
cảm xúc, những suy nghĩ của tác giả thông qua hệ thống nhân vật đã được
khái quát lên thành những triết lý vô cùng sâu sắc. Đó cũng là một trong
những đặc điểm nổi bật trong phong cách nghệ thuật của nhà văn Trương
Hiền Lượng.
1.2. Hoàn cảnh lịch sử xã hội và văn học
Văn học bao giờ cũng là sản phẩm của mối quan hệ giữa hiện thực
khách quan và ý muốn chủ quan của bản thân nhà văn. Đó là kết quả của sự
nhào nặn những chất liệu cuộc sống trong thế giới quan và bàn tay tài năng
của người nghệ sĩ. Nhà văn là con đẻ của xã hội, là con đẻ của một hoàn
cảnh và một kiểu quan hệ nhất định. Chính vì vậy, khi nghiên cứu một tác
phẩm nào đó, thì ta phải đặt tác phẩm ấy vào “vùng đất riêng” mà nhà văn 13
lựa chọn, cũng như hoàn cảnh xã hội, trào lưu văn học – một trong những
yếu tố ảnh hưởng sâu sắc đến sáng tác của nhà văn.
Cho nên, không thể hiểu đúng thực chất tác phẩm của Trương Hiền
Lượng nếu không đặt nó vào trong bối cảnh xã hội Trung Quốc những thập
kỉ gần đây. Hoàn cảnh xã hội thay đổi cũng khiến cho các xu hướng văn
học, trào lưu văn học thay đổi. Từ đó quan niệm nghệ thuật, cách nhìn cách
đánh giá của nhà văn về cuộc sống cũng có nhiều đổi khác. Tất cả đã tạo
nên tính riêng, độc đáo trong mỗi cách viết của nhà văn.
1.2.1. Đại Cách mạng văn hóa vô sản Trung Quốc

hóa vô sản đã tàn phá không thương tiếc những thành tựu mà nhân dân
Trung Quốc tạo dựng trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa –
xã hội,… Tình trạng tranh chấp quyền lực giữa các phe phái trong nội bộ
Đảng đã gây ra những mâu thuẫn, xung đột sâu sắc, phức tạp thậm chí dẫn
tới sự tàn sát khốc liệt lẫn nhau. Cục diện hỗn loạn, đau thương đó kéo dài,
gây ra những tổn thất cực kì to lớn đối với Trung Quốc. Bên cạnh đó, Đại
cách mạng văn hóa vô sản còn phá hoại nặng nề văn hóa Trung Quốc, để
lại nhiều di hại có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của nhân dân
một thời gian khá dài.
Với việc thực hiện đường lối “Duy ý chí” và “Tả khuynh Mao – Ít”,
cùng với những diễn biến của cuộc Cách mạng văn hóa nhằm giành giật
quyền lợi giữa các phe phái trong bộ máy lãnh đạo Trung Quốc, đã dẫn tới
hàng loạt cuộc trấn áp cán bộ và cả nhân dân, đặc biệt là trí thức, kể cả giới
trí thức văn nghệ. Để phục vụ cho đường lối phản động và sai lầm nói trên,
nền văn học nghệ thuật Trung Quốc cũng trở thành một công cụ tuyên
truyền, sặc mùi giáo điều, công thức và dối trá. Những văn nghệ sĩ nào đi
ngược lại đường lối này cũng đều chịu số phận bị đàn áp, bị tù đày, giống
như số phận của chính nhà văn Trương Hiền Lượng. 15
Trong lịch sử lâu đời của Trung Quốc, đã không ít lần xảy ra những
sự kiện hủy diệt văn hóa một cách khủng khiếp. Thời Tần Thủy Hoàng là
“phần thư, khanh nho” (đốt sách, chôn nho). Thế kỷ XVIII, do lo ngại sợ
phong trào chống ngoại tộc của dân tộc Hán, các hoàng đế Mãn Thanh ra
lệnh cho các quan lại lập các “Ngục văn tự”, thu đốt mọi sách vở chống
đối, bắt bớ giết hại hàng chục vạn người,…
Giữa thế kỷ XX này, ở Trung Quốc lại diễn ra một cuộc hủy diệt văn
hóa tương tự với quy mô rộng lớn hơn. Nhân danh cuộc Đại Cách mạng
văn hóa vô sản “đánh đổ hết thảy, quét sạch hết thảy”, người ta đều ra khẩu

sự đi vào một hướng khác. Xu hướng chi phối các nhà tiểu thuyết, xét từ
Thomas Mann tới Hemingway, từ Faulkner tới Borges,… là đi sâu vào thế
giới bên trong của con người. Với tư cách là một phương hướng phát triển
tự nhiên của tư duy nhân loại, cách khai thác đời sống này cũng được chấp
nhận ở phương Đông. Nhiều nhà văn đương đại Trung Quốc cũng bị ảnh
hưởng bởi xu hướng này. Nhất là từ sau 1976, trong lịch sử Trung Hoa,
thời điểm này đánh dấu một bước ngoặt, đất nước ra khỏi Cách mạng văn
hóa để dần dần trở về với một đời sống dân sự bình thường, đúng hơn từ
một xã hội kết dính theo kiểu trung cổ tới một xã hội tan băng, suy nghĩ của
con người được giải phóng, những thang bậc tự do được mở rộng.
Với tâm thế làm sao nhanh chóng vượt lên tình trạng cô lập trước kia
để tìm lại mối quan hệ với thế giới, các lớp nhà văn trẻ kế tiếp hào hứng
đến với những quan niệm hiện đại và cả hậu hiện đại nữa. Có thể thấy điều
đó ngay trong phạm vi ít ỏi những tác phẩm văn học Trung Hoa đương đại
đã được dịch ra tiếng Việt. Từ Vương Mông tới Trương Hiền Lượng, từ Dư
Hoa tới Thiết Ngưng, từ Trì Lợi tới Trương Kháng Kháng,… người ta đã
có thể nhận ra cả loạt tác giả đi vào khai thác thế giới nội tâm của con
người. 17
Đâu là chỗ gần nhau của những nhân vật trong các tiểu thuyết Một
nửa đàn ông là đàn bà, Cây hợp hoan, Thị trấn Phù Dung, Quạ đen,
Thành phố không mưa? Đó là ở chỗ, họ đều đang ở trong cái thế đi tìm
mình, bởi băn khoăn không hiểu mình thế nào. Những ý nghĩ bị coi là điên
cuồng nảy nở không sao kìm nén nổi. Bản năng tính dục được xem như cái
phần sâu xa trong tâm thức bị quên lãng và nay cần ưu tiên khám phá.
Trong một thế giới như vỡ vụn ra, chính họ cũng ngổn ngang tan nát không
sao chắp nối lại cho được. Vẻ đẹp của sự hoàn thiện nay chỉ còn là một cái
gì xa lạ.

thực, lấy bi kịch của hàng trăm nghìn người để phủ định Đại Cách mạng
văn hóa, khiến cho độc giả lần đầu tiên được thưởng thức những áng văn
hiện thực chủ nghĩa, thức tỉnh con người cần phải cảnh giác.
Gần như đồng thời hoặc chậm hơn một chút, trên văn đàn văn học
đương đại Trung Quốc đã xuất hiện dòng “văn học phản tư”. Nó là kết quả
tất yếu của sự phát triển của dòng văn học vết thương. Các nhà tiểu thuyết
phản tư đi sâu quan sát cơn ác mộng vừa kết thúc, không chỉ dừng lại ở
việc tố khổ, tìm ra nguyên nhân nỗi đau khổ của con người mà còn nêu ra
những vấn đề không có lời giải đáp. Họ cùng nhìn nhận lại các cuộc vận
động chính trị và làn gió “tả khuynh” từ 1949 đến nay đã ảnh hưởng xấu
đến đời sống và số phận của nhân dân như thế nào. Những tác phẩm thuộc
dòng văn học này đều đề cập đến những sai lầm trong phong trào “Đại
nhảy vọt”, “Chống phái hữu”, “Chống phái đương quyền đi theo con đường
tư bản chủ nghĩa”. Các tác phẩm đã dũng cảm phơi bày những vấn đề nhạy
cảm xưa nay cấm kị. Câu chuyện bị cắt xén sai không những đề cập đến
những tai họa của nhà nước và nhân dân do “làn sóng Cộng sản”, “làn gió
khoa trương thành tích”, “làn gió giả dối lừa bịp”, “làn gió mù quáng ảo 19
tưởng” gây nên, mà còn phản ánh sự thay đổi quan hệ giữa cán bộ và nhân
dân trong thời kỳ trước và sau cách mạng thắng lợi.
Điểm chung giữa các tác phẩm văn học này là các tác giả đều đi sâu
vào thế giới nội tâm nhân vật để thấy được ảnh hưởng của cuộc Cách mạng
văn hóa đến đời sống của con người như thế nào. Qua đó thông qua nhân
vật để suy ngẫm, triết lý và góp phần tìm ra phương hướng cải tạo xã hội
ngày càng đi lên.
Tiểu thuyết Cây hợp hoan và Một nửa đàn ông là đàn bà của
Trương Hiền Lượng vẫn không thể phân tách rạch ròi thuộc dòng văn học
vết thương hay phản tư. Ở cả trong hai tác phẩm đều có những “vết

Đúng như câu hát dân gian, ở đây hoang vắng, hiu quạnh, chỉ có tiếng gió
là còn sức sống. Gió như đoàn tàu tốc hành thổi ù ù suốt đêm ngày, xới
tung bụi cát màu vàng vốn là màu sắc riêng biệt của vùng đất lưu vực sông
Hoàng Hà, xới tung những dằn vặt, khổ đau của Trương Hiền Lượng và
những người chung số phận với ông trong một thời kỳ cực kỳ buồn thảm
của lịch sử Trung Quốc. Trong một lần chia sẻ với Đài phát thanh quốc tế
Trung Quốc, khi nhìn lại quãng thời gian ở tù đó, Trương Hiền Lượng đã
không hề chìm đắm trong tâm trạng u buồn. Ông tâm sự rằng: “Tôi cảm
thấy rất tự hào, vì tôi cùng một vận mệnh với dân tộc Trung Hoa. Lúc cá
nhân tôi gặp chuyện không may, dân tộc Trung Hoa cũng đang gặp trắc
trở, hơn nữa lúc đó ngoài tôi ra, nhiều công nhân, nông dân, cán bộ và trí
thức gặp phải chuyện tan nát nhà cửa, lạc vợ xa con, mất tự do, thậm chí
mất tính mạng, tôi vẫn phải coi là người may mắn, là người may mắn sống
sót” [49].
Sau hơn 20 năm trắc trở, năm 1979, Trương Hiền Lượng bước vào
thời kỳ mùa xuân cuộc đời. Lúc Trung Quốc mới thực thi chính sách cải
cách mở cửa, Trương Hiền Lượng vẫn ở nông trường và bắt đầu viết tiểu 21
thuyết. Tác phẩm thay đổi số phận Trương Hiền Lượng là tiểu thuyết Câu
chuyện giữa cụ Hình và con chó. Từ đó, nhà văn liên tiếp có những tác
phẩm xuất sắc ra mắt độc giả. Hai tiểu thuyết Linh hồn và thể xác,
Sôrubulak liên tiếp được trao Giải thưởng Truyện ngắn xuất sắc nhất
Trung Quốc. Truyện Cây hợp hoan đoạt giải Truyện vừa ưu tú toàn quốc.
Truyện Một nửa đàn ông là đàn bà được bầu chọn là một trong 100 tác
phẩm có ảnh hưởng nhất Trung Quốc. Những tác phẩm khác như Thời
thanh xuân, Phong cách nam nhi,… cũng là một trong những tiểu thuyết
được độc giả các nước, đặc biệt là Việt Nam đón nhận một cách nhiệt tình.
Trong những bộ tiểu thuyết của nhà văn, sự suy nghĩ và giãy giụa của nhân

“Cách mạng” này, về thực chất, Mao đã phủ nhận chủ nghĩa hiện thực.
Lý thuyết giáo điều của Mao, chính là để hướng văn học đi theo xu
hướng dối trá, “tô hồng”, ca ngợi một chiều, nêu cao những cái tích cực và
Cách mạng, công nông binh một cách giả tạo, trái với thực tế. Vì thực chất,
chính sách “Hai kết hợp” của Mao đã dẫn dắt văn học đi theo khuynh
hướng công thức, một chiều, giả tạo: những gì của Cách mạng và công
nông binh bất kể trong thực tế như thế nào, cũng hiểu là những yếu tố đúng
đắn nhất, là chân lý và luôn luôn phát triển và có tương lai.
Những khái niệm “Cách mạng” và “Công nông binh” cũng được
Mao và những người theo Mao định nghĩa một cách đơn giản và độc đoán.
Cách mạng và công nông binh có nghĩa là làm theo tư tưởng “duy ý chí
luận của Mao, mọi hành vi, mọi suy nghĩ đều phải nhất nhất làm theo Ngữ
lục. Ngữ lục được tôn trọng, sùng bái còn hơn cả kinh thánh. Nó trở thành
cẩm nang cho toàn thể những cán bộ, nhân dân và cả văn nghệ sĩ nữa.
Vì vậy, tất nhiên mọi trí tưởng tượng và sáng tạo phong phú đa dạng
và toàn bộ thế giới tinh thần, tình cảm, tâm lí của con người tất nhiên là bị
loại bỏ ra khỏi tác phẩm văn học. 23
Những tác phẩm của Trương Hiền Lượng ra đời đã phá vỡ được cái
vành đai “giáo điều”, “công thức” đó và quay trở lại với truyền thống của
chủ nghĩa hiện thực. Ngòi bút của nhà văn đã mạnh dạn phê phán và bóc
trần hiện thực của xã hội Trung Quốc trong thời kỳ Cách mạng văn hóa. Sự
phê phán và bóc trần hiện thực xuất phát từ cơ sở phủ định một cách quyết
liệt cả một thời đại Mao-Ít, cả một nền văn nghệ Mao – Ít, tất nhiên nó hết
sức sắc bén và dữ dội. Vì vậy nó rất gần với chủ nghĩa hiện thực tỉnh táo
của Lỗ Tấn.
Đúng là khi tiểu thuyết đã trở về với cội nguồn vĩnh viễn bất diệt của
văn học là hiện thực, thì tư duy nghệ thuật trở nên có sức mạnh nghệ thuật

mình những triết lý sống đầy ý nghĩa. Những triết lý ấy đều được ông ghi
lại cụ thể trong tác phẩm văn học của mình.
Bản thân Trương Hiền Lượng bước vào làng văn là một nhà thơ,
chính bởi vậy tiểu thuyết của ông thấm đẫm tính chất trữ tình. Với những
triết lý sống được đúc rút từ trong hiện thực cuộc đời, trong triết lý của
những nhà tư tưởng nổi tiếng, Trương Hiền Lượng đã thể hiện nó ra trong
tiểu thuyết của mình bằng cách thức rất trữ tình. Trữ tình từ trong cách tự
truyện, trong giọng điệu, trong cách nhìn nhận, suy nghĩ của nhân vật.
Cùng với sự thay đổi của xu hướng văn học đương đại Trung Quốc,
đi sâu vào diễn tả tâm lí, nội tâm giằng xé của nhân vật, dám nói lên cái
“tôi” với những trăn trở suy tư rất thực, Trương Hiền Lượng cũng dùng
ngòi bút của mình, thông qua nhân vật để nói lên chính số phận mình.
Những giằng xé trong nội tâm nhân vật, những triết lý mà nhân vật chiêm 25
nghiệm được cũng chính là tư tưởng của tác giả muốn truyền đạt tới bạn
đọc.
Cũng bởi vậy, càng đi sâu vào tìm hiểu Cây hợp hoan và Một nửa
đàn ông là đàn bà, người đọc lại càng cảm thấy như được đón nhận một
làn gió mới, được thưởng một nghệ thuật thực sự mới mẻ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status