Mạch lạc trong văn bản và việc dạy Học sinh thpt phổ thông viết văn Mạch lạc - Pdf 23



MẠCH LẠC TRONG VĂN BẢN VÀ
VIỆC DẠY HỌC SINH PHỔ THÔNG
VIẾT VĂN MẠCH LẠC
PHAN THỊ AI
MỤC LỤC

Trang
DẪN NHẬP 4
1. Lý do chọn đề tài, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
2. Phạm vi của đề tài 7
3. Lòch sử vấn đề 7
4. Phương pháp nghiên cứu 13
5. Đóng góp của luận văn 14
6. Bố cục của luận văn 15
CHƯƠNG MỘT: Tổng quan về văn bản và mạch lạc trong văn bản 16
1. Khái niệm về ngữ pháp văn bản và văn bản 16
1.1 Vài nét về ngữ pháp văn bản 17
1.1.1 Lý luận chung về ngữ pháp văn bản 17
1.1.2 Ý nghóa của lý thuyết văn bản ở trường phổ thông 19
1.2 Khái niệm về văn bản 21
1.2.1 Khái niệm chung về văn bản 21
1.2.2 Khái niệm về văn bản trong sách giáo khoa phổ thông 22
2. Đặc điểm của văn bản 22
2.1 Đặc điểm chung của văn bản 22
2.1.1 Tính hoàn chỉnh về nghóa của văn bản 23
2.1.2 Tính hoàn chỉnh về cấu trúc của văn bản 25

2.3 Quan hệ logic ngữ nghóa 66
2.4 Yếu tố trình tự kết cấu
85
2.5 Yếu tố thống nhất nội dung 87
Tiểu kết 88
CHƯƠNG BA: Những lỗi viết văn thiếu mạch lạc của học sinh phổ thông 91
1. Lỗi trong dùng từ và cách khắc phục 91
1.1 Lỗi do dùng từ sai nghóa 91
1.2 Lỗi do kết hợp từ không hợp lý 93
1.3 Lỗi do dùng từ trùng lặp 95
1.4 Lỗi do cách sắp xếp từ không logic 97
1.5 Lỗi do dùng từ không hợp phong cách 99
2. Lỗi trong đặt câu và cách khắc phục 101
2.1 Đối với quan hệ hướng nội 101
2.2 Đối với quan hệ hướng ngoại 110
3. Lỗi trong dựng đoạn và cách khắc phục 112
3.1 Một số yêu cầu cơ bản đoạn văn 112
3.2 Một số lỗi trong đoạn văn 113
4 Lỗi trong xây dựng văn bản và cách khắc phục 118
4.1 Lỗi trong lập đề cương 118
4.2 Lỗi trong xây dựng văn bản 119
Tiểu kết 123
KẾT LUẬN 125
TÀI LIỆU THAM KHẢO 127

4
DẪN NHẬP

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI, MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1.1 Từ trước đến nay, kiến thức về ngữ pháp Việt Nam mà chúng ta cung cấp cho

chuỗi sự kiện được nêu lên một cách rời rạc và lủng củng. Nếu chúng ta chuyển đổi
vò trí của các câu, ví dụ sắp xếp lại như: a, d, c, b thì đoạn văn trên sẽ trở nên rõ
ràng, chặt chẽ và mạch lạc.
Hiện nay, lỗi diễn đạt rời rạc, dài dòng, lộn xộn, lủng củng và khó hiểu
chiếm đa số trong bài viết của học sinh phổ thông và đang gióng lên hồi chuông
báo động. Cho nên, việc hướng dẫn các em rèn luyện kỹ năng diễn đạt rõ ràng,
mạch lạc để tạo sự tường minh cho những chuỗi phát ngôn, cho văn bản là vô cùng
cấp thiết. Vì chỉ trong những điều kiện rèn luyện như vậy, kỹ năng viết văn của các
em mới được trau giồi thường xuyên và liên tục. Hiệu quả của việc sử dụng ngôn
ngữ trong giao tiếp mới được nâng cao. Do bởi tầm quan trọng như đã trình bày trên
nên chúng tôi mạo muội chọn vấn đề mạch lạc văn bản và việc hướng dẫn học sinh
viết văn mạch lạc làm đề tài nghiên cứu cho luận văn này.
1.2 Đây là một vấn đề vô cùng phức tạp, nhiều nhà nghiên cứu đánh giá
mạch lạc là hiện tượng khá mơ hồ, là không tường minh, là khó nắm bắt. Người ta

6
dễ dàng nhận diện một bài văn không mạch lạc chứ không dễ gì đưa ra các tiêu
chuẩn thế nào là mạch lạc. Đã rất nhiều thập kỷ qua, trong nhà trường, giáo viên cố
gắng dạy các em viết tập làm văn. Từ lớp hai là đã bắt đầu tập viết văn. Thế nhưng
kết quả đạt được hãy còn rất khiêm tốn, chỉ có một số ít, không quá 20% học sinh
viết tốt. Viết tốt ở đây nghóa là diễn đạt rõ ràng, trôi chảy, lưu loát; thật ra cũng
chưa có sự sáng tạo và sâu sắc. Số còn lại, không kể sai về chính tả, dùng từ, đặt
câu thì chủ yếu là sai về diễn đạt như: rời rạc, lộn xộn, luộm thuộm, lủng củng, v.v.
làm cho lời văn nặng nề, dài dòng, tối nghóa và thiếu mạch lạc.
Sự yếu kém trên không thể quy hết trách nhiệm cho giáo viên. Bởi vì người
dạy chưa từng được trang bò một cách đầy đủ vốn tri thức này. Thực ra, những kiến
thứïc về ngữ pháp văn bản chỉ mới hình thành và phát triển ở Việt Nam từ những
năm 80 và chính thức đưa vào dạy ở cấp Trung học cơ sở vào những năm 90, nhưng
chỉ dừng lại ở cách xây dựng đoạn văn, liên kết trong văn bản. Do vậy, việc nghiên
cứu những lónh vực trên là vô cùng cần thiết. Nó sẽ giúp cho giáo viên có cơ sở để

Luận văn sẽ trình bày theo quan điểm là kế thừa những thành tựu nghiên cứu
về nội dung mạch lạc văn bản của các nhà ngôn ngữ trong và ngoài nước; dựa vào
những bài viết cụ thể của học sinh phổ thông để phân tích các lỗi diễn đạt và tìm ra
cách khắc phục.
3. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Thuật ngữ mạch lạc chỉ mới xuất hiện trong những thập kỷ gần đây, trong
giai đoạn thứ hai của việc nghiên cứu văn bản. Rõ ràng khái niệm mạch lạc văn

8
bản là một vấn đề khá mới mẻ và cũng khá phức tạp, được đề cập đến trong những
công trình nghiên cứu Greimas (1966), Todorov (1968), Van Dijk (1973), Gutwimsk
(1976), Halliday và Hasan (1976), Widdowson (1978), De Beaugrande (1980),
Green (1989), David Nunan (1993), D. Togeby (1994), Gillian Brown và George
Yule (qua bản dòch của Trần Thuần (2002).
Cụ thể qua tác giả Van Dijk (1973), trong công trình nghiên cứu “Những mô
hình của ngữ pháp văn bản”, với ví dụ “Chúng ta sẽ có một số khách ăn trưa.
Calderon (đã) là một nhà văn lớn Tây Ban Nha.”, để lập luận phản bác lại quan
điểm cho rằng hai câu đứng gần nhau là mạch lạc với nhau, ông nhận xét rằng hai
câu đứng gần nhau có thể không mạch lạc với nhau. Theo ông, bởi vì giữa hai câu
này không có hiện tượng nhắc lại từ
, cũng không có yếu tố câu này chưa rõ nghóa
đòi hỏi phải giải thích bằng yếu tố khác của câu kia và giữa chúng cũng không dễ
dàng gì thiết lập quan hệ nghóa với nhau
(chúng tôi gạch dưới). Như vậy, rõ ràng
qua nhận xét này ta có thể hiểu được quan niệm của Van Dijk về mạch lạc ít nhất
phải hội tụ đủ ba yếu tố trên.
Ngữ pháp truyện của T.Todorov (1968) và được phát triển lên bởi Rumelhart
(1975) cùng với các đồng nghiệp của ông là S.Garrod và A.Sanford cho rằng tính
hợp lý lắng sâu bên trong ngữ pháp truyện là ở chỗ các truyện tuân theo một khuôn
hình mềm dẻo nhưng có thể khuôn đònh trong những quy tắc loại như quy tắc viết

văn bản (tức là, các văn bản mạch lạc với các văn bản không mạch lạc). Ông quả
quyết rằng khó mà tạo ra những phi văn bản từ những câu đứng cạnh nhau bởi vì

10
nói chung có thể tạo ra một vài kiểu ngữ cảnh đem lại tính mạch lạc cho bất kỳ tập
hợp câu nào. Ông phản đối điều khẳng đònh của Van Dijk, Widdowson, Edmonson
và đưa ra những ví dụ rất ngắn để cung cấp những văn bản hiểu được khi không có
các đánh dấu liên kết.
Năm 1983, trong tác phẩm “Phân tích diễn ngôn”, G. Brown và G.Yule đã
dành hẳn một chương cuối cùng cho “Tính mạch lạc trong việc giải thuyết diễn
ngôn” . Trong chương này, tác giả đã trích dẫn quan điểm của Labov (1970) “nhận
ra tính mạch lạc và không mạch lạc ở các chuỗi hội thoại không dựa trên cơ sở mối
quan hệ giữa các phát ngôn, mà là giữa các hành động được thực hiện bằng các
phát ngôn này”. [Brown & Yule, 2002, tr.351]

Năm 1989, Georgia M.Green là người xem xét mạch lạc trên cơ sở của
nguyên tắc cộng tác do Grice đề xướng. Ông cho rằng: “Mạch lạc của văn bản
không phải là vấn đề của những đặc trưng dành riêng cho văn bản, mà là vấn đề
của cái sự thật có thể coi là: việc những người tiếp nhận văn bản có năng lực suy
luận bằng mọi cách là việc cần thiết để chắp nối nội dung của các câu cá thể lại
với nhau”, và học chắp nối “bằng cách làm rõ việc suy ra một trình tự thực hiện cái
dàn ý được suy ra để đạt đến cái mục tiêu được suy ra”. Đồng thời, Green thừa
nhận có nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với mạch lạc. Do vậy, cách tiếp cận của
ông đối với mạch lạc có thể gọi là mạch lạc theo nguyên tắc cộng tác.
David Nunan, 1993, trong “Phân tích dẫn nhập diễn ngôn”, tác giả nhất trí
với ý niệm cho rằng liên kết không “tạo ra” mạch lạc và việc thiết lập tính mạch
lạc là việc người đọc/ người nghe có sử dụng kiến thức ngôn ngữ của họ để liên hệ
thế giới diễn ngôn với những con người, vật thể, sự kiện và sự thể bên ngoài bản
thân văn bản v.v.


phân tích trong một số trang ngắn ngủi, nhưng thực sự thể hiện được sự tường minh
cho một hiện tượng không tường minh chút nào.
Bên cạnh đó, còn có một số tác giả khác như Đỗ Hữu Châu, trong “Những
luận điểm về cách tiếp cận ngôn ngữ học các sự kiện văn học” in trong tạp chí
Ngôn ngữ số 2/ 1990, “Ngữ pháp văn bản” 1994, “Đại cương ngôn ngữ học” tập 2,
2001; Nguyễn Đức Dân “Logic và Tiếng Việt” 1998 cũng đã có một số quan điểm
phác họa về mạch lạc đáng chú ý.
Và gần đây cũng có một số bài viết về mạch lạc như: Trần Thò Vân Anh
“Mạch lạc theo quan hệ nguyên nhân trong Truyện Kiều” (2002), Nguyễn Thò Thìn
“Về mạch lạc của văn bản viết” (ứng dụng vào phân tích truyện ngắn Đám ma kỳ
lạ nhất mà tôi chứng kiến của Ezra M. Cox) (2003),v.v.
Tóm lại, lòch sử nghiên cứu về hiện tượng mạch lạc, chủ yếu được rút ra từ
các tài liệu tiếng Anh và tiếng Việt, đã nêu bật một số quan điểm về mạch lạc.
- Mạch lạc là một vấn đề khá trừu tượng và khó nắm bắt. Vẫn còn tồn tại
nhiều quan điểm chưa đồng nhất về mạch lạc. Và đa số tài liệu đều có đề cập
nhiều đến mạch lạc trong phân tích diễn ngôn.
- Mạch lạc là yếu tố quan trọng và chủ yếu tạo nên văn bản. Khi gọi là một
văn bản thì cũng có nghóa là chính chuỗi phát ngôn đó đã mạch lạc và chắc chắn là
mạch lạc. Và ngược lại, không có mạch lạc, chuỗi phát ngôn này sẽ không trở
thành văn bản.

13
- Mạch lạc và liên kết không phải là một. Mạch lạc thể hiện ở bề sâu của
quan hệ nghóa, còn liên kết thể hiện ở bề mặt bằng các phương thức hình thức liên
kết khứ chỉ, hồi chỉ, v.v. Thực sự liên kết là một phương thức góp phần tạo nên
mạch lạc văn bản.
- Mạch lạc ở hội thoại khác mạch lạc trong văn bản viết. Mạch lạc hội thoại
thường gắn chặt với hoàn cảnh và tình huống phát ngôn; còn mạch lạc trong văn
bản viết gắn chặt với chủ đề và toàn cảnh của văn bản.
- Mức độ nhận đònh về mạch lạc của một văn bản tuỳ thuộc vào khả năng tư

Dijk; giữa Diệp Quang Ban và Cao Xuân Hạo, v.v. So sánh giữa lý luận về mạch
lạc và các văn bản cụ thể trong đời sống hằng ngày. Để từ đó có thể nêu lên được
những nét chung cơ bản nhất hình thành quan điểm của luận văn.
4.3 Phương pháp phân tích – tổng hợp, miêu tả.
Phương pháp này được vận dụng trong suốt quá trình trình bày luận văn, nhất
là chương hai và chương ba. Phân tích từ các tài liệu tham khảo, tư liệu văn bản
mẫu và bài viết của học sinh; sắp xếp theo loại; rút ra nhận xét tổng hợp từng phần,
từng chương qua tiểu kết. Trong quá trình trình bày có thể sắp xếp theo tổng - phân
- hợp, phân – hợp, v.v.
5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

15
Mạch lạc là một vấn đề hoàn toàn không mới đối với văn bản viết. Nhưng
chỉ có một điều là làm thế nào để học sinh viết văn mạch lạc thì chưa được nhiều
nhà nghiên cứu quan tâm. Hình như mọi người đều nghó rằng việc rèn luyện viết
văn mạch lạc cho học sinh là việc thường ngày. Trước hết, giáo viên cho học sinh
tiếp cận với các văn bản mẫu, sau đó, đưa ra các đoạn văn, bài văn chưa mạch lạc
và giúp các em chỉnh sửa lại. Thế là đạt yêu cầu, không cần giải thích cho học sinh
hiểu mạch lạc là gì, vì sao phải sửa mà không để như vậy, v.v.
Luận văn này cố gắng đi vào giải quyết, dù chưa phải là triệt để, tường minh
vấn đề lờ mờ trên, nhưng sẽ trình bày lại một cách có hệ thống những vấn đề cần
lưu ý đối với việc nhận diện ra hiện tượng mạch lạc trong các chuỗi ngôn ngữ. Từ
đó, luận văn xác đònh được đâu là văn bản, đâu là phi văn bản, đồng thời phân biệt
được liên kết và mạch lạc. Điều quan trọng mà luận văn quan tâm là trình bày các
yếu tố góp phần tạo nên sự mạch lạc văn bản một cách rõ ràng để giúp học sinh
chú ý vận dụng trong quá trình xây dựng bài tập làm văn chặt chẽ và mạch lạc.
Chúng tôi mong rằng những nhận xét rút ra được trong luận văn sẽ góp phần giúp
giáo viên có thêm tài liệu tham khảo về việc dạy tập làm văn ở nhà trường phổ
thông đạt hiệu quả, đồng thời giúp học sinh rèn luyện kỹ năng viết văn ngày càng
mạch lạc và chặt chẽ, góp phần giữ gìn và phát huy sự trong sáng và giàu đẹp của

chân vào đòa hạt của ngữ pháp,…). Và ở đòa hạt này (văn bản), câu chỉ là đơn vò tế
bào. Thật vậy, Halliday đã nhận xét rằng:
“Đơn vò cơ bản khi chúng ta sử dụng ngôn
ngữ, không phải là từ hay câu, mà là văn bản”. (M.A.K.Halliday, 1960).
Vậy văn bản là gì, ra đời từ khi nào và có những đặc điểm ra sao?
1. KHÁI NIỆM VỀ NGỮ PHÁP VĂN BẢN VÀ VĂN BẢN

Bắt đầu từ những năm 1930, trường phái ngôn ngữ học Praha đã đề cập đến
đoạn văn và sự liên hệ giữa các câu trong đoạn văn; rồi đến những năm sau là ở
Đức (K.Boost viết về “Khối liên hệ các câu”), ở Nga (N.S.Pospelov “Chỉnh thể cú
pháp phức hợp”; I.A.Figurovskij “Chỉnh thể cú pháp của văn bản hoàn chỉnh”), ở

18
Mỹ (Z.S.Harris đề xuất phương pháp phân tích diễn ngôn “discourse”), v.v đều nói
đến mối liên hệ giữa các câu (mối quan hệ trên câu).
Vào 1953, L.Hjelmslev, nhà ngôn ngữ học nổi tiếng Đan Mạch, đã viết: “
Cái duy nhất đến với người nghiên cứu ngôn ngữ với tư cách khởi điểm […] đó là văn
bản trong tính hoàn chỉnh tuyệt đối và không tách rời của nó”. Lời nói này càng về
sau càng được khẳng đònh và cứ thế cái đơn vò cao nhất được gọi là văn bản đó
nghiễm nhiên trở thành đối tượng của ngôn ngữ học.
Và tiếp theo sau đó, từ những năm 1968 đến những năm 1970, tên gọi ngữ
pháp văn bản ngày càng được nhiều nhà ngôn ngữ đề cập. Nhất là vào những năm
80, lónh vực văn bản - theo cách nói hình tượng của V.A.Zvegintsev [1980, tr.14]-
gần như đã trở thành một “vũ trụ ngôn ngữ học”.
Như Trần Ngọc Thêm đã nhận đònh: “Nếu coi việc nâng ngôn ngữ học lên
tầm một khoa học khái quát gắn liền với tên tuổi của F.de Saussure là cuộc cách
mạng lần thứ nhất trong ngôn ngữ học như lâu nay vẫn nói, thì cuộc cách mạng lần
thứ hai phải là việc đưa ngôn ngữ học lên tầm một khoa học bao quát hết đối tượng
của mình gắn liền với sự ra đời của ngôn ngữ học văn bản”.
1.1 VÀI NÉT VỀ NGỮ PHÁP VĂN BẢN

Năm 1976, M.A.K.Halliday và R. Hasan đã bàn về những đặc trưng của văn
bản khá kỹ như sau: “Từ văn bản được dùng trong ngôn ngữ học để chỉ một đoạn

20
nào đó, được nói ra hay được viết ra, có độ dài bất kỳ, tạo lập được một tổng thể hợp
nhất. Chúng ta biết như một nguyên tắc chung rằng một mẫu ngôn ngữ của chính
chúng ta hoặc tạo thành được một văn bản hoặc không. Điều đó không có nghóa là
chẳng bao giờ có thể là không chắc chắn. Sự phân biệt giữa một văn bản và một tập
hợp những câu không có quan hệ với nhau suy cho cùng là vấn đề mức độ, và ở đây
luôn luôn có những trường hợp mà đối với chúng thì chúng ta không đònh chắc được
– một điều có thể thường gặp đối với nhiều giáo viên khi đọc các bài làm văn của
học sinh của mình. Tuy nhiên, điều đó không làm mất hiệu lực của nhận xét chung
cho rằng chúng ta cảm nhận được sự phân biệt giữa cái là văn bản với cái không là
văn bản”. […] [Theo Diệp Quang Ban, 2002, tr. 62]
1.1.2 Ý nghóa của lý thuyết văn bản ở nhà trường phổ thông
Nhà trường phổ thông của chúng ta từ nhiều năm qua đã chú ý dạy cho học
sinh cách sử dụng đúng các từ và viết đúng các câu. Việc làm này đã thu được
những kết quả nhất đònh. Học sinh đã viết được nhiều câu đúng và không ít câu
hay. Tuy nhiên, các em lại không biết cách trình bày các câu đúng và hay đó vào
một đoạn, một bài viết để tạo thành một chỉnh thể thống nhất, chặt chẽ và logic hay
nói một cách hình tượng thì các câu này chưa được xếp vừa khít vào nhau mà cách
trình bày của các em còn lộn xộn, luộm thuộm, lủng củng. Xin xem dẫn chứng:
Các nhà thơ thời kỳ này đều ca ngợi tinh thần yêu nước, tinh thần quật khởi
chống xâm lăng. Ca ngợi tinh thần độc lập, ý thức tự cường chứa chan lòng yêu
nước. Ca ngợi cảnh thanh bình thònh trò. Các bài thơ của Trần Quang Khải, Phạm
Ngũ Lão, bài thơ “Thần” của Lý Thường Kiệt, “Bạch Đằng Giang Phú’ của Trương
Hán Siêu… đã khẳng đònh nội dung văn học thời kỳ này. Trong số đó bài “Hòch tướng
só”của Trần Hưng Đạo là một trong những bài tiêu biểu. Bài hòch ra đời năm 1285.
bài hòch kêu gọi tướng só nêu cao tinh thần yêu nước, chí căm thù giặc mà ra sức
chiến đấu. Tác giả đã kêu gọi tướng só hãy từ bỏ lối sống hưởng lạc, ra sức học tập

nhau làm cho đoạn văn diễn đạt lộn xộn và lủng củng. Thực ra thì cả thầy và trò,
trước đây - khi ngữ pháp văn bản chưa ra đời, chỉ được trang bò lý thuyết ngữ pháp
đến câu là cùng. Giáo viên chỉ ra sức dạy cho học sinh viết câu đúng, cách sửa lỗi

22
chính tả, lỗi dùng từ, lỗi đặt câu ; còn cách sửa lỗi đoạn văn thì chưa. Mãi đến lớp
12, trong sách tập làm văn mới có một số kiểu lỗi lập luận như: “luận chứng thiếu
logic: lập luận có mâu thuẫn, lập luận không nhất quán, lập luận không đủ lý do;
sắp xếp dẫn chứng không hợp lý,v.v.”. Do vậy, để khắc phục những hạïn chế trên
cần phải cung cấp cho giáo viên và học sinh những lý luận cơ bản trong việc sử
dụng câu để cấu tạo nên một bài văn. Những lý luận đó thuộc về ngữ pháp văn
bản.
1.2 KHÁI NIỆM VỀ VĂN BẢN
1.2.1 Khái niệm chung về văn bản (text)
Hiện nay, khái niệm về văn bản vẫn chưa được sự thống nhất giữa các nhà
ngôn ngữ. Có quan niệm cho rằng văn bản là biểu hiện sự kiện nói bằng các dạng
viết “written text” hoặc là đơn thoại không tương tác (non-interactive monolongue).
Hoặc văn bản lại là cái kiến trúc lý luận trừu tượng mà diễn ngôn sẽ hiện thực hóa
nó (Van Dijk); vì thế mới có liên kết văn bản (textual cohesion) và mạch lạc diễn
ngôn (discourse coherence) có nghóa là liên kết văn bản nhận diện được qua bề mặt
từ ngữ, qua ngữ pháp và qua sự triển khai mệnh đề, còn mạch lạc diễn ngôn lại
hoạt động giữa các hành động nói (H.G.Widdowson); Một cách nhìn tương tự của
Guy Cook: “Văn bản là một chuỗi ngôn ngữ lý giải được ở mặt hình thức, bên ngoài
ngữ cảnh”, v.v.
Từ các quan niệm trên, theo chúng tôi văn bản có thể được hiểu
một cách khái quát như sau:

Văn bản là đơn vò của ngôn ngữ trong sử dụng. Nó không được xác đònh kích
cỡ. Nó khác với câu về mặt chủng loại.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status