lễ hội lồng tồng của dân tộc tày, nùng ở huyện cao lộc tỉnh lạng sơn - Pdf 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Lạng Sơn là một tỉnh miền núi, biên giới địa đầu của Việt Nam. Lạng
Sơn với phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp và hùng vĩ, có truyền thống đấu
tranh anh dũng bất khuất chống giặc ngoại xâm.
Lạng Sơn là vùng đất cộng cư lâu đời của nhiều dân tộc. Từ thời
nguyên thuỷ đã có con người sinh sống trong các hang động Thẩm Khuyên,
Thẩm Hai, Kéo Lèng Thời kỳ đồ đá dân cư đã đông đúc hơn ở trung tâm văn
hoá Bắc Sơn, Mai Pha. Hiện nay ở Lạng Sơn có các dân tộc người: Nùng,
Tày, Kinh, Dao, Sán Chay (Sán chỉ, Cao Lan), Hoa, Mông,Thái, Mường,
Ngái, Lô Lô, Êđê, Sán dìu. Họ có đời sống vật chất, tinh thần rất phong phú
không ngừng cùng nhau phát huy bản sắc văn hóa của miền quê biên giới giàu
truyền thống yêu quê hương, đất nước.
Cao Lộc huyện miền núi, biên giới nằm ở phía Đông – Bắc của tỉnh
Lạng Sơn, là mảnh đất đã từng ghi lại nhiều chiến công hiển hách của dân tộc
trong sự nghiệp kháng chiến chống giặc ngoại xâm, giữ gìn từng tấc đất biên
cương của tổ quốc với những chiến công lẫy lừng như hạ thành Khâu ôn, cửa
Pha Luỹ (Hữu Nghị Quan) năm 1427 làm nên đại thắng Chi Lăng. Tinh thần
đại đoàn kết các dân tộc trong đấu tranh bảo vệ biên cương được ghi tại bia
Thuỷ môn đình Đồng Đăng năm 1670.
Cao Lộc, nơi quần tụ sinh sống của các dân tộc Tày, Nùng, Kinh, Dao.
Đồng bào Tày, Nùng có khá nhiều lễ hội, ví như lễ hội trong các dịp Tết
Nguyên đán, Tết Thanh minh, Tết Trung thu, Tết Đoan ngọ. Lễ hội Lồng
Tồng là lễ hội tiêu biểu của đồng bào diễn ra vào sau Tết Nguyên đán hàng
năm.
Lễ hội Lồng Tồng thu hút hàng vạn người tham gia, trong đó có du
khách thập phương của cả nước.Việc tìm hiểu về lễ hội Lồng Tồng của dân

chép trong các sách địa chí như: Đại Nam nhất thống chí, Sơn Tây tỉnh chí.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

3
Sau khi thực dân Pháp đặt ách thống trị lên đất nước ta, các học giả người
Pháp đã có một số chuyên khảo về lễ hội như Une Fête religieuse annamite
au village de Phù Đổng của Đuymuchiê.
Một số nhà nghiên cứu, nhà nho, nhà báo người Việt cũng công bố các
chuyên khảo có đề cập đến một phần hay toàn bộ lễ hội như "Việt nam phong
tục" của Phan Kế Bính Hay các bài báo giới thiệu các lễ hội trên các báo
Phong hoá, Trung Bắc chủ nhật, Ngày nay
Tác giả Toan Ánh đã giới thiệu các hội hè làng quê miền Bắc trong
cuốn Nếp cũ - Hội hè đình đám (hai tập); Ngoài ra còn có các chuyên khảo về
làng xã, phong tục, trong đó có đề cập đến lễ hội như Đất lề quê thói, Nếp cũ
làng xóm Việt Nam.
Ở miền Bắc, sau hòa bình lập lại các công trình đã xuất bản đề cập đến
nhiều vấn đề, trong đó liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến lễ hội như: Xã
thôn Việt Nam của Nguyễn Hồng Phong, Thời đại Hùng Vương (nhiều tác
giả), Mùa xuân và phong tục Việt Nam.
Năm 1969, tác giả Cao Huy Đỉnh với Người anh hùng làng Gióng là
tác phẩm đầu tiên bàn sâu về lễ hội, lấy lễ hội làm đối tượng nghiên cứu qua
đó nhằm giải quyết về lý luận mối quan hệ giữa lễ hội, truyền thuyết và nền
tảng xã hội trên quan điểm dân tộc học - lịch sử.
Trong những năm 1972 - 1978, trên "Thông báo dân tộc học" và Tạp
chí Dân tộc học đã công bố một số bài về lễ hội. Tuy nhiên các đề tài này tập
trung ở việc miêu tả lễ hội.
Từ giữa thập kỷ 80 trở đi việc nghiên cứu lễ hội được chú trọng hơn;
nhiều bài báo về lễ hội được đăng trên các Tạp chí Dân tộc học, Văn hoá nghệ
thuật, Văn hoá dân gian (ra mắt năm 1984), đáng lưu ý là hai tác giả Đặng
Văn Lung và Thu Linh với “Lễ hội truyền thống và hiện đại”. Đây là chuyên

Cuốn Mùa xuân và phong tục Việt Nam, NXb. Văn hoá, Hà Nội của
Trần Quốc Vượng, Lê Văn Hảo, Dương Tất Từ, 1976 trong 12 trang (tr.167-
178) các tác giả đã viết về "Hội Lồng Tồng: Những ngày hội xuân tiêu biểu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

5
của Việt Bắc" trong những trang này khi viết về hội Lồng Tồng các tác giả
cũng đã trình bày về nguồn gốc của hội qua một số truyền thuyết ở Lạng Sơn,
ở Cao Bằng và đề cập đến một số nghi lễ và trò chơi trong ngày hội.
Tác giả Hoàng Choóng với Hội Lồng Tồng, Tạp chí Dân tộc học, Hà
Nội, số 2, 1991 (tr.66-67) đã viết về "Hội Lồng Tồng ở Văn Lãng" trong đó
có trình bày về vị trí địa lý của huyện, từ đó nói về vị trí quan trọng của hội
Lồng Tồng của người Tày, Nùng, tác giả còn trình bày ý nghĩa của nghi lễ
cúng Thần nông và một số trò chơi trong lễ hội.
Tác giả Lê Văn Kỳ trong Lễ hội nông nghiệp Việt Nam, NXB Văn hoá
dân tộc, Hà Nội, 2002 trong 7 trang (tr.161-167) đã viết về "Lễ hội Lồng
Tồng của người Tày, Nùng ở miền núi phía Bắc Việt Nam" và đã trình bày về
thời gian, địa điểm mở hội, cách thức mở hội, những nghi lễ và các trò chơi
dân gian của lễ hội cũng được tác giả trình bày khá cụ thể.
Trong cuốn Các dân tộc Tày, Nùng ở Việt Nam, Viện dân tộc học,
NXB. Hà Nội, 1992 của nhiều tác giả trong 9 trang (tr.302-310) nói đến "Lễ
hội Lồng Tổng của cư dân Tày, Nùng" phần này đã trình bày về thời gian,
cách thức tổ chức lễ hội, các nghi lễ và trò chơi trong lễ hội.
Tác giả Hoàng Văn Páo với Lễ hội Lồng Tồng của người Tày bản Chu
xã Hưng Đạo, huyện Bình Gia tỉnh Lạng Sơn, NXB. Văn hoá dân tộc, Hà
Nội-2002, tác giả đã trình bày sâu sắc về lễ hội Lồng Tồng của người Tày ở
xã Hưng Đạo huyện Bình Gia.
Mặc dù có nhiều cuốn sách và các công trình nghiên cứu về lễ hội
Lồng Tồng ở nhiều địa phương trên cả nước; nhưng riêng về Lễ hội Lồng
Tồng của dân tộc Tày, Nùng ở huyện Cao Lộc, Lạng Sơn cho đến nay chưa

kế thừa, bảo tồn, phát triển những mặt tích cực trong lễ hội Lồng Tồng.
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tƣ liệu.
Để thực hiện đề tài này tác giả đã sử dụng những nguồn tài liệu
chính sau đây:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

7
- Tư liệu thành văn: Các tác phẩm, các công trình nghiên cứu khoa
học đã được công bố và đăng tải trên các báo, tạp chí, sách địa chí và nhiều ấn
phẩm khác nhau của địa phương và trong nước.
- Tư liệu điền dã: Là các thông tin thu thập được trong quá trình điều
tra, khảo sát thực tế tại địa phương, cũng như khai thác từ các nhân chứng.
Nguồn tư liệu này rất phong phú, tuy nhiên còn mang tính ước lệ thiếu tính
khoa học chính xác. Do đó khi sử dụng cần rất thận trọng, cần kiểm chứng và
xử lý một cách khoa học thì mới đủ sức tin cậy và sử dụng được.
4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Để thực hiện đề tài này tác giả sử dụng các phương pháp lịch sử,
phương pháp lôgíc, so sánh, tổng hợp kết hợp với phương pháp điền dã dân
tộc, phương pháp thống kê để thực hiện đề tài luận văn.
5. Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần nghiên cứu sâu về lễ hội Lồng Tồng của dân tộc
Tày , Nùng ở huyện Cao Lộc tỉnh Lạng Sơn trên cơ sở khai thác các nguồn
tài liệu, các tài liệu này không chỉ giúp cho việc tìm hiểu, nghiên cứu về lễ hội
truyền thống mà còn góp phần tìm hiểu về lễ hội hiện đại trong giai đoạn
hiện nay.
Luận văn bước đầu đưa ra những nét riêng của lễ hội Lồng Tồng ở Cao
Lộc, đồng thời so sánh với lễ hội Lồng Tồng cũng của dân tộc Tày Nùng ở
một vài huyện khác trong tỉnh.
Luận văn trình bày một cách hệ thống về tiến trình tổ chức lễ hội từ đó

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

9 BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH HUYỆN CAO LỘC

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

10
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN

1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của huyện Cao Lộc

Địa hình huyện Cao Lộc chia làm 4 phần khác nhau:
- Vùng có nhiều núi cao gồm các xã: Công Sơn, Mẫu Sơn, Đông Bắc
xã Gia Cát, Đông Nam xã Hải Yến, phía Nam Cao Lâu, Xuất Lễ. Đỉnh cao
nhất là Phia Mìa (Mè), Phia Giang cao 1541m, tiếp đến là các đỉnh Khau
Kheo cao 811m, Chóp Chài cao 800m.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

11
- Vùng địa hình đồi núi nhấp nhô có độ nghiêng dần về phía Bắc thuộc
các xã: Hoà Cư, Thuỵ Hùng, Yên Trạch, Hợp Thành.
-Vùng đồi bát úp, nón trũng thuộc các xã ven sông Kỳ Cùng và các
suối lớn là các xã: Tân Liên, Gia Cát.
-Vùng núi đất xen kẽ núi đá vôi có thung lũng lớn là các xã Hồng
Phong, Bình Trung, Phú Xá.
Khí hậu: Khí hậu các vùng cũng có sự khác biệt, giữa vùng núi Mẫu
Sơn và núi thấp khí hậu trung bình thường chênh lệch nhau vài độ. Lượng
mưa trên các triền núi cao vọt, trung bình hàng năm trên 2.500mm trong khi
vùng núi thấp và vùng lân cận lại là một trong những nơi ít mưa ở Bắc Bộ.
Hệ thống sông ngòi ở Cao Lộc gồm có sông Kì Cùng chảy qua bốn xã
Tân Liên, Gia Cát, Bình Trung thuộc địa bàn huyện Cao Lộc, dài 35km.
Ngoài ra có các suối lớn: Suối Bản Lề xã Xuất Lễ, bắt nguồn từ Mẫu Sơn
chảy qua một số xã rồi chảy sang Trung Quốc, suối Khuổi Van ở Cao Lâu,
suối Khuổi Tao ở Yên Trạch, suối Đồng Đăng bắt nguồn từ biên giới chảy ra
gặp sông Kì Cùng, suối Bản Lìm bắt nguồn từ Mẫu Sơn chảy ra sông Kì
Cùng, suối Khuổi Hái ở xã Hải Yến bắt nguồn từ Công Sơn.
Theo đánh giá sơ bộ, tài nguyên khoáng sản ở Cao Lộc có chì, kẽm,
quặng bôxit (nhôm), vàng sa khoáng ở sông Kì Cùng (xã Tân Liên, Gia Cát),
suối khoáng ở xã Mẫu Sơn, cát xây dựng ở xã Gia Cát, Song Giáp, mỏ đá
Hồng Phong ở xã Yên Trạch. Có đất sét làm gạch ngói ở xã Hợp Thành.
Những tài nguyên này phần lớn đã và đang được khai thác. Cao Lộc có diện

Kỳ Lừa, khi thực dân Pháp cai trị Lạng Sơn năm 1885 vẫn giữ nguyên châu
Cao Lộc. Trong quá trình cai trị thực dân Pháp đã nhiều lần thay đổi ranh giới
hành chính. Ví dụ năm 1887 và 1890 Cao Lộc bị chia tách và không tồn tại
đơn vị hành chính cấp châu, huyện nhưng đến năm 1907 lại là một châu riêng
có 18 xã trong ba tổng (khi đó Lạng Sơn có tất cả 9 châu không có phủ):
- Tổng Cao Lộc có 5 xã : Cao Lộc, Xuất Lễ, Lục Yên, Hải Yến, Bình
Tây.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

13
Hơn 10 năm sau thì đất đai của Châu Cao Lộc đã mở rộng ra 22 xã ,
109 thôn đó là: Hoàng Đồng, Bình Tây, Mai Pha, Quảng Nhân, Lạc Nghiệp,
Yên Trạch, Trinh Nữ, Quảng Trù, Chính Lũ, Vân Nùng, Vô Lậu, Lộc Dương,
Hoài Viễn, Như Ngao, Hoàng Lam, Tầm Nguyên, Ngao Thị, Trùng Quý,
Giang Thanh, Giang Hán, Thượng Lạc, Quảng Cư và năm phố ; Nghĩa là toàn
bộ thị xã Lạng Sơn bây giờ và một số xã giáp ranh.
Tháng 8 năm 1839 thực dân Pháp lại ra quyết định đổi một số châu
thành phủ “phủ Cao Lộc bao gồm 30 xã, 4 phố ở khu Kỳ Lừa và 3 phố ở
xung quanh thành Lạng Sơn" [1; 10].
Tháng 9 năm 1925 thị xã Lạng Sơn được thành lập và Cao Lộc trở
thành vành đai bao quanh thị xã huyện lỵ Cao Lộc vẫn đóng tại Kỳ Lừa.
Sau năm 1945, huyện Cao Lộc có 17 đơn vị hành chính là thị xã Lạng
Sơn và 16 xã.
Tháng 8 năm 1977 Hội đồng Chính phủ quyết định phê chuẩn tách 4 xã
của Cao Lộc là: Mai Pha, Quảng Lạc, Hoàng Đồng, Hợp Thành sáp nhập vào
thị xã, cơ quan đầu não của huyện Cao Lộc một lần nữa lại đóng ở thị xã.
Tháng 6 năm 1981, Thị trấn Đồng Đăng và 6 xã Hồng Phong, Phú Xá,
Bình Trung, Bảo Lâm, Thuỵ Hùng A, Song Giáp của huyện Văn Lãng được
sáp nhập vào huyện Cao Lộc; lúc này Cao Lộc có 20 xã và một thị trấn.
Tháng 11 năm 1986 xã Hợp Thành sáp nhập về Cao Lộc (trừ hợp tác

xuất và đời sống nhân dân.
Trung tâm thương mại dịch vụ của huyện chính là thị trấn Đồng Đăng.
Đây là chợ của thị trấn biên giới được hình thành từ lâu đời. Các sạp hàng đủ
chủng loại ở chợ bày bán trong tất cả các ngày đặc biệt ngày chợ phiên (ngày
5 và 10 Âm lịch hàng tháng) dân từ các thôn bản, từ miền xuôi đem các sản
phẩm nông nghiệp, hàng mây tre, hoa hồi, cày, cuốc ra bán. Chợ phiên ở
đây có cả dân bên kia biên giới sang buôn bán hoặc thăm chợ.
Chợ ở thị trấn Cao Lộc có phần nghèo nàn vì việc giao lưu kinh tế của
nhân dân hầu hết diễn ra ở chợ Kỳ Lừa hoặc chợ Đông Kinh. Ngoài ra Cao
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

15
Lộc còn có chợ nhỏ ở km 16 Tân Thành, chợ Bản Ngà ở xã Gia Cát, chợ Ba
Sơn cũng 5 ngày một phiên, khu chợ chưa được xây dựng kiên cố chỉ là
những lều lán tạm bợ, riêng chợ Ba Sơn đã được hoàn thiện. Xung quanh chợ
có trụ sở Uỷ ban nhân dân xã, trường tiểu học, trạm y tế. Vào mùa Xuân hàng
năm có một phiên chợ hội để bà con các dân tộc trong và ngoài huyện đến
giao lưu hàng hóa và vui chơi (chục năm về trước còn có cả ca hát) và cầu tài,
cầu lộc.
Cơ sở công nghiệp - thủ công nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, sản phẩm
chủ yếu là gạch ,vôi, cát, đá xây dựng, bàn ghế gỗ, mây tre đan Hàng năm
cũng đem lại một số lợi nhuận đáng kể.
Cao Lộc là huyện có đường giao thông tương đối thuận tiện; có đường
ô tô đi đến trụ sở uỷ ban nhân dân của tất cả các xã ; các con đường liên thôn
bản cũng được chú ý mở mang để phục vụ người đi lại và giao lưu hàng hoá .
Mạng lưới thông tin liên lạc ngày càng hiện đại hoá. Từ năm 1992 Cao
Lộc có hai đơn vị bưu điện trực thuộc bưu điện tỉnh, bưu điện thị trấn Cao
Lộc phục vụ thị trấn và 15 xã. Bưu điện Đồng Đăng phục vụ thị trấn Đồng
Đăng và 5 xã xung quanh.
Theo đà tiến triển chung của xã hội trong hơn 10 năm qua kinh tế của

địa phương và người Tày lưu quan. Người Tày cổ địa phương còn được gọi là
Thổ dân, ở đây từ rất lâu đời. Từ xa xưa họ vốn giỏi trồng lúa nước. Nơi cư
trú của người Tày thường là những vùng gần sông, suối, gần các nguồn nước,
vùng trũng thuận tiện cho việc khai phá thành những đám ruộng. Nguồn gốc
thứ hai là dòng người Tày lưu quan (nghĩa là quan ở lại). Từ thế kỷ thứ XV,
dưới thời Lê các quan lại người Kinh ở miền xuôi lên làm quan cai trị ở miền
núi và trấn giữ biên ải. Họ ở lại lấy vợ người Tày địa phương, nói tiếng Tày
và sống theo cách sống của người Tày. Con cái của họ sinh ra mang họ mẹ và
tự nguyện lấy nguồn gốc dân tộc của mẹ. Số binh lính người Kinh được triều
đình phái lên đánh giặc ngoại xâm, trấn giữ những đồn binh biên ải rồi họ ở
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

17
lại, lấy vợ người Tày địa phương. Con cháu trở thành người Tày. Người Tày
lưu quan với người Tày địa phương trong quá trình chung sống đã đồng hóa
một cách tự nhiên. Ngày nay gọi chung là người Tày.
Khi lên miền núi, dòng Tày lưu quan mang theo nền văn hóa miền xuôi
hòa nhập vào nơi mình sinh sống. Sau này nền văn hóa miền núi nói chung
cũng chịu ảnh hưởng nhiều nền văn hóa miền xuôi. Nhưng do điều kiện tự
nhiên, đặc điểm kinh tế, tình hình xã hội miền núi chi phối, người Tày vẫn giữ
được những sắc thái riêng trong những phong tục tập quán dân tộc miền núi
của riêng mình.
Các dân tộc khác như Kinh, Hoa, Dao cũng có mặt trong huyện nhưng
thưa thớt hơn dân tộc Nùng, Tày. Họ cũng dễ hoà nhập với các dân tộc anh
em trong huyện và giữ được nhiều nét văn hoá truyền thống, đặc biệt là dân
tộc Dao.
Do những đặc điểm tự nhiên và xã hội trong suốt quá trình lịch sử
người Tày, Nùng ở Cao Lộc luôn sống cạnh nhau, hoà hợp đoàn kết, yêu
thương gắn bó nên đã tạo ra nhiều mối quan hệ sâu sắc và tạo nên nhiều nét
tương đồng về văn hoá. Người Tày, Nùng đều ở trong khối dân tộc Bách Việt,

Tày, Nùng được gắn với truyền thống về lòng chung thủy trong tình yêu đôi
lứa. Đồ trang sức thường là vòng đeo cổ, đeo tay, đeo chân, khuyên tai, xà
tích bằng bạc. Phụ nữ Nùng thường bịt răng vàng nhưng nay ít dần. Người
Tày, Nùng biết chế biến nhiều món ăn phong phú, bữa ăn của họ thường thổi
cơm bằng gạo tẻ ăn với các món rau, măng, thịt, cá chế biến theo kiểu nấu,
xào, luộc, kho. Đặc biệt, ở Cao Lộc có món thịt lợn quay, vịt quay nổi tiếng.
Ngoài gạo tẻ còn có gạo nếp, ngô, khoai, sắn đó là những lương thực được
đồng bào Tày, Nùng ưa dùng, ngoài ra còn có nhiều đặc sản mang bản sắc
văn hoá ẩm thực Tày, Nùng như cơm lam, cốm, măng chua, phở chua, lợn
quay, vịt quay, bữa ăn của họ thể hiện tính bình đẳng giữa các thành viên
trong gia đình.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

19
Về văn hoá phi vật thể của đồng bào Tày, Nùng ở Cao Lộc cũng có
nhiều sắc thái độc đáo. Người Tày, Nùng có chung một ngữ hệ, ngôn ngữ gần
giống nhau và hiểu được tiếng nói của nhau. Ngôn ngữ Tày, Nùng trong sáng,
giản dị dễ hiểu.
Văn học dân gian Tày, Nùng ở Cao Lộc đa dạng về thể loại, phong phú
về tác phẩm gồm các truyện thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, tục ngữ, ca dao,
dân ca, đặc biệt các thể loại Sli, Lượn mang đậm tính dân tộc và được nhiều
người ưa thích.
Tín ngưỡng Tày, Nùng mang tính dân gian và bản địa rất cao. Đồng
bào Tày, Nùng luôn hướng niềm tin và tâm linh vào tổ tiên, vào các thần đất
đai, sông núi, những danh nhân có công với dân với nước Tín ngưỡng phần
lớn có xu thế hướng thiện, cầu phúc, trừ ác thông qua việc thờ cúng Tổ tiên,
Thổ địa, Thành hoàng ở gia đình, làng bản, đình , miếu. Các tôn giáo từ bên
ngoài du nhập vào Cao Lộc như Nho, Lão nhưng đã được dân gian hoá rất
nhiều và đồng bào chỉ tiếp thu những mặt tích cực của các đạo trên, phù hợp
với đời sống tinh thần của dân tộc.

Văn Thụ hoạt động trong những năm 1930, di tích pháo đài Đồng Đăng nơi
ghi dấu tội ác của thực dân Pháp xâm lược, di tích bia Thuỷ Môn Đình ở đầu
thị trấn Đồng Đăng được dựng năm 1670 ghi công Hữu đô đốc thao quận
công Nguyễn Đình Lộc, di tích tôn giáo và thắng cảnh đền Mẫu Đồng Đăng
được xây dựng từ thời Hậu Lê (Ghi trong bia đá phía sau đền) và chùa Bắc
Nga xã Gia Cát có từ cuối thế kỷ XVI thờ tiên sau đó chuyển sang thờ Phật.
- Giáo dục: Sau thời kì đầy khó khăn của những năm 1990 – 1994
(giáo viên bỏ nghề, học sinh bỏ học), ngành giáo dục huyện đã được củng cố
từ chất lượng tới cơ sở vật chất của nhà trường. Cho đến năm học 1996-1997
cả huyện có một trường phổ thông trung học gồm 14 lớp, 630 học sinh, 22
giáo viên & trường THCS gồm 861 lớp, 2.500 học sinh, 15 trường tiểu học
gồm 437 lớp, 12.649 học sinh.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

21
- Y tế: Tới nay cả huyện có một bệnh viện đa khoa với 30 giường bệnh,
8 trạm y tế xã, tính trung bình 1 vạn dân có 4,55 giường bệnh, 1,16 bác sĩ
hàng năm bình quân khám chữa bệnh cho trên 16 ngàn lượt người. Các
chương trình tiêm chủng mở rộng, kế hoạch dân số được triển khai lồng ghép
tới từng thôn bản, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 2,08%.
1.2.3. Tiểu kết chƣơng 1
Cao Lộc là huyện miền núi, biên giới nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh
Lạng Sơn. Là một huyện nằm ở gần Thành phố Lạng Sơn và giáp với biên
giới nước bạn Trung Quốc, có những địa danh nổi tiếng như: Cửa khẩu Hữu
Nghị, thị trấn Đồng Đăng, có dãy núi Công Sơn, Mẫu Sơn Với những lý do
đó huyện Cao Lộc có rất nhiều tiềm năng to lớn để phát triển kinh tế - văn hoá
- xã hội. Cửa khẩu Hữu Nghị và thị trấn Đồng Đăng là những nơi có vị trí địa
lý, đầu mối giao thông thuận tiện để thông thương giao lưu với nước bạn
Trung Quốc, với vị trí rất quan trọng cả về chính trị và kinh tế nên Đồng
Đăng sớm phát triển thành đô thị, trung tâm thương mại của huyện.

LỄ HỘI LỒNG TỒNG CỦA DÂN TỘC TÀY, NÙNG
Ở HUYỆN CAO LỘC TỈNH LẠNG SƠN

2.1. Khái niệm lễ hội và thuật ngữ " Lồng Tồng ".
Đồng bào Tày, Nùng ở Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn chủ yếu sinh sống dựa
vào nghề nông là chính. Nông nghiệp lại phụ thuộc vào thiên nhiên rất nhiều.
Vì vậy việc cầu mong cho mùa màng được tốt tươi là nguyện vọng tha thiết
của họ, chính vì vậy từ xa xưa họ tin vào các vị thần linh, mong được thần
linh phù hộ. Trời có cho mưa thuận gió hoà thì mùa màng mới tốt tươi, nhân
dân mới no ấm, do vậy ngoài việc thờ thần thánh, tin tưởng vào sức mạnh của
thần linh thì ngoài việc thờ cúng đồng bào Tày, Nùng còn tổ chức những nghi
lễ để cầu mưa, cầu phúc, cầu lành.
Đồng bào Tày, Nùng ở Cao Lộc hàng năm tổ chức lễ hội Lồng Tồng
vào sau Tết Nguyên đán, đây chính là nghi lễ nông nghiệp cổ xưa của họ.
Theo nhiều nhà nghiên cứu, lễ hội của người Việt cổ xuất hiện từ thời sơ sử,
dấu vết của nó được tìm thấy ở các hình chạm khắc trên các mặt, tang trống
đồng, thạp đồng thời Văn hóa Đông Sơn (thời các vua Hùng), đó là hình ảnh
của những đám rước, hình ảnh giã gạo vui chơi nhảy múa Những hình ảnh
đó khiến cho ta hình dung được về lễ hội thời sơ sử, đó là lễ hội nông nghiệp
của cư dân Việt cổ. Lễ hội này xuất hiện từ rất sớm Tuy trải qua ngàn năm
Bắc thuộc và các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, lễ hội này vẫn tồn tại
đến ngày nay với những tín ngưỡng mang đậm bản sắc dân tộc.
Lễ hội của người Việt cũng như của nhiều dân tộc anh em là một bộ
phận của văn hoá Việt Nam. Lễ hội đã trở thành truyền thống từ lâu đời của
thôn quê Việt Nam, nhất là ở đồng bằng Bắc Bộ, lễ hội đã đáp ứng được
nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân trước tiên là nhu cầu về tín
ngưỡng tôn giáo.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

24

25
sống chủ yếu bằng nghề săn bắn và hái lượm thường tổ chức các lễ hội hoá
trang, các động tác tượng trưng cho pháp thuật săn bắn, các hình tượng tượng
trưng cho việc săn bắn kết quả. Lễ hội còn là dịp để nhớ về lịch sử, nhớ về cội
nguồn của dân tộc, lễ hội được tổ chức có thể gắn với các danh lam thắng
cảnh, các truyền thuyết liên quan đến sự hình thành, phát triển phồn vinh của
vùng quê, người đi lễ hội vừa là để thay đổi không khí cuộc sống là dịp gặp
gỡ vui vẻ, là dịp tìm tòi sự may mắn qua nguyện ước thắp hương ở nơi dự lễ.
Lễ hội còn là thời điểm linh thiêng để làng xã, thôn, bản tổ chức, huy
động các thành viên trong cộng đồng thôn bản phát động một mùa sản xuất
mới. Trong diễn trình phát triển của mình, lễ hội Lồng Tồng của Dân tộc Tày,
Nùng ở Cao Lộc đã chịu những ảnh hưởng và chịu những tác động qua lại của
phong tục dân tộc Tày, Nùng địa phương, những phong tục đó đã trở thành cơ
sở, nền tảng cho lễ hội Lồng Tồng của dân tộc Tày, Nùng ở Cao Lộc tồn tại
và phát triển một cách bền vững, nếu nhìn từ góc độ văn hóa dân gian thì lễ
hội Lồng Tồng là một bộ phận của phong tục, nếp sống văn hoá truyền thống
của dân tộc Tày, Nùng. Lễ hội được xem là hoạt động tín ngưỡng, cầu trời
cho mưa thuận gió hoà, cây cối tốt tươi, mùa màng bội thu, đời sống ấm no.
Ngày lễ hội Lồng Tồng cũng chính là dịp để họ hàng và bè bạn gần xa tới
thăm hỏi chúc tụng nhau, mời nhau ăn uống. Mùa lễ hội là mùa vui của tất cả
mọi người dân trong bản từ cụ già đến em nhỏ đều háo hức lễ hội để họ có dịp
diện những bộ quần áo mới nhất đi chơi hội và được xem những trò vui, trò
diễn trong lễ hội. Trong lễ hội bao gồm hai phần chính là lễ và hội:
-"Lễ" trước hết được hiểu là nghi thức, là mở đầu cho hội làng. "Lễ là
những nghi thức nhằm đánh dấu kỷ niệm một sự việc, sự kiện có ý nghĩa nào
đó" [6; 450]. Theo quan niệm của Khổng Tử (người sáng lập ra Nho giáo) khi
ông nói về lễ (bàn trong Lễ - Nhạc) thì lễ trước hết là trật tự, nhạc là sự hài
hòa.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status