Con người nam bộ tiền hiện đại trong sáng tác của hồ biểu chánh - Pdf 30

CON NGƯỜI NAM BỘ “TIỀN HIỆN ĐẠI”
TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ BIỂU CHÁNH
Phạm Thị Thu Thủy
1

Tóm tắt: Sống và viết vào giai đoạn Nam Bộ nảy sinh nhiều biến động về mọi lĩnh vực, mặt
khác lại luôn gắn bó và tự hào về quê hương Nam Bộ, Hồ Biểu Chánh đã dồn hết tài năng
văn chương và tâm huyết của một trí thức được hấp thụ hai nền giáo dục, văn hóa Đông -
Tây, tân - cổ để khắc họa sắc nét, đa dạng và thành công con người Nam Bộ “tiền hiện đại”:
luôn trân trọng, giữ gìn những phẩm chất đạo đức tốt đẹp, bền vững của cha ông nhưng
không bảo thủ, làm ngơ trước sự trỗi dậy của cái tôi cá nhân; giúp độc giả có được cái nhìn
toàn diện, đa chiều về con người Nam Bộ ở một thời kì nhất định trong lịch sử hơn 300 năm
hình thành và phát triển miền đất mới.

1. MỞ ĐẦU
Nhà văn Hồ Biểu Chánh là một trong những cây đại thụ của nền văn học Nam Bộ. Ông
sáng tác trong giai đoạn Nam Bộ nảy sinh nhiều biến động về mọi phương diện nhất là sau
hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. Xã hội tồn tại những xung đột, mâu thuẫn
giữa cái cũ và cái mới trong tư tưởng và lối sống. Con người Nam Bộ bởi vậy không dễ dàng
thỏa mãn với những lời giáo huấn về đạo lí, cương thường mà muốn nếm trải sự bộn bề, đa
dạng của đời sống với mọi cung bậc cảm xúc. Nhưng nếu con người đó đi quá xa với truyền
thống thì lập tức sẽ bị phản ứng, lên án quyết liệt. Điều này đã tạo nên con người Nam Bộ
“tiền hiện đại” có đặc điểm tâm lí, tính cách và hành động phức tạp, mang dấu ấn của một
thời đại Đông - Tây, tân - cổ giao thoa. Con người Nam Bộ “tiền hiện đại” trong tác phẩm Hồ
Biểu Chánh vẫn cổ súy cho những giá trị đạo đức tốt đẹp mà cha ông đã vun đắp, gìn giữ, vẫn
tin tưởng rằng mọi đau khổ, ưu phiền của cuộc đời cuối cùng sẽ được hóa giải, đền bù. Mặt
khác, con người “tiền hiện đại” đó bắt đầu có ý thức về bản ngã, khao khát khẳng định tài
năng, khát vọng; cảm nhận được nỗi đau và hạnh phúc đời thường.
2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1. Con người đề cao đạo đức
2.1.1. Trong quan hệ gia đình

con dám tự quyền” [4] và có cả những suy nghĩ, hành động phù hợp với đạo đức của nhân
dân: “Tôi có cha mẹ, dầu cha mẹ tôi nghèo hèn mấy đi nữa, có lẽ nào tôi nỡ bỏ mà đi làm con
người khác. Còn gia tài, tôi là người dưng mà tôi đòi ăn nỗi gì, có lẽ nào tôi vô liêm sỉ đến
đỗi bỏ cha, bỏ mẹ mà giựt gia tài của con cháu người ta mà ăn hay sao” [4]. Ở một phương
diện khác, Hồ Biểu Chánh cho rằng nhiều khi tình cha mẹ dành cho con cái như trời biển
nhưng không đúng cách, con cái vì bồng bột, nông nổi mà làm phiền lòng đấng sinh thành.
Nhưng nhân vật trong tác phẩm của ông đều sớm nhận ra sai lầm, ân hận và thay đổi để gìn
giữ nếp nhà. Đây cũng là nét mới của con người Nam Bộ trong sáng tác Hồ Biểu Chánh so
với văn chương truyền thống, không bị “đóng đinh” vào những yêu cầu cứng nhắc, không bị
“phân cực” bởi những thước đo máy móc. Bà kế Hiền (Con nhà giàu) vì chỉ có mỗi đứa con
trai nên đã cưng chiều con thái quá, mưu tính mọi chuyện để con có nhiều bạc tiền, ruộng đất,
nên gián tiếp đẩy con vào cảnh ăn chơi, hưởng lạc, đối xử vô tình, hỗn láo với cha mẹ, lỗ
mãng với vợ con. Giây phút cuối đời, bà kế Hiền đã tự trách mình: “Cũng vì thằng Tứ mà tao
phải mang bịnh đây; mà cũng tại tao thương nó quá nên mới ra cớ đỗi như vầy” [4] và mong
mỏi con mình hồi tâm, tỉnh trí: “Thằng Hai với con Ba, bước lại gần đây cho dì nói chuyện:
Dì gởi thằng Tư lại cho hai con. Hai con ráng thương giùm em; nếu hai con phiền dì, sợ ngày
sau nó không có cơm ăn. Tuy nó khác mẹ, song nó cũng một máu một thịt với hai con. Vậy
xin hai con dìu dắt giùm nó, chớ nó ngang tàng mà khờ dại lắm…” [4]. Sau bao nhiêu lầm
lạc, Thượng Tứ đã biết nhận chân đúng - sai, thực - giả, đã có những suy nghĩ nghiêm túc về
trách nhiệm, bổn phận của mình đối với gia đình: “Cậu suy xét cái cử chỉ của cậu đối với mẹ,
bây giờ cậu mới hiểu tại cậu mà mẹ rầu buồn mang bịnh đến nỗi bỏ mình. Cậu nhớ mấy lời
mẹ trối trong lúc gần tắt hơi, bây giờ cậu mới nghĩ tại cậu mà phân rẽ vợ chồng, chớ vợ của
cậu chẳng có lỗi chi hết. Cậu lấy làm ăn năn về sự cậu ngỗ nghịch với mẹ, mà cậu cũng lấy
làm hổ thẹn về sự cậu tính để vợ đặng cưới cô Hai Hẩu” [4]. Tuy sự thay đổi của Thượng Tứ
chưa thật thuyết phục, xuất phát từ chủ quan cá nhân của Hồ Biểu Chánh, nhưng đã khẳng
định tác giả luôn tin tưởng và trân trọng giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc, và sự vận động
trong tính cách của Thượng Tứ là quá trình vận động của đạo đức trong thực tế đời sống.
Một trong những đòi hỏi của đạo đức truyền thống là con người phải giữ được phẩm tiết.
Viết về con người Nam Bộ trong mối quan hệ vợ - chồng, bên cạnh việc đề cao, khẳng định
tình nghĩa phu thê (như sự gắn bó, thủy chung, sống chết có nhau của vợ chồng Như Thạch

Những cô Lựu (Con nhà nghèo), cô Huyền (Bỏ vợ), cô Yến Tuyết (Tỉnh mộng) vẫn có thể
tiếp tục tìm được hạnh phúc mới dù đã có một đời chồng hay là gái bị ô nhục, bởi xét đến
cùng các cô chỉ là nạn nhân của thói đời tráo trở, và cuộc đời các cô là minh chứng cho niềm
tin, ước vọng “ở hiền gặp lành” của ông cha. Hồ Biểu Chánh cũng rất chú ý đến quan hệ hai
chiều bình đẳng, tôn trọng nhau trong đời sống gia đình của người Nam Bộ. Vợ trung trinh,
tiết hạnh, chồng thương quý, sẻ chia. Vợ mặc cảm, hổ thẹn, chồng bù đắp, bao dung. Cô
Huyền (Bỏ vợ) sau khi bị Như Bình phụ bạc, ruồng rẫy, đã lấy một người chồng làm nghề sửa
xe hơi. Người chồng sau của cô thương yêu con vợ như con ruột, cho ăn học đến nơi đến
chơi, giao cả sản nghiệp cho con cai quản, còn hai vợ chồng dắt nhau đi chơi để hưởng lạc
thú gia đình.
Một nét đẹp khác trong quan hệ gia đình của người Nam Bộ là rất trọng tình anh em. Sâu
xa trong tâm thức người Việt Nam Bộ, nghĩa huynh đệ day dứt, đau đáu khôn nguôi bởi lẽ
khi tiến về phương Nam để tìm đất mới mong thoát khỏi cảnh nghèo khổ hoặc sự trói buộc
của những luật lệ phong kiến khắt khe thì dẫn đầu các đoàn người ra đi là những anh hai, anh
ba, còn các anh trưởng phải ở nhà để chăm sóc phần mộ tổ tiên. Hướng về cội nguồn, người
Việt Nam Bộ nhớ tới cành cao, bóng cả trong gia đình, thương người cùng chung dòng tộc,
huyết thống. Bên cạnh đó, công cuộc mưu sinh đầy gian khổ đòi hỏi người Nam Bộ vừa phải
sát cánh với anh chị em trong nhà, vừa phải đoàn kết, quần tụ với bà con chòm xóm. Đọc tiểu
thuyết của Hồ Biểu Chánh, chúng tôi nhận thấy quan hệ anh - em thường được xây dựng theo
hướng bổ sung, hỗ trợ nhau. Anh bênh vực, che chở, chỉ bảo cho em; em bù đắp, chuộc lỗi
giúp anh. Thủ Nghĩa (Chúa tàu Kim Quy) đánh gẫy tay Trần Tấn Thân vì hắn hãm hiếp em
gái mình. Ba Cam (Con nhà nghèo) không những chẳng quản nguy hiểm rửa nhục cho em gái
mà còn lo lắng, bảo bọc cho em và cháu: “Tuy vậy mà em đừng lo. Từ nay trở đi có qua. Qua
thề có mặt đèn làm chứng qua sẽ bảo vệ thân em đến cùng, qua quyết tìm cách rửa nhục cho
em, rồi qua về trển qua liệu thế đem em lên Sài Gòn ở với qua” [4]. Trong gia đình nếu anh
chị trót làm những điều phi luân, người em Nam Bộ không bao che mà thẳng thắn lên án và
làm giảm thiểu tác hại của việc anh chị gây ra. Biết chị dâu xui con bỏ người yêu đang mang
bầu để lấy vợ giàu, Hương sư Thiện (Cười gượng) đã thiệt tâm nói những điều phải quấy:
“Xin lỗi chị, để em nói cho chị nghe. Ở đời quý là nhân nghĩa, quý là phước đức, chớ không
phải giàu hay là sang mà quý đâu… Anh chị có con cháu ít, cần lấy nhân đức mà ở đời, đặng

Thu Vân gặp trong cuộc đời đều “hành hiệp trượng nghĩa” mà chẳng chút nghĩ ngợi, lăn tăn,
coi đó là điều giản dị, tự nhiên của lẽ làm người. Chỉ là một người thợ sơn, tiền công mỗi
ngày được 1 đồng, không vợ, không con, ở nhà mướn nhưng ông Cử (Ông Cử) không chỉ hay
thương xót, bênh vực kẻ nghèo hèn, thường giúp đỡ người bị tai nạn mà còn bảo ban, dạy dỗ
kẻ khờ dại, can ngăn đứa hung hăng: “Dữ hôn! Có 5 đồng xu mà đến nỗi mắng chửi với
nhau… Mình là bọn nghèo khổ, nhiều khi đói không có cơm mà ăn, đau không có thuốc mà
uống… Sao có đồng tiền lại bài bạc chi vậy? Ngồi vô sòng thì mong ăn người ta, còn quên
tính cái thua. Nếu thua rồi thì lấy gì mà nuôi vợ con, lấy gì ăn cơm mà làm việc? Mà dầu
mình ăn đi nữa, lại vui sướng gì. Nội đây em út đều nghèo hết thảy” [4].
Người quân tử hành hiệp không màng danh lợi nhưng kẻ được bênh vực, chở che thì
luôn khắc cốt ghi tâm mọi cưu mang, ân nghĩa. Con người Nam Bộ trong tác phẩm của Hồ
Biểu Chánh đều mang nét đẹp truyền thống văn hóa dân tộc “ơn đền, oán trả”. Quan hệ giữa
các thành viên trong cộng đồng, dù là ở Bình Thủy, Chí Hòa hay đường Cây Quéo, chợ Xã
Tài… đều rất bền chặt, keo sơn. Nhờ lòng quảng đại của ông bà Huyện (cho ruộng để cày
cấy, miễn các khoản nợ), con trai ông Hương sư Kinh ở Thốt Nốt (Cư kỉnh) mới có điều kiện
ăn học thành tài. Mười hai năm sau, khi trở thành Quan Chủ quận, ông ta đã tìm đến ân nhân
để tỏ lòng cảm kích: “Tôi thọ ơn ông Huyện bà Huyện, mà tôi không thèm nhớ, thì làm sao
tôi nên được. Huống chi nhờ có ông Huyện bà Huyện trả ruộng hủy nợ, má tôi mới có thể
nuôi sắp em tôi, tôi mới có thể học đến thành chung rồi làm quan đây… Ơn nghĩa ấy chẳng
bao giờ tôi quên được. Vì vậy nên đổi lại đây vợ chồng tôi lật đật đến mà cám ơn ông Huyện
bà Huyện” [4]. Tuy chan chứa lòng biết ơn nhưng người Nam Bộ không cực đoan thái quá.
Họ biết phân tích, suy xét để không vì hàm ơn mà đánh mất bản thân, để ngăn cho người từng
nhiệt tâm giúp mình không đi lầm đường, lạc lối. Hà Tấn Phát (Ăn theo thuở ở theo thời) khi
nhỏ thì được vợ chồng Hà Tấn Tài nâng đỡ, dìu dắt; khi trưởng thành chẳng may gặp nạn thì
được họ cứu vớt, cưu mang. Nhưng khi vợ chồng Tài muốn em đoạt hết gia sản của Hội đồng
Lợi (thực tế sau khi tòa phân xử, Phát được sở hữu tất cả nhà cửa, ruộng vườn của Hội đồng
Lợi) thì Phát: “trót một đêm ấy, thầy suy tới nghĩ lui, cân phải đo quấy, thầy khảo luận lí,
thầy xét nhơn tình, thầy nhớ chuyện đã qua, thầy nhẩm việc sẽ đến, trăn trở hoài không ngủ
được” và xin với anh chị: “Em thưa với anh chị, từ rày sắp lên em sẽ làm y theo thiên hạ…
Nhưng mà em nghĩ lại, nếu em đoạt hết thì tội nghiệp cho Hội đồng Lợi. Vậy, em xin anh chị

Biểu Chánh, trở thành phẩm chất tiêu biểu của con người Nam Bộ “tiền hiện đại”, mô - tip
nhân vật được Hồ Biểu Chánh khắc họa bằng nguồn cảm hứng dạt dào và niềm say mê vô
tận.
2.2. Con người bước đầu ý thức về bản ngã
2.2.1. Con người khẳng định khả năng
Con người cá nhân đã xuất hiện ở văn học Trung đại Việt Nam vào thế kỉ XVIII - XIX,
được thể hiện trong sáng tác của Đặng Trần Côn, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn
Công Trứ Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, xã hội Việt Nam có những thay đổi lớn lao, văn
hóa dân tộc từng bước thoát khỏi ảnh hưởng của văn hóa khu vực, giao lưu, hội nhập với văn
hóa phương Tây. Con người cá nhân trong văn học càng có điều kiện trỗi dậy, được đánh dấu
bằng truyện ngắn Thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản, được nối tiếp bởi Hoàng Tố
Oanh hàm oan của Trần Chánh Chiếu, Nghĩa hiệp kì duyên của Nguyễn Chánh Sắt, một số
tác phẩm của Hồ Biểu Chánh và đạt đỉnh cao với Tự lực văn đoàn, Thơ Mới. Điều này do chủ
thể sáng tạo được giải phóng, đối tượng phản ánh được mở rộng và bộ phận công chúng mới
mang trong mình những nhu cầu cụ thể, đến với văn học để kiếm tìm sự tri âm, tri kỉ.
Không ngạo nghễ như nhân vật trữ tình trong thơ Xuân Diệu sau này: “Ta là Một, là
Riêng, là Thứ nhất”, con người Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh khiêm tốn hơn,
chừng mực hơn nhưng tin tưởng vào khả năng có thể chấn hưng phong hóa, thay đổi xã
hội. Bên cạnh việc ca ngợi, trân trọng những con người Nam Bộ đạo đức, nhân nghĩa, Hồ
Biểu Chánh còn phê phán, đả kích những cái độc ác, xấu xa hiển hiện trong đời sống xã hội.
Không hiếm nhân vật của Hồ Biểu Chánh, nếu là đàn ông thì ham mê tửu sắc, nếu là đàn bà
thì thích ăn chơi bài bạc. Đây là nguyên do dẫn đến việc hiếp dâm, ngoại tình, đĩ điếm, án
mạng trở nên khá phổ biến trong tiểu thuyết của ông. Tấn Thân (Chúa tàu Kim Quy) hãm
hiếp Thị Xuân, Thái Dương (Hai khối tình) định cưỡng hiếp cô Cúc; vợ Trần Văn Sửu (Cha
con nghĩa nặng) ngoại tình với Hương hào Hội, cô Oanh (Bỏ chồng) ngoại tình với Hội đồng
Đàng; cô Hai Phục (Nợ đời), cô Hai Cần Giuộc (Lời thề trước miễu) làm nhiều người đàn
ông thân bại danh liệt bởi những ngón nghề của kẻ buôn phấn bán hương; vợ xã Xù (Thầy
thông ngôn) bắt quả tang chồng thông dâm với Như Hoa đã chém chết cả hai người, Hương
hào Điều (Khóc thầm) dùng gậy tầm vông đánh chết vợ và Vĩnh Thái bởi chúng gian díu với
nhau… Trước thực trạng đó, nhiều thanh niên Tây học trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh trăn

của nam nhi vậy, ức vì xưa nay nam nhi choán hết chỗ mà đứng, bắt phụ nữ phải núp dưới
cánh tay, hoặc trong vạt áo hoài” [4]. Cô Tân Phong và các bạn cùng chí hướng thành lập tờ
báo “Tân Phụ Nữ”, yêu cầu nam nữ bình quyền, công kích hủ tục hôn nhân, lại tích cực cổ
động mấy bà, mấy cô có điều kiện thành lập Bình dân Bảo sanh đường để cho đàn bà nghèo
đến lúc sinh con được hưởng sự chăm sóc ân cần, đúng phép vệ sinh. Cả tòa báo và nhà sanh
đều nhận được sự tán thưởng, hoan nghênh của dư luận xã hội. Thành công của Tân Phong là
biểu hiện sự thắng lợi bước đầu của ý thức cá nhân trong con người Nam Bộ “tiền hiện đại”.
Trước bức tranh hiện thực còn nghèo nàn lạc hậu ở Nam Bộ vào đầu thế kỉ XX, Hồ Biểu
Chánh gửi gắm kì vọng thay đổi xã hội vào một số thanh niên Tây học có tài năng, có nhiệt
huyết. Họ muốn làm việc hữu ích cho xã hội. Sau bảy năm học tập ở Pháp, Xuân (Ý và tình)
nhận bằng bác vật canh nông trở về quê hương. Chàng không vội lập gia thất mà tính chuyện
“sẽ cổ động cho điền chủ trong Nam Việt hiệp cùng moa mà cải lương nông nghiệp, làm
ruộng theo phương pháp văn minh đặng giúp cho dân mình từ điền chủ tới nông dân đều
được giàu có chớ nước mình có ruộng đất phì nhiêu, mà không giàu mạnh như thiên hạ thì
tức quá” [4]. Nhưng vì bồng bột, ảo tưởng, nóng vội nên suốt mấy tháng trời nhọc công viết
sách, tốn tiền mượn báo chí cổ động mà Xuân không thu được kết quả nào. Thất vọng song
chàng không thối chí. Xuân xác định ngay từ đầu mục đích của việc du học là “muốn có cái
học thức văn minh hoàn toàn của Âu Mỹ, đặng đem gieo rải vào xã hội mình” [4] nên bằng
cách này hay cách khác chàng phải dùng học thức đó mà khai hóa đồng bào, đổi thay xã hội.
Con người Nam Bộ “tiền hiện đại” cũng luôn ý thức vai trò của cá nhân đối với sự phát triển
xã hội. Lớn lên từ nghèo khó, thành đạt nhờ sự vun trồng của gia đình, làng xóm, quan Kinh
lí (Con nhà nghèo) hiểu hơn ai hết thực tế: “ăn lương nhà nước, song tiền đó là tiền của dân.
Làm quan mà cầm câu đặng chờ ngày lãnh lương thì có tội với dân chớ” [4]. Bởi vậy khi con
gái chợ Giồng ve vãn, bà Hương bộ Bảy hối lộ 200 đồng bạc, quan Kinh lí nhất mực khước
từ. Ông muốn làm trọn nghĩa vụ với nước, bổn phận với dân. Con người bước đầu ý thức về
bản ngã trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh không chịu giam mình trong cuộc sống ngột ngạt,
tù túng sau lũy tre làng. Họ ham học hỏi cái mới, cái hiện đại, thích phiêu lưu, trải nghiệm ở
những xứ sở, chân trời xa lạ, chờ đợi cơ hội nâng cao dân trí, cải cách xã hội. Vượt lên khổ
đau của một nữ nhi thường tình, Thu Hà (Khóc thầm) xin với cha đi du học ít năm, mở rộng
kiến thức, tập luyện tài nghệ, “nguyện chừng con học thành công rồi con trở về, con sẽ làm

Có được hạnh phúc cho riêng mình, một số nhân vật của Hồ Biểu Chánh đã để cho ham
muốn bản năng lấn át lí trí tỉnh táo và biến mình thành người sống ích kỉ, sa đọa. Cô Đằng
(Dây oan) thương thầy Nhãn mà không được gần, nên tìm mọi cách trốn chồng để đến với
nhân tình. Cô bất cần, liều lĩnh: “Cái hình của chồng em phải tiêu mất thì đôi ta mới vui vẻ
mà hưởng hạnh phúc sum vầy được. Em nhứt định ở luôn trên nầy với anh, không thèm về
Ngã Tư nữa. Chồng của em muốn làm sao thì làm, thiên hạ cười chê mặc kệ họ, miễn là đôi
ta phỉ tình thì thôi. Hễ anh thương em thì em không kể việc gì hết” [4]. Tình yêu làm cô Đằng
mờ mắt, quên hết chuyện phải trái, không lường trước sau, ra tay giết chồng, để cả đời oan
nghiệt. Thầy Bính (Lời thề trước miễu) không thỏa mãn với hạnh phúc đơn sơ, giản dị bên
người vợ hiền hậu và những đứa con thơ ngây, say mê người đàn bà trẻ đẹp, tiêu xài hoang
phí đến mức thâm thụt của hãng một số tiền lớn. May mắn là thầy đã tỉnh ngộ, lại nhận được
sự bao dung, tha thứ của vợ con nên bản thân thoát cảnh tù tội, gia đình vẫn bền vững, ấm
êm. Bên cạnh đó, Thuần và Vân (Đoạn tình) - một người là chồng bạn, một người là bạn vợ -
nảy sinh tình tri âm, tri kỉ. Có những lúc tưởng như họ muốn phó mặc cuộc đời cho biển tình
lai láng. Nhưng bổn phận và danh dự đã giúp họ vượt qua được những giây phút yếu mềm
của bản thân, vun đắp cho hạnh phúc chung. Như vậy, con người Nam Bộ trong tác phẩm của
Hồ Biểu Chánh nếu biết sống “theo bản ngã trong chừng mực nhất định” và “không quên
chức năng phận vị” thì sẽ là “con người lí tưởng nhất” [3]. Đây là quan niệm dung hòa giữa
cái tôi và cái ta của nhà văn và phù hợp với hoàn cảnh xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỉ
XX.
Hạnh phúc cá nhân đối với con người Nam Bộ “tiền hiện đại” còn là được sống thật với
con người mình, không bon chen với cuộc đời đầy thị phi, nhiều ngang trái. Một mình Bá Kì
(Tiền bạc bạc tiền) chọn cho mình một lối đi riêng trái ngược với các thành viên khác trong
gia đình. Nếu ba ham tranh cử Hội đồng Quản hạt, mẹ ham giàu, chị ham chơi thì Bá Kì lại
nhất quyết ra Hà Nội học, sống cuộc đời tự lập mà tự chủ, khước từ mọi sự giúp đỡ của gia
đình về tiền bạc, dửng dưng trước khối tài sản được thừa kế. Chàng tìm sự hân hoan trong
công việc, niềm vui sướng trong tình tri kỉ với người bạn học Hiếu Liêm, và hạnh phúc khi
được lo lắng cho cô em gái có tâm hồn nhân hậu, trong sáng. Bá Kì đủ bản lĩnh để sống đúng
lí tưởng mình theo đuổi, đủ thấu suốt để coi mọi thứ danh lợi là hư vô. Trong khi người cha
yêu thích cảnh “Ngoài hiên vườn trúc thướt tha. Ngăn chừng xe ngựa, vẹt xa phong trần”,

3. KẾT LUẬN
Tóm lại, gắn bó và tự hào về quê hương Nam Bộ, Hồ Biểu Chánh đã dồn hết tài năng
văn chương và tâm huyết của một trí thức được hấp thụ hai nền giáo dục, văn hóa Đông -
Tây, tân - cổ để khắc họa sắc nét, đa dạng và thành công con người Nam Bộ “tiền hiện đại”:
luôn trân trọng, giữ gìn những phẩm chất đạo đức tốt đẹp, bền vững của cha ông nhưng
không bảo thủ, làm ngơ trước sự trỗi dậy của cái tôi cá nhân; giúp độc giả có được cái nhìn
toàn diện, đa chiều về con người Nam Bộ ở một thời kì nhất định trong lịch sử hơn 300 năm
hình thành và phát triển miền đất mới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phan Ngọc, Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Văn học, H., 2002.
2. Vũ Ngọc Phan, Hồ Biểu Chánh (Hồ Văn Trung), In trong Hồ Biểu Chánh người mở
đường cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Nxb Văn nghệ, H., 2006.
3. Huỳnh Thị Lan Phương, 2011, Sự kế thừa và đổi mới quan niệm về con người trong tiểu
thuyết Hồ Biểu Chánh, đăng trên tạp chí Khoa học số 17b, Trường Đại học Cần Thơ,
tr.16-27. 2001.
4.
“PREMODERN” PEOPLE OF THE SOUTH IN THE WORKS BY
HO BIEU CHANH
Pham Thi Thu Thuy
Abstract: Living and writing during a great deal of fluctuations arising in all social fields in
the south and being proud of their homeland south, Ho Bieu Chanh put all his literary talent
and dedication of an intellectual absorbed both of education and culture of East and West,
traditional and modern values to portray successfully the fingure of the Southern “pre-
modern” people. They always protect and maintain good moral qualities but not being
conservative and ignoring the rise of the personal ego. That helps readers gain an over view
from different directions about the people in the south in each period of the history over 300
years of establising and developing the new land.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status