Học viện Ngân hàng
Lời mở đầu
1. Tính cấp thiết
Thông tin bất cân xứng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến thất bại của
thị trường, trạng thái mà tại đó thị trường không đạt được sự phân phối các nguồn lực
tối ưu. Ngày nay, vấn đề thông tin bất cân xứng xuất hiện ở hầu khắp các thị trường và
đòi hỏi một thị trường cần phải có một cơ chế đặc thù riêng nhằm xử lý vấn đề thông
tin bất cân xứng, hạn chế tác động của nó đến các bên tham gia cũng như đến toàn bộ
nền kinh tế.
NHTM đơn thuần chỉ là một tổ chức kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận. Cấp tín
dụng là một trong những nghiệp vụ kinh doanh chính của các ngân hàng, đem lại hơn
80% tổng doanh thu cho các NHTM Việt Nam. Trong hoạt động tín dụng, các ngân
hàng luôn là người có ít thông tin về dự án, về mục đích sử dụng khoản tín dụng được
cấp hơn khách hàng. Do đó, để đảm bảo an toàn trong hoạt động của mình, bản thân
các tổ chức tín dụng phải xử lý thông tin bất cân xứng để hạn chế lựa chọn sai lệch và
rủi ro đạo đức nhằm cho vay đúng người đúng đối tượng, và giám sát chặt chẽ để
khách hàng vay vốn có hành vi đúng đắn nhằm đảm việc thu hồi cả gốc và lãi khoản
tín dụng đã cấp ra. Tuy nhiên, hầu như không một NHTM nào ở Việt Nam hiện nay có
đủ khả năng tự mình xử lý được vấn đề thông tin bất cân xứng mà đòi hỏi cần phải có
một cơ sở hạ tầng và những điều kiện cần thiết nhằm tránh xảy ra những vấn đề về hệ
thống ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế.
Nhận thức được sự cần thiết trong vấn đề xử lí thông tin bất cân xứng, nhóm chúng
tôi đã mạnh dạn lựa chọn vấn đề: “Giải pháp khắc phục tình trạng thông tin bất
cân xứng trong hoạt động tín dụng của các Ngân hàng Thương mại Việt Nam”
làm đề tài cho bài tiểu luận này.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
• Đối tượng nghiên cứu:
- Những vẫn đề lý luận cơ bản về thông tin bất cân xứng trong hoạt động kinh doanh
của NHTM
- Thực trạng thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng của các NHTM Việt Nam
Nhóm 1 Lớp CH 15.02B
1.1.2. Các dạng của thông tin bất cân xứng
1.1.2.1. Lựa chọn sai lệch
Lựa chọn sai lệch là kết quả của thông tin bị che đậy, nó xảy ra trước khi thực hiện
giao dịch (hay trước khi ký hợp đồng). Khi trên thị trường người mua có thông tin về
cá nhân mình và che đậy thông tin và người bán không có đủ thông tin về người mua,
với mức giá đồng nhất đối với tất cả người mua, thì chi phí lựa chọn sai lệch sẽ do
người bán gánh chịu. Ngược lại, khi trên thị trường người bán nắm rõ thông tin và sản
phẩm của mình và che đậy thông tin, và người mua không có đủ thông tin về sản
phẩm, chi phí lựa chọn sai lệch sẽ do người mua gánh chịu.
1.1.2.2. Rủi ro đạo đức
Rủi ro đạo đức xảy ra sau khi thực hiện giao dịch, do các hành động có tác động
đến hiệu quả nhưng lại không dễ dàng quan sát được. Vì thế, những người thực hiện
các hành động này có thể chọn theo đuổi lợi ích cá nhân của mình trên cơ sở gây tổn
hại cho người khác. Điều kiện tồn tại của rủi ro đạo đức bao gồm: phải có sự khác biệt
về quyền lợi giữa các bên, phải có cơ sở để tạo ra mẫu thuẫn về quyền lợi, và phải tồn
tại những khó khăn trong việc xác định tính tuân thủ điều kiện thỏa thuận
1.2. Bất cân xứng thông tin trong hoạt động tín dụng của NHTM
1.2.1. Khái quát hoạt động tín dụng của NHTM
Luật các Tổ chức tín dụng 2010 định nghĩa như sau: “Cấp tín dụng là việc thỏa
thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một
khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê
tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.”
Nhóm 1 Lớp CH 15.02B
3
Học viện Ngân hàng
Trong hệ thống NHTM, hoạt động tín dụng là nghiệp vụ kinh doanh chính đem lại
doanh thu. Tuy nhiên, đây cũng là một hoạt động có nhiều rủi ro, cũng như gây thiệt
hại lớn cho hệ thống NHTM.
Theo kinh nghiệm của nhiều nước và từ nhiều nghiên cứu, trừ những cú sốc bất
ngờ như khủng hoảng, kinh tế, thiên tai… nguyên nhân gây ra tình trạng nợ xấu nhiều
thường vấp phải nhiều khó khăn đến từ cả phía ngân hàng và khách hàng. Vì vậy, nếu
không có sự giám sát chặt chẽ có thể dẫn đến việc khách hàng sử dụng vốn mạo hiểm
quá mức, sử dụng vốn sai mục đích, đầu tư vào những dự án kém hiệu quả…gây thiệt
hại cho ngân hàng.
1.2.4 Hậu quả của bất cân xứng thông tin trong hoạt động tín dụng
Hậu quả từ việc bất cân xứng thông tin trong hoạt động cho vay đó là nợ xấu. Đây
là những khoản nợ có khả năng mất vốn cao, gây ra rủi ro cho NHTM, Theo quy định
của NHNN, nợ xấu bao gồm nợ thuộc nhóm 3, 4 và 5.
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: các khoản nợ quá hạn từ
90 đến 180 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn
dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại; các khoản nợ khác được
phân loại vào nhóm 3 theo quy định khác.
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: các khoản nợ quá hạn từ 181 đến
360 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90
ngày đến 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại; và các khoản nợ khác
được phân loại vào nhóm 4 theo quy định khác.
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: các khoản nợ quá
hạn trên 360 ngày; các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý; các
khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo
thời hạn đã được cơ cấu lại; các khoản nợ khác được phân loại vào
nhóm 5 theo quy định khác.
Tóm lại, có thể thấy, bất cân xứng thông tin trong hoạt động tín dụng chính là
nguyên nhân chủ quan chủ yếu gây nên nợ xấu tại các NHTM. Hiểu rõ được bản chất
của sự bất cân xứng thông tin sẽ giúp cho việc đánh giá thực trạng hiện nay sẽ trở nên
chính xác hơn, từ đó xây dựng được những giải pháp phù hợp.
Nhóm 1 Lớp CH 15.02B
5
Học viện Ngân hàng
Nhóm 1 Lớp CH 15.02B
Học viện Ngân hàng
7
Học viện Ngân hàng
Nguồn thông tin trong thẩm định của các NHTM hiện nay chủ yếu là từ các báo
cáo tài chính của người đi vay, thông tin mà người đi vay cung cấp. Tuy nhiên, điều
nguy hiểm cho các NHTM là việc người đi vay hoàn toàn có thể làm giả các số liệu
nhằm làm đẹp hồ sơ, đảm bảo vay vốn được từ ngân hàng. Thực tế, các doanh nghiệp
khi có tư tưởng che giấu thông tin thường sẽ làm ba bộ báo cáo tài chính khác nhau,
trong đó một bộ nhằm đối phó với các cơ quan thuế, một bộ để dùng trong việc vay
vốn, và một bộ sử dụng trong nội bộ. Trong đó, số liệu thường thấp hơn thực tế, dẫn
tới không phản ánh đúng khả năng vay vốn của người đi vay.
Một nguồn thông tin mà NHTM thu thập khác là từ các đối tác của người đi vay.
Tuy nhiên, NHTM cũng không thể biết được liệu các đối tác đó có thỏa thuận ngầm
với người đi vay hay không trong việc làm giả các thông tin về mức độ uy tín trên
thương trường của người đi vay, các hợp đồng giao dịch mua bán tài sản, nguyên liệu
đầu vào, tiêu thụ sản phẩm,… nhằm mục đích đánh lừa ngân hàng.
Điều đáng quan tâm hiện nay là các NHTM thường rất mù mờ thông tin về nguồn
gốc, tình trạng, khả năng thanh khoản của tài sản đảm bảo. Có không ít các khách hàng
luôn có mong muốn sử dụng một tài sản nhằm đảm bảo cho nhiều khoản vay. Đây là
điều tiềm ẩn khá nhiểu rủi ro, đặc biệt khi tài sản đảm bảo không đảm bảo đủ khoản nợ
sau khi chia giá trị cho mỗi ngân hàng. Trong năm 2013 đã xảy ra trường hợp công ty
Trường Ngân cầm cố một kho hàng cà phê cho 7 NHTM khác nhau, không những số
lượng cà phê làm tài sản đảm bào không trùng khớp mà còn có khoảng 800 tấn rác
được độn trong các bao cà phê. Cả 7 Ngân hàng đã tranh giành nhau số lượng hàng
hóa cầm cố ít ỏi còn lại nhằm đảm bảo có thể xử lý và thu hồi nợ. Ngoài ra, việc đánh
giá không đúng giá trị tài sản đảm bảo cũng tiềm ẩn những mối nguy hại cho ngân
hàng khi không thể thu hồi đầy đủ giá trị khoản cho vay.
2.3 Nợ xấu trên toàn hệ thống NHTM
Sự thiếu hụt các thông tin cần thiết là một trong những nguyên nhân chính gây ra
nợ xấu cho các NHTM.
(nguồn: NHNN, cafef.vn, kinhdoanh.vnexpress.net)
trong quá trình hoàn thiện, trong đó bao gồm các cơ quan giám sát, kiểm tra nội bộ, và
Nhóm 1 Lớp CH 15.02B
9
Học viện Ngân hàng
hệ thống thông tin, cơ sở hạ tầng phục vụ cập nhật dữ liệu về khách hàng. Chính vì
điều này mà rủi ro trong quá trình hoạt động của các NHTM còn khá cao.
Ngoài ra, hiện nay, có thể thấy, các NHTM vẫn chưa hợp tác chặt chẽ, đồng bộ với
CIC, các cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm, các cơ quan thuế, hải quan, tổ chức kiểm
toán độc lập và các cơ quan quản lý có liên quan. Do đó, các NHTM không thể nắm
bắt đầy đủ thông tin khách hàng, đặc biệt là trong đối chiếu các số liệu báo cáo tài
chính, các thông tin về tình trạng tín dụng của khách hàng, tải sản bảo đảm, thông tin
do người đi vay và đối tác cung cấp.
Đặc biệt, cần phải chú ý đến hiện tượng nợ xấu của nhiều NHTM tăng cao trong
thời gian gần đây. Đó là bởi nguồn vốn cho vay của các Ngân hàng đang bị ứ đọng tại
bất động sản. Đã có thời kỳ các NHTM cho vay rất nhiều các dự án bất động sản,
nhưng đến thời điểm hiện nay, khi mà thị trường bất động sản “nguội ngắt”, các doanh
nghiệp bất động sản không thể bán được hàng, dẫn đến việc trả nợ cho ngân hàng là
điều hoàn toàn không thể, cộng với việc tăng trưởng tín dụng chậm lại, làm cho nợ xấu
của ngân hàng tăng cao. Nhiều ngân hàng đã bỏ quên các lĩnh vực sản xuất quan trọng
khác, dẫn đến hiện tượng “lựa chọn sai lệch” trong cho vay. Các NHTM đang thiếu
hụt đi một công cụ nhằm dự báo trong khoảng thời gian trung và dài hạn về tình hình
thị trường, các chính sách pháp luật,… trong các lĩnh vực, do đó dẫn tới việc chưa thể
đánh giá đúng những tiềm năng, lợi nhuận có thể thu được, khả năng thực hiện được
các hợp đồng tiêu thụ trong tương lai để tiến hành cho vay đúng đối tượng.
Các doanh nghiệp hiện nay vẫn chưa tạo ra được uy tín đối với Ngân hàng. Do việc
mở cửa thị trường, phát triển kinh tế mới được tiến hành gần đây, do đó, việc hình
thành mối quan hệ giữa ngân hàng và doanh nghiệp, với tư cách là người đi vay vẫn
chưa được lâu. Chính vì thế, các Ngân hàng rất khó xác định được thông tin về chữ
“tín” của các doanh nghiệp.
Với hệ thống văn bản pháp lý tương đối chặt chẽ từ NHNN, cũng như hệ thống văn
Thứ hai, cho phép và khuyến khích tư nhân đầu tư thành lập các trung tâm thông
tin tín dụng, các tổ chức đánh giá tín dụng độc lập. Điều này sẽ giúp các NHTM đa
dạng hóa các kênh thông tin, từ đó các thông tin về khách hàng đi vay sẽ đầy đủ hơn.
Tuy nhiên, NHNN vẫn cần phải nắm vai trò quản lý các trung tâm thông tin tín dụng
để tránh hiện tượng trục lợi, lừa đảo bằng cách sử dụng các thông tin sai lệch. Do đó,
NHNN cần xây dựng một hành lang pháp lý, trong đó quy định chất lượng thông tin,
nguồn thông tin cung cấp một cách chặt chẽ, các hình thức xử lý các hành vi vi phạm
đủ sức răn đe để đảm bảo thị trường cung cấp thông tin tín dụng hoạt động một cách
lành mạnh.
Thứ ba, NHNN cần hoàn thiện những văn bản pháp lý quy định rõ việc các tổ chức
tín dụng cung cấp thông tin cho phía CIC. Điều này là để đảm bảo các thông tin về
người đi vay được đảm bảo cập nhật thường xuyên, tránh hiện tượng các tổ chức tín
dụng ngại gửi thông tin.
Thứ tư, Chính phủ cần tăng cường các biện pháp xử phạt mang đủ tính răn đe,
trong đó tăng nặng các mức xử phạt đối với người đi vay trong trường hợp cố tình làm
giả hồ sơ nhằm lừa đảo ngân hàng, hoặc sử dụng vào mục đích đối phó với các cơ
Nhóm 1 Lớp CH 15.02B
11
Học viện Ngân hàng
quan quản lý, làm đẹp hồ sơ tài chính. Điều này sẽ làm nâng cao ý thức của người đi
vay trong việc trung thực kê khai các thông tin của bản thân.
Thứ năm, cần hoàn thiện các cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm, cơ quan thuế, hải
quan để các cơ quan này có thể hoạt động đúng vai trò của mình, hỗ trợ cho các
NHTM cung cấp các thông tin cần thiết về tài sản bảo đảm, phát hiện sự giả dối trong
báo cáo tài chính.
3.2 Về phía bản thân các NHTM
Bản thân các NHTM cần phải chủ động để khắc phục tình trạng bất cân xứng thông
tin, bởi điều này tác động trực tiếp đến chính sự hiệu quả trong hoạt động kinh doanh
của các Ngân hàng.
Thứ nhất, các NHTM cần hoàn thiện hệ thống thông tin liên lạc, các cơ sở dữ liệu.
khả năng tiêu thụ của các sản phẩm trong tương lai.
Thứ năm, hợp tác chặt chẽ trong cập nhật với các cơ quan có thẩm quyền và các cá
nhân, tổ chức có liên quan. Trong đó, phối hợp với các cơ quan đăng ký giao dịch bảo
đảm và một số tổ chức liên quan trong việc thông tin về các tài sản bảo đảm của người
đi vay. Điều này là vô cùng quan trọng để đảm bảo các NHTM sẽ có được đầy đủ
thông tin về tài sản bảo đảm, tránh được sự xung đột trong quá trình xử lý tài sản bảo
đảm khi khách hàng không trả được nợ. Trong khi đó, việc tăng cường hợp tác với
CIC sẽ giúp các NHTM có được đầy đủ thông tin về tình trạng tín dụng của khách
hàng, từ đó các ngân hàng đưa ra các quyết định tín dụng chính xác, giảm thiểu “lựa
chọn sai lệch”. Với những khách hàng tốt, ngân hàng có thể đưa ra những mức lãi suất
hấp dẫn, làm tăng tính cạnh tranh của ngân hàng. Với những khách hàng có tình trạng
vay nợ không tốt, ngân hàng có thể không cho vay, hoặc cho vay với mức lãi suất cao,
do đó làm tăng động cơ trả nợ của khách hàng, giảm thiểu “rủi ro đạo đức”. Ngoài ra,
việc hợp tác với các cơ quan thuế, hải quan, các tổ chức kiểm toán và các cơ quan khác
trong đối chiếu các số liệu, nhằm kiểm tra tính thống nhất giữa các báo cáo tài chính
mà các bên nắm giữ, một số thông tin mà người đi vay và các đối tác cung cấp, phát
hiện nhanh chóng ra sai lệch, đặc biệt là hiện tượng làm giả số liệu để đối phó. Quy
trình giám sát sẽ đạt hiệu quả cao hơn khi các NHTM phối hợp với các cơ quan quản
lý tại địa phương nhằm nắm bắt nhanh chóng các thông tin về việc sử dụng các khoản
vay của khách hàng.
Nhóm 1 Lớp CH 15.02B
13
Học viện Ngân hàng
Thứ sáu, không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ. Trong bất cứ ngành
nghề nào, con người luôn là nhân tố quan trọng nhất. Do đó, muốn khắc phục tình
trạng bất cân xứng thông tin trong hoạt động cho vay, thì cần đảm bảo đội ngũ nhân
viên đủ chất lượng để có thể thực hiện công việc một cách có hiệu quả. Do đó, không
chỉ nâng cao chất lượng trong quá trình thi tuyển và đào tạo nhân viên, việc đãi ngộ
hợp lý, cơ hội thăng tiến, cũng như thường xuyên kiểm tra nội bộ là điều không thể
thiếu. Tuy nhiên, bên cạnh đó, Ngân hàng cần phải quy định chặt chẽ, rõ ràng trong
doanh. Chính vì thế, hạn chế bất cân xứng thông tin trong hoạt động tín dụng chính là
đảm bảo sự an toàn cho chính các ngân hàng.
Trong những năm đã qua, đã có thời kỳ hoạt động tín dụng của các NHTM tại Việt
Nam tăng trưởng mạnh mẽ, thậm chí có nhiều năm tăng trưởng rất nóng. Việc mở rộng
cho vay, đặc biệt là thị trường bất động sản đã buộc các NHTM phải đối mặt với tình
trạng bất cân xứng thông tin. Hiện nay, các NHTM không có nhiều nguồn để thu thập
thông tin, chủ yếu qua CIC và các báo cáo tài chính của người đi vay. Cho nên, việc
thông tin sai lệch, không đẩy đủ vẫn chưa được khắc phục. Các NHTM chưa có sự hợp
tác chặt chẽ với các cơ quan quản lý, và các công cụ, bộ phận chuyên trách nhằm phát
hiện kịp thời những rủi ro có thể xảy ra.
Chính từ thực trạng như trên, để khắc phục tình trạng bất cân xứng thông tin trong
hoạt động tín dụng, cả ba phía, từ Chính phủ và NHNN, các NHTM đến bản thân
người đi cần phải thực hiện các giải pháp một cách đồng bộ. Trong đó, các giải pháp
này hướng tới việc xây dựng một cơ sở hạ tầng thông tin, nâng cao sự hợp tác giữa các
bên, tạo hành lang pháp lý để phát triển thị trường thông tin tín dụng nhằm giúp các
NHTM có thể tiếp cận thông tin đầy đủ, chính xác và nhanh chóng, đưa ra những dự
báo kịp thời để phòng chống rủi ro, giảm thiểu nợ xấu. Đây chính là hướng đi nhằm
giải quyết bất cân xứng thông tin, một trong những thất bại của thị trường.
Nhóm 1 Lớp CH 15.02B
15
Học viện Ngân hàng
BẢNG TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Giải nghĩa
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng Thương mại
CIC Trung tâm Thông tin Tín dụng
Nhóm 1 Lớp CH 15.02B
Học viện Ngân hàng
Danh mục tài liệu tham khảo
1. TS Huỳnh Thế Du, Thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng tại Việt
PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẤT CÂN XỨNG THÔNG TIN TRONG
HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG 3
1.1. Tổng quan về sự bất cân xứng thông tin 3
1.1.1. Khái niệm 3
1.1.2. Các dạng của thông tin bất cân xứng 3
1.2. Bất cân xứng thông tin trong hoạt động tín dụng của NHTM 3
1.2.1. Khái quát hoạt động tín dụng của NHTM 3
1.2.2. Lựa chọn sai lệch trong hoạt động tín dụng của NHTM 4
1.2.3. Rủi ro đạo đức trong hoạt động tín dụng của NHTM 4
1.2.4 Hậu quả của bất cân xứng thông tin trong hoạt động tín dụng 5
PHẦN 2: THỰC TRẠNG BẤT CÂN XỨNG THÔNG TIN TRONG HOẠT
ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI CÁC NHTM TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY 6
2.1 Quy mô tín dụng tại Việt Nam trong những năm qua 6
2.2 Các nguồn thông tin của các NHTM hiện nay 7
2.3 Nợ xấu trên toàn hệ thống NHTM 8
2.4 Nguyên nhân 9
PHẦN 3: GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG BẤT CÂN XỨNG
THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA CÁC NHTM 11
3.1 Về phía Chính phủ và NHNN 11
3.2 Về phía bản thân các NHTM 12
3.3 Đối với người đi vay 14
Kết luận 15
Nhóm 1 Lớp CH 15.02B