thiết kế bộ điều khiển hiện đại cho hệ thống vòng bi từ chủ động 4 bậc tự do - Pdf 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

TRẦN LỤC QUÂN

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ VÒNG BI TỪ CHỦ ĐỘNG

1.1 Giới thiệu chung.
Các vòng bi từ sử dụng các lực từ để hỗ trợ cho chuyển động của máy
mà không cần có tiếp xúc cơ học. Do đặc điểm treo không tiếp xúc, công
nghệ ổ đỡ mới này đưa ra một số các ưu điểm nổi bật so với các loại ổ đỡ
thông thường, ví dụ như ổ đỡ vòng bi hay ổ đỡ chất lỏng. Những ưu điểm này
bao gồm loại bỏ được các hệ thống bôi trơn ổ đỡ, hệ số ma sát thấp, tốc độ
rotor cao và các đặc tính động có thể điều chỉnh được. Các vòng bi từ có khả
năng đáp ứng khả năng chịu tải lớn bằng cách tối ưu hóa hệ thống và các
thông số của vật liệu, bao gồm khe hở không khí của ổ đỡ, từ thông bão hòa
của vật liệu từ, diện tích bề mặt của ổ đỡ, số lượng vòng dây trên các cực từ
và công suất bộ khuếch đại. Các vòng bi từ có thể cho phép làm việc trong
các môi trường khắc nghiệt như: nhiệt độ cao, nhiệt độ thấp và chân không.
Một hệ thống đo lường hiện đại tích hợp trong hệ thống treo từ tính không chỉ
giám sát tức thời các thông số của hệ như vị trí rotor, độ lắc ngang, độ rung
động hướng trục, dòng điện, nhiệt độ và tốc độ quay mà hệ thống đo lường
này còn có thể phân tích được sự mất cân bằng bằng cách tính toán được vị trí
và biên độ của nó. Bộ điều khiển có thể thay đổi các thuộc tính tắt dần và độ
cứng của ổ đỡ. Điều này cho phép bộ điều khiển điều chỉnh được đặc tính

nhất thiết phải được bảo dưỡng định kỳ. Công việc bảo dưỡng này trở thành
một bài toán nan giải khi các động cơ làm việc trong một số lĩnh vực ứng
dụng đặc biệt có môi trường khắc nghiệt như: nhiệt độ cao hoặc rất thấp, hóa
chất độc hại, phóng xạ hay thậm chí ngoài không gian…, lúc này đòi hỏi
người bảo dưỡng phải có tay nghề cao và kèm theo là chi phí bảo dưỡng rất
lớn. Chính xuất phát từ vấn đề thực tế này, rất nhiều các nghiên cứu hướng
đến mục tiêu thay thế các ổ đỡ truyền thống bằng các biện pháp mới mà
không đòi hỏi nhu cầu bảo trì và bảo dưỡng, trong đó sử dụng các vòng bi từ
là một trong những hướng nghiên cứu thành công [1, 2].
Trên thực tế, phát minh sớm nhất liên quan vòng bi từ tích cực được cấp
cho Jesse Beams tại trường Đại học Virginia trong thời kỳ Chiến tranh thế
giới thứ II [3]. Sáng chế này ứng dụng cho quá trình siêu ly tâm để phục vụ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3
cho công đoạn tinh luyện trong sản xuất quả bom nguyên tử đầu tiên. Tuy
nhiên, công nghệ lúc đó chưa đủ lớn mạnh cho đến khi xuất hiện các công
nghệ tiên tiến về điện tử bán dẫn và điều khiển bằng máy tính, cùng với
những nghiên cứu của Habermann và Schweitzer. Sau đó các nghiên cứu về
vòng bi từ thuộc chương trình nghiên cứu Máy điện quay và Điều khiển công
nghiệp vẫn được tiếp tục tại Đại học Virginia. Cho đến năm 1988, chỉ có một
vài viện nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu các vòng bi từ. Có thể kể đến ở
đây gồm: phòng thí nghiệm Higuchi, ĐH Tokyo (Nhật Bản), phòng thí
nghiệm Schweitzer, Học viện công nghệ Zurich (Thụy Sỹ), phòng thí nghiệm
Allaire, ĐH Virginia (Hoa Kỳ) và phòng thí nghiệm Matsumura, ĐH
Kanazawa (Nhật Bản) [5]. Tại hội nghị khoa học quốc tế đầu tiên về công

đóng góp quan trọng trong ngành công nghiệp bán dẫn. Ngoài ra, công nghệ
chân không, các máy nén đã thu được những thành công nhất định dựa trên
các hệ thống AMB. Tim nhân tạo đang hứa hẹn những bước đi đột phá cho
các ứng dụng y sinh trong tương lai không xa [5].
Đầu năm 1987, Akira Chiba đã đề xuất khái niệm cơ bản về động cơ
không ổ đỡ. Một năm sau đó, năm 1988, một mô hình động cơ không ổ đỡ đã
được xây dựng tại Trường ĐH Khoa học Tokyo. Mẫu phát minh cho ý tưởng
về động cơ không ổ đỡ cho các loại máy điện khác nhau, chẳng hạn như: cảm
ứng, kích thích vĩnh cửu, từ trở đồng bộ… được đệ trình ngay sau đó một
năm [1]. Từ đó đến nay, khái niệm này đã được phát triển cho nhiều loại máy
điện khác nữa. Một số những đóng góp đáng kể đối với sự phát triển của động
cơ dùng AMB được tổng hợp trong bảng 1.1 [16]. Kể từ giữa những năm
1990s, máy điện không ổ đỡ đã được triển khai nghiên cứu ở Thụy Sỹ, Áo,
Đức, Anh, Pháp, Canada, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Hàn Quốc và các nơi khác.
Sau 20 năm phát triển, những đánh giá khái quát về triển vọng phát triển
trong tương lai của các vòng bi từ nói chung và của AMB nói riêng đã được
nhận định. H. Bleuler [5] chỉ ra rằng xu hướng tích hợp hệ thống sẽ không
còn phát triển nhanh chóng như một số năm trước đây nữa, thay vào đó là sự
phát triển các ứng dụng. Hướng phát triển mới cho các vòng bi từ thụ động
đang hé mở ra những ứng dụng mới và hứa hẹn sẽ phát triển nhanh chóng.
Ngoài ra, các loại ổ đỡ tự cảm biến đã và đang nhận được rất nhiều sự quan
tâm từ các nhà nghiên cứu để nỗ lực chuyển thể thành công thành những ứng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5
dụng công nghiệp. Các vòng bi từ sẽ tiếp tục là mối quan tâm lớn của các nhà

Nhật Bản

1996
Động cơ trượt không ổ đỡ
Động cơ treo từ tính hướng trục
Schoeb
Okada
Thụy Sỹ
Nhật Bản
1997
Động cơ treo từ tính cho các thiết bị bơm máu
Okada
Nhật Bản

1998
Động cơ không ổ đỡ kiểu AMB lai
Động cơ trượt không ổ đỡ cho bơm máu ly tâm
Okada
Ueno
Nhật Bản
Nhật Bản
1999
Động cơ không ổ đỡ kiểu đơn cực
Ichikawa
Nhật Bản
2000
Động cơ không ổ đỡ kiểu lực Lorentz
Động cơ - Ổ đỡ kết hợp kiểu khe hở hướng trục
hai chiều
Okada

Công trình nghiên cứu
Tác giả
Quốc gia
2007
Động cơ không ổ đỡ kiểu từ trở đồng bộ
Takemoto
Nhật Bản
2009
Động cơ không ổ đỡ dạng đĩa cho tim nhân tạo
Asama
Nhật Bản
2010
Điều khiển phản hồi phi tuyến cho động cơ DC
không chổi than, không ổ đỡ
Grabner
Áo

1.3 Nguyên lý làm việc cơ bản và phân loại của các vòng bi từ
1.3.1 Nguyên lý làm việc cơ bản
Cấu trúc điện - từ cơ bản và một bộ điều khiển phản hồi cho một hệ
thống treo từ tính một trục được thể hiện như trong hình vẽ 1.1. Kích thích
của cuộn dây sẽ tạo ra lực từ để treo đối tượng kim loại hình chữ nhật. Khi đó
đối tượng sẽ được giữ tự do theo phương thẳng đứng. Dòng điện i sẽ tạo ra từ
thông ψ. Đường đi của từ thông được thể hiện bằng đường nét đứt và đi qua
khe hở không khí hai lần theo chiều thẳng đứng. Lực hấp dẫn giữa vật thể treo
và lõi sắt từ là một hàm số của dòng điện i, và tỷ lệ thuận với bình phương với
dòng điện i khi lõi sắt từ chưa bão hòa. Trong các điều kiện xác lập, lực hấp
dẫn này được điều chỉnh để bằng với tích của trọng lượng vật treo m và gia
tốc trọng trường g
a
Dòng điện i chạy trong một cuộn dây, và nếu ta giả thiết rằng cuộn dây
có số vòng dây là N thì khi đó một lực từ động (MMF) được sinh ra và bằng
Ni. Với các vật liệu sắt từ có độ thẩm từ cao thì từ thông sẽ đi theo đường như
trong hình vẽ và đi qua khe hở hai lần. Độ tập trung từ thông cực đại trong
khe hở không khí sẽ quyết định độ lớn của lực trong phần điện từ. Độ tập
trung từ thông lớn sẽ tạo ra lực từ lớn. Tuy nhiên, độ tập trung từ thông cực
Hình 1.1[1]: Cấu trúc cơ bản của một hệ thống treo từ tính
Hình 1.2[1]: Chức năng cơ bản của một vòng bi từ chủ động:
Treo rotor theo phương thẳng đứng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
đại được giới hạn trong khảng từ 1.7 – 2T đối với thép silic thông thường.
Một lưu ý quan trọng nữa đó là chiều dài khe hở không khí phải được giữ
càng nhỏ càng tốt để giảm dòng điện và các tổn thất.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
với bề mặt của các lớp vật liệu khác nhau. Sai lệch tương đối của độ thẩm từ
càng lớn thì lực f càng lớn. Với các vật liệu sắt từ có μ
r
>> 1 thì các lực này
có thể rất lớn, do vậy mà nó có thể đáp ứng được những yêu cầu trong các
ứng dụng kỹ thuật. Trong các tài liệu về máy điện, độ cản từ được gọi là từ
trở. Giá trị này tỷ lệ nghịch với độ thẩm từ μ
r
. Lực tác động theo cách này
thường có xu hướng làm giảm độ từ trở. Các động cơ điện khai thác thuộc
tính này được gọi là động cơ từ trở.
Một điều kiện tiên quyết nữa đó là các lực từ tác động lên vật thể phải
giữ cho vật thể ở trong trạng thái treo ổn định. Trong các ứng dụng công
nghiệp, thông thường một mạch vòng điều khiển là cần thiết để thích ứng liên
tục từ trường đối với chuyển động của vật thể treo. Yêu cầu này dẫn đến khái
niệm các vòng bi từ tích cực.
Nằm trong nhóm phân loại này gồm có các bộ treo từ loại 1 đến loại 4.
Loại 1 được gọi là các bộ treo lực từ trở tích cực. Kiểu này thậm chí còn có
thể phân biệt theo nhiều dạng khác nhau, chẳng hạn như theo cách điều khiển
tích cực, theo từ trường, từ thông, khoảng cách giữa stator và rotor được điều
khiển. Loại 2 là các bộ treo dùng mạch LC. Mạch LC được cấu trúc bởi điện
cảm của cuộn dây treo điện từ và một tụ điện. Độ chuyển dịch của rotor làm
thay đổi điện cảm của mạch điện từ. Mạch LC làm việc tại vùng gần cộng
hưởng và được điều chỉnh sao cho tiếp cận vùng cộng hưởng khi rotor dịch
chuyển ra xa khỏi phần điện từ. Điều này tạo ra một dòng điện gia tăng từ
nguồn điện áp xoay chiều và do đó sẽ kéo rotor trở lại vị trí danh định của nó.

trong giai đoạn nghiên cứu tại phòng thí nghiệm và các ứng dụng công nghiệp
của nó sẽ phát triển mạnh trong thời gian không xa.
Trường hợp thứ hai trong phân loại các kiểu treo từ tính được gọi là lực
điện từ (hay là lực Lorentz). Lực này do trường điện từ tác động lên các hạt
mang điện tích gây nên.
f = Q(E + v x B) (1.2)
với, E là vector cường độ điện trường tại vị trí của hạt; Q là điện tích của hạt;
v là vector vận tốc chuyển động của hạt và B là mật độ từ thông. Khi không
quan tâm đến khái niệm tĩnh điện, ta bỏ qua E tại (1.2) và (Q.v) được thay thế
bằng dòng điện i, Từ đây dẫn đến công thức sau:
f = i x B (1.3)
Lực tạo ra vuông góc với các đường từ thông, độc lập với khe hở không
khí và phụ thuộc tuyến tính với dòng điện (ta giả thiết ở đây là từ thông cũng
không phụ thuộc vào dòng điện). Dựa trên lực Lorentz, các kiểu treo từ tính
lại được chia ra làm 4 loại khác nhau dựa trên dòng điện i. Đối với dòng điện
cảm ứng thì ta có hai cơ chế có thể xảy ra: hoặc là có sự tương tác giữa một từ
trường vĩnh cửu với một vật dẫn chuyển động, hoặc là sự tương tác xảy ra,
khi không có chuyển động tương đối, giữa một vật dẫn và điện từ biến thiên
(nguồn xoay chiều). Trường hợp còn lại, dòng điện có thể được điều khiển

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
tích cực và tương tác với một từ trường. Với loại này lại có 2 khả năng xảy ra:
hoặc là từ trường được tạo ra bởi một từ trường vĩnh cửu, hoặc là có sự tương
tác giữa dòng điện điều khiển và dòng điện cảm ứng. Cả bốn kiểu này được
mô tả tuần tự trên hình vẽ từ loại 5 đến loại 8 [2].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
khả năng tắt dần thấp. Vậy nên loại này bị hạn chế trong các ứng dụng công
nghiệp mà có sự xuất hiện của nguồn dao động tắt dần [2].
1.4.1 Các cấu trúc cơ bản của AMB
Dưới đây mô tả một số cấu trúc đặc trưng của máy điện không ổ đỡ.
Trong đó, các cấu trúc vòng bi từ chủ động theo hai phương, theo năm
phương và sự phối hợp giữa các vòng bi từ thông thường và các ổ đỡ cơ khí
sẽ được đề cập cụ thể [2].
Hình 1.4(a, b) trình bày một cấu trúc treo từ tính theo hai phương. Trong
hình 1.4(a), trục động cơ nằm trong lõi của rotor. Treo từ tính theo hai
phương được nhận biết bởi các lực từ giữa rotor và stator. Tại phía cuối của
trục động cơ có bố trí một trục xoay nhằm định vị hướng trục và hướng kính
cho đầu cuối của trục. Cấu trúc này phù hợp cho các máy trục đứng. Trong
khi tại hình 1.4(b), trục động cơ bị loại bỏ ra khỏi cấu trúc. Định vị tích cực
theo hai phương tạo ra quá trình treo thụ động cho chuyển động hướng trục và
nghiêng. Do đó, ta có thể nhận ra được treo thụ động bởi sự hạn chế về độ dài
của lõi trục. Tuy nhiên, với thiết kế đúng đắn, loại này cho ra các hệ truyền
động không ổ đỡ nhỏ gọn và giá thành thấp.
Hình 1.5(a, b, c và d) thể hiện mặt cắt ngang của một số cấu trúc treo tích
cực theo năm phương. Hai bộ treo được dùng để tạo ra các lực hướng kính
theo bốn phương. Một bộ treo từ chặn là để định vị tích cực hướng trục trên
phương thứ năm. Trong hình 1.5(a), có hai rotor nằm trên trục theo vị trí cái
Hình 1.5: Các kiểu vòng bi từ chủ động theo năm phương: (a) rotor ở bên
trong; (b) rotor ở bên ngoài; (c) rotor rỗng; (d) không gian giữa cho máy tải

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14
Hình 1.6(a, b và c) biểu diễn mặt cắt ngang của các bộ treo khác nhau khi
chúng được phối hợp với các loại ổ đỡ thông thường, cơ khí và từ tính. Trong
hình 1.6(a), khối bên trái là một ổ đỡ từ tính hướng kính thông thường. Chỉ có
khối bên phải là một bộ treo. Cách bố trí này phù hợp với tải có lực hướng
kính lớn ghép ở đầu trục phía trái. Trong hình 1.6(b), các ổ đỡ cơ khí được đặt
tại hai đầu của bộ treo. Khi quay ở tốc độ rất cao, trục động cơ có tốc độ tới
hạn gây ra xoắn trục. Rung động sẽ xuất hiện tại tốc độ này. Bộ treo có thể
ngăn chặn những rung động này. Trong hình 1.6(c), tải được điều khiển bằng
một động cơ thông thường có trục dài. Bộ treo được đặt gần chính giữa của
trục nhằm ngăn chặn sự rung động trên trục động cơ.

. Vòng bi từ bên phải được điều chỉnh trong hệ trục tọa độ x
2

y
2
. Vị trí của ổ chặn theo trục z (là hướng của trục động cơ) được điều chỉnh
bởi các lực hướng kính sinh ra từ một vòng bi từ chặn. Như vậy, tổng thể có
tất cả năm trục tọa độ x
1
, y
1
, x
2
, y
2
và z được điều khiển bởi các hệ thống treo
từ tính.
Mỗi một vòng bi từ có bốn cuộn dây trên stator, hai cuộn dây được bố trí
trên trục x và hai cuộn dây được bố trí trên trục y. Dòng điện trên một cuộn
dây sẽ sinh ra lực từ hấp dẫn. Lực hướng kính theo phương trục x được sinh
ra do sai lệch giữa các lực từ hấp dẫn do các cuộn dây trên trục x gây ra.
Dòng điện trong các cuộn dây của hai vòng bi từ được điều khiển bởi các
mạch điện tử công suất, thông thường là các bộ biến tần nguồn áp một pha.
Một bộ biến tần một pha điều khiển dòng điện trên một cuộn dây. Do đó, cần
phải có bốn bộ biến tần một pha với tám đầu ra cho mỗi vòng bi từ.
Trong vòng bi từ chặn gồm có hai cuộn dây, do đó hai bộ biến tần một
pha được dùng để điều chỉnh các dòng điện trên các cuộn dây này và tạo ra
lực hướng kính theo hướng trục.
hướng kính cho x
1
và y
1
trong khi x
2
và y
2
được định vị bởi bộ treo bên phải.
Mômen quay tổng sẽ bằng hai lần mômen danh định của bộ treo. Mỗi một bộ
treo có ba đầu cực cho dây quấn treo và ba đầu cực khác cho dây quấn động
cơ. Dây quấn các pha tương ứng của động cơ trong mỗi bộ được mắc nối tiếp
như trong hình 1.5 sao cho hai cuộn dây mắc nối tiếp trên mỗi pha tạo thành
ghép nối Y. Hình 1.8: Truyền động không ổ đỡ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17

chống bụi bẩn sẽ cho phép những loại ổ đỡ này được sử dụng trong các hệ
thống chân không, trong các môi trường sạch tuyệt đối hoặc ở môi trường
nhiệt độ rất cao.
 Khoảng cách giữa rotor và ổ đỡ thường là rất bé, chỉ bằng khoảng
một vài phần của 1mm, tuy nhiên trong một số ứng dụng cụ thể, nó có thể lên
đến 20mm.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

18
 Rotor có thể cho phép quay ở các tốc độ cao. Tốc độ quay tròn bên
trong ổ đỡ, chỉ bị giới hạn bởi độ bền vật liệu của rotor.
 Tổn thất trong ổ đỡ thấp. Khi làm việc ở tốc độ cao, tổn thất do các
bộ AMB gây ra thấp hơn từ 5 đến 20 lần so với các loại ổ đỡ thông thường.
 Khả năng chịu tải cụ thể của AMB phụ thuộc vào vật liệu sắt từ và
thiết kế của nó, thông thường khoảng 20N/cm
2
và có thể đạt đến 40N/cm
2
.
 Động lực học của quá trình treo không tiếp xúc phụ thuộc chủ yếu
vào luật điều khiển được áp dụng. Một bộ vi xử lý sẽ thực thi việc điều khiển
khiến cho thiết kế điều khiển trở nên rất linh hoạt. Do đó, mà nó có thể làm
thích ứng độ cứng và độ tắt dần với công việc treo và với trạng thái làm việc
thực cũng như là với tốc độ của rotor. Điều này chỉ ra rằng độ cứng động có
thể sử dụng cho việc cách ly rung động, để vượt qua các tốc độ tới hạn mà
không làm gia tăng một lượng lớn về biên độ của rung động, hoặc để ổn định


Công nghệ điện tử công suất đã có sự đóng góp to lớn đến sự phát triển
của cả động cơ treo từ tính và động cơ không ổ đỡ. Với sự góp mặt của các
thiết bị điện tử công suất có tần số đóng cắt cao như IGBT và MOFET thì
việc điều khiển dòng điện tức thời là hoàn toàn có thể. Ngày nay, các thiết bị
điện tử công suất này thường được tích hợp chung vào trong một module
công suất. Module công suất gồm có sáu thiết bị công suất cấu thành một bộ
biến tần ba pha, cũng như là các mạch điều khiển cực gate và các mạch bảo
vệ khiến cho việc điều chỉnh dòng điện trở nên tin cậy hơn. Chính nhờ sự phát
triển như vũ bão của công nghệ hiện nay khiến cho giá thành của hệ thống
điều chỉnh dòng điện giảm đi đáng kể và giá thành của module công suất cũng
giảm do các bộ biến tần nguồn áp ba pha được sản xuất hàng loạt và sử dụng
rộng rãi trong công nghiệp và dân dụng.
Xử lý tín hiệu số cũng có những bước tiến rõ rệt trong những năm vừa
qua. Điều này khiến cho tốc độ tính toán được tăng lên rất cao trong khi giá
thành lại giảm đi. Có thể nhận thấy rằng treo từ tính yêu cầu khoảng thời gian
trích mẫu khá nhỏ so với truyền động động cơ. Nguyên nhân là do treo từ tính
có bản chất không ổn định do đó mà các bộ điều khiển vi phân hoặc sớm pha
(phase-lead) cần thiết phải nhận biết được quá trình treo từ tính ổn định. Để
đạt được biên pha tại tần số cắt thì cần thiết phải có khả năng trích mẫu
Hình 1.9: Các công nghệ liên quan

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

20
nhanh. Yêu cầu đối với tần số trích mẫu phụ thuộc vào quán tính cơ và độ
cứng thiết kế. Nhờ vào sự phát triển của xử lý tín hiệu hiện nay, các bộ xử lý

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

21
tải tương đối lớn. Tốc độ cao là một yêu cầu cần thiết trong quá trình mài
chính xác các chi tiết nhỏ.
 Máy gia tốc: Đây chính là lĩnh vực ứng dụng chính của AMB. Lĩnh
vực này bao trùm từ các máy bơm gia tốc phân tử (turbo-molecular pumps)
cỡ nhỏ cho đến các máy phát và máy nén gia tốc có công suất cao
(Megawatts). Một ưu điểm đó là khả năng điều khiển và làm tắt dần rung
động, và đạt được đáp ứng động tốt như mong muốn. Hơn nữa, các đặc trưng
quan trọng khác đã được kiểm chứng bằng thực nghiệm đó là khả năng tự
điều khiển và chẩn đoán, giá thành bảo dưỡng rất thấp, và mức tiêu thụ năng
lượng thấp. Cùng với sự có mặt của các thiết bị điện tử công suất có hiệu suất
làm việc cao, AMB chính là sự lựa chọn cho các máy tốc độ cao có công suất
lớn, thay thế dần nhu cầu ghép nối giữa các máy phát gia tốc tốc độ cao đến
hộp giảm tốc trong hệ truyền động máy phát và các máy phát tốc độ thấp.  Các thiết bị y tế: Một ứng dụng cụ thể là việc sử dụng các vòng bi từ
trong bơm tim nhân tạo. Chính xác hơn đó là một thiết bị hỗ trợ tâm thất trái
làm nhiệm vụ trợ giúp cho quả tim yếu của bệnh nhân luôn giữ được lượng

được triển khai trong những năm gần đây, do đó số lượng các tác giả có
những kết quả công bố hay nghiên cứu đáng kể và chuyên sâu vào lĩnh vực
này là chưa nhiều. Bộ môn Tự động hóa – Đại học Bách Khoa Hà Nội là một
trong những cơ sở sớm có những triển khai liên quan. Các vấn đề chính được
quan tâm nghiên cứu tại đây bao gồm [7]:
 Nghiên cứu cơ bản về nguyên lý nâng bằng từ trường
 Nghiên cứu chế tạo
 Các phương pháp điều khiển vòng bi từ
 Nghiên cứu thu nhỏ kích thước cho động cơ nâng bằng vòng bi từ
 Tích hợp chức năng vòng bi từ dọc trục vào động cơ
 ĐK vector cho động cơ tự nâng không dùng cảm biến tốc độ
 Nghiên cứu ứng dụng

Trích đoạn Bộ quan sát Luenberger (Bộ quan sát bậc đủ) MÔ PHỎNG VÀ ĐÁNH GIÁ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status