Lễ hội Lồng thồng của dân tộc Tày ở Lạng Sơn - Pdf 12


Viện dân tộc học
Hong văn páo Lễ hội lồng thồng của dân tộc ty
ở lạng sơn Chuyên ngành: Nhân học văn hóa
M số: 62.31.65.01

Tóm tắt luận án tiến sĩ lịch sử H nội - 2009 Bộ giáo dục v đo tạo viện khoa học x hội việt nam Có thể tìm đọc luận án tại:
Th viện Quốc gia, Th viện Viện Dân tộc học.
1

Mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Trong khoảng thời gian hai thập niên trở lại đây, các lễ hội truyền thống ở
Lạng Sơn đã đợc chú ý và bớc đầu đợc khôi phục. Song việc khai thác, nghiên cứu
lễ hội về nội dung, cách thức tổ chức và nhất là mối quan hệ giữa truyền thống và hiện
đại thể hiện qua một số lễ hội còn tản mạn, rải rác, cha đợc nghiên cứu đầy đủ và
hệ thống. Trong đó phải kể đến lễ hội Lồng thồng của dân tộc Tày ở Lạng Sơn.
1.2. Dới góc độ nghiên cứu dân tộc học và văn hoá dân gian từ các nguồn tài liệu
khác nhau, hy vọng sẽ dựng lại bức tranh tổng thể về lễ hội Lồng thồng, làm sáng tỏ
vai trò, vị trí và mối quan hệ của nó trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá v xã hội
của ngời Tày ở Lạng Sơn, nhất là tín ngỡng dân gian, trình độ t duy, tri thức tộc
ngời và những nét đẹp truyền thống trong phong tục, tập quán, đạo đức, lối sống
cũng nh cách ứng xử của ngời Tày ở địa phơng.
1.3. Ngày nay trong thời đại thông tin, khoa học và công nghệ, đặc biệt trong
công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, sự gia tăng sinh hoạt văn
hoá lễ hội đang là vấn đề đợc quan tâm ở nhiều ngành, nhiều cấp khác nhau. Do đó
thông qua nghiên cứu này, bớc đầu cung cấp t liệu, luận cứ khoa học giúp các cấp
chính quyền địa phơng trong tỉnh Lạng Sơn nhận rõ những giá trị của lễ hội Lồng
thồng để có hớng bảo tồn, kế thừa và phát huy, đồng thời cũng loại bỏ những nội
dung không còn phù hợp với cuộc sống đơng đại, phát huy những mặt tốt cho việc

phục vụ cho chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nớc ta. Các cơ quan nghiên cứu
nh: Viện Văn học, Viện Sử học, Viện Dân tộc học, Viện Nghiên cứu Văn hoá, cũng
nh
các trờng Đại học (S phạm Việt Bắc, S phạm Hà Nội I, Đại học Tổng hợp Hà
Nội, ) đã tiến hành nhiều cuộc điều tra, nghiên cứu thực địa và đã tích luỹ đợc một
số tài liệu có giá trị khoa học giúp ích cho việc nghiên cứu xã hội, lịch sử và văn hoá
của dân tộc Tày.
Về tộc ngời Tày và văn hoá Tày, cho đến nay đã có một số công trình và bài
nghiên cứu nh: Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam (1959) của Lã Văn Lô và tập thể
tác giả, Sơ lợc giới thiệu các nhóm dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam (1968)
của Lã Văn Lô, Đặng Nghiêm Vạn, Các dân tộc ít ngời ở Việt Nam (các tỉnh phía
Bắc)(1978) của các tác giả thuộc Viện Dân tộc học, Văn hoá Tày, Nùng(1984)
của Lã Văn Lô, Hà Văn Th, Các dân tộc Tày, Nùng ở Việt Nam (1992) của các
tác giả thuộc Viện Dân tộc học Các tác phẩm của các tác giả đã nêu trên phần tổng
quan về ngời Tày cũng đã ít, nhiều khảo cứu lễ hội Lồng thồng của ngời Tày nhng
cha nêu đợc một cách toàn diện có tính hệ thống của lễ hội này.
Riêng lĩnh vực nghiên cứu về lễ hội Lồng thồng của dân tộc Tày cũng đã có một
3

số công trình và bài nghiên cứu, mô tả trên những nét cơ bản về các nghi lễ, nghi
trợng và nghi thức nh: Mùa xuân và phong tục Việt Nam (1976) của Trần Quốc
Vợng, Lê Văn Hảo, Dơng Tất Từ , Hội Lồng tồng (Dân tộc Tày ở Bắc Thái)
(1977) của Dơng Kim Bội, Hội Lồng tồng (tiếng Tày: Hội Lồng tồng) (1983) của
Lục Văn Pảo, Đôi nét về hội Lùng tùng và việc khôi phục nó (1990) của Phơng
Bằng, Hội Lồng tồng ở Văn Lãng (1991) của Hoàng Choóng, Lễ hội cầu mùa của
các dân tộc ở Việt Nam (1993) của Phan Hữu Dật, Lê Ngọc Thắng, Lê Sĩ Giáo, Lâm
Bá Nam, Lễ hội truyền thống của các dân tộc Việt Nam khu vực phía Bắc (2002)
của Hoàng Lơng,
Qua các công trình nghiên cứu về dân tộc Tày, đặc biệt là về lễ hội Lồng thồng từ
trớc đến nay cho thấy các tác giả đã có rất nhiều cố gắng đa bức tranh chân thực về

huy bản sắc văn hoá dân tộc Tày.
4. Đối tợng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tợng nghiên cứu: Lễ hội Lồng thồng của dân tộc Tày ở Lạng Sơn; vai trò,
vị trí của nó trong đời sống văn hoá tinh thần hiện nay của cộng đồng tộc ngời Tày.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Khảo sát, miêu tả các nghi thức, trò diễn, trò chơi, quy mô, thời gian, không gian,
công tác chuẩn bị của lễ hội Lồng thồng và các quan niệm về tín ngỡng dân gian của
ngời Tày cũng nh thống kê các điểm lễ hội Lồng thồng của dân tộc Tày trong
phạm vi tỉnh Lạng Sơn.
5. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở phơng pháp luận
Phơng pháp nghiên cứu trong công trình này là phơng pháp luận Chủ nghĩa duy
vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng đòi hỏi phải xem xét
các sự vật và hiện tợng trong sinh hoạt văn hoá lễ hội Lồng thồng không phải là
trạng thái tĩnh tại, bất biến, mà phải xem nó và đặt nó trong sự vận động liên tục,
không ngừng trong không gian và thời gian cũng nh trong tổ chức văn hoá xã hội.
5.2. Các phơng pháp cụ thể đợc dùng trong nghiên cứu
Phơng pháp đợc dùng trong nghiên cứu là phơng pháp nghiên cứu liên ngành
nh phơng pháp dân tộc học kết hợp với phơng pháp nghiên cứu văn hoá dân gian,
cụ thể là:
- Phơng pháp điền dã dân tộc học và folklore học nh
khảo sát thực địa, phỏng
vấn sâu nhóm ngời cao tuổi ở các xã, huyện trong tỉnh (phỏng vấn hồi cố), mô tả,
quan sát và tham dự.
- Phơng pháp điều tra bằng phiếu điều tra tổng thể các lễ hội, các trò chơi, trò
diễn, tên vị thần đợc thờ và thời gian diễn ra lễ hội.
5

Ngoài ra, còn sử dụng phơng pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp để

Nhóm các yếu tố nội sinh gồm ba yếu tố chính: Vận động kiến tạo, cấu tạo nham
thạch và kiến trúc địa chất.
Còn nhóm trong các yếu tố ngoại sinh thúc đẩy sự hình thành và phát triển địa
hình Lạng Sơn chủ yếu là khí hậu.
Khí hậu Lạng Sơn là một trong những vùng tiêu biểu của khí hậu Bắc Việt Nam.
Về mùa lạnh, nhiệt độ trung bình từ 12
0
- 15
0
C, có những lúc nhiệt độ xuống đến 5
0
C,
thậm chí tới 0
0
C và dới 0
o
C. Về mùa nóng, nhiệt độ trung bình cao nhất 27
0
C.
Về thuỷ văn, Lạng Sơn có các sông chính là: sông Kỳ Cùng, sông Thơng, sông
Bắc Giang, sông Bắc Khê, sông Rồng Do hệ thống sông ở đây khá dày, cung cấp
nớc tới cho các cánh đồng nên lúa nớc ở dân tộc Tày khá phát triển. Mặc dù là
tỉnh miền núi nhng trong các lễ hội, nhất là lễ hội của dân tộc Tày, có nhiều yếu tố
liên quan đến sông nớc.
Thực vật Lạng Sơn thuộc khu hệ thực vật Nam Trung Hoa - Bắc Việt Nam.
Thảm thực vật ở đây đợc chia thành hai thể khối chính: Vùng núi đá và vùng núi đất.
Vùng núi đá thờng thấy các loại cây nghiến, lý, mạy tèo, ô rô Vùng núi đất có các
loại cây nh lim, sau sau, kháo, trám, vầu, trúc,
Động vật Lạng Sơn tơng đối phong phú và khá về số lợng so với các khu vực
khác trong nớc. Lớp thú ở đây có 8 bộ, 24 họ với 56 loài. Lớp chim có 14 bộ, 46 họ với

1.3. Con ngời và lịch sử c trú
Lạng Sơn là nơi sinh tụ của các dân tộc Tày, Nùng, Kinh, Hoa, Dao, Sán Chay,
Hmông.
ở tỉnh Lạng Sơn, dân tộc Tày xếp thứ hai sau dân tộc Nùng về dân số, nhng họ
lại phân bố ở hầu khắp các xã, phờng, thị trấn trong tỉnh.
Khảo cứu lịch sử của dân tộc Tày qua truyền thuyết Cẩu chủa cheng vùa (Chín
chúa tranh vua), một số nhà nghiên cứu cho rằng vua Thục Phán An Dơng Vơng
ngời sáng lập ra quốc gia Âu Lạc là ngời Tày cổ. Giả thiết đã cho thấy sự hình
thành tộc ngời Tày có thể có trớc đây khá lâu. Địa bàn c trú của dân tộc Tày xa
rộng hơn ngày nay rất nhiều. Mặc dù quốc gia Âu Lạc tồn tại không đợc bao lâu
nhng vai trò của nó vô cùng quan trọng trong lịch sử hình thành cộng đồng tộc ngời
Tày. ở Lạng Sơn, ngời Tày c trú chủ yếu ở vùng trũng thuộc lu vực các con sông lớn,
các thung lũng và các cánh đồng tơng đối bằng phẳng nên đã tạo ra những vùng
nông nghiệp nổi tiếng nh Bắc Sơn, Lộc Bình, Bình Gia. Đồng bào thờng sống thành
từng bản, ít thì có vài chục hộ, nhiều thì hơn một trăm nóc nhà. Những dòng họ lớn
trong bản thờng là những dòng họ có công khai phá đất đai, lập bản.
1.4. Sinh hoạt kinh tế và văn hoá vật chất
Về kinh tế, dân tộc Tày ở Lạng Sơn nói riêng và trên cả nớc nói chung là một
trong những c dân làm ruộng nớc sớm nhất trong khu vực Đông Nam á. Trong lịch
sử của mình, dân tộc Tày đã biết làm thủy lợi trong việc trồng lúa nớc nh mơng,
phai, lái, lìn. Ngoài làm ruộng nớc, ở Lạng Sơn họ còn làm nơng rẫy với lối canh
8

tác bằng dao, cuốc, đốt bằng lửa, tra hạt bằng gậy chọc lỗ. Về chăn nuôi, đồng bào
Tày phát triển các loại vật nuôi nh: Trâu, bò, lợn, gà, vịt
Dân tộc Tày Lạng Sơn có một số nghề thủ công truyền thống nh rèn, đan lát,
mộc, đục đá, làm gạch ngói và dệt. Trong đó nghề dệt, đan, lát, làm gạch ngói phát
triển hơn cả,
Về văn hoá vật chất
Trớc hết là các món ăn cổ truyền: Các món ăn với nhiều sản vật địa phơng nh

cũng không loại trừ các trờng hợp hôn nhân với các dân tộc khác. Việc hôn nhân
hỗn hợp dân tộc trong xã hội trớc kia rất hiếm hoi, nhng mấy chục năm gần đây thì
các trờng hợp hôn nhân nh vậy có chiều hớng tăng lên. Hôn nhân của ngời Tày
là sự kết hợp tự do yêu đơng, với sự lựa chọn và sắp xếp của cha mẹ, tuy nhiên trong
xã hội cũ sự sắp đặt của cha mẹ là cơ bản. Về nguyên tắc hôn nhân của dân tộc Tày là
hôn nhân một vợ, một chồng, dẫu vậy cũng có trờng hợp đa thê, do ngời vợ vô sinh
hay không có con trai.
1.5.3. Quan hệ dòng họ
Về quan hệ xã hội, đồng bào rất coi trọng dòng họ. Những ngời cùng dòng họ,
nhất là họ gần hay cùng chi họ thờng rất thơng yêu, đùm bọc, bênh vực nhau trong
mọi sinh hoạt của cộng đồng làng bản. Con cái sinh ra dù trai hay gái đều tính theo họ
bố. Con gái đi lấy chồng, khi về đến nhà chồng đều phải trình diện trớc bàn thờ tổ
tiên nhà chồng, kể từ đó cô ta trở thành thành viên họ nhà chồng. Nh vậy, ngời Tày
có hai họ, họ nội và họ ngoại, trong đó quan hệ họ nội đợc coi trọng hơn.
1.6. Tôn giáo tín ngỡng và văn nghệ dân gian
1.6.1. Tôn giáo tín ngỡng
Trong quan niệm dân gian của ngời Tày, phi (ma) có hai loại: Phi lành, phi dữ.
Ma lành đợc thờ cúng trong gia đình, miếu, đình, đền còn ma dữ nói chung
không đợc thờ.
Trong các hình thức thờ cúng của dân tộc Tày thì thờ cúng tổ tiên là quan trọng nhất.
Theo quan niệm của họ, ông bà, cha mẹ, sau khi chết linh hồn đợc siêu thoát và tồn tại ở
trên trời. Do vậy, con cháu phải lập bàn thờ ở trong nhà để cúng, hàng năm phải cúng giỗ
những ngời đã khuất, mời tổ tiên về chứng giám, thụ h
ởng lễ vật và phù hộ cho gia
đình bình yên, làm ăn phát đạt. Bên cạnh việc thờ cúng tổ tiên, ngời Tày còn thờ Mẹ
Hoa (mẹ bjóoc), thờ Táo quân, thờ Tổ s thầy tào, then. Ngoài ra trong mỗi bản, ngời ta
lập miếu (thó) để thờ Thổ công. Còn ngôi đình là nơi thờ Thành hoàng.
1.6.2. Văn nghệ dân gian
Dân tộc Tày Lạng Sơn có một nền văn hoá, văn nghệ dân gian khá phong phú.
Ngày nay, một số thần tích, thần phả, thần thoại vẫn còn đợc lu giữ trong nhân

gạch ngói và dệt.
Đứng từ góc độ sinh thái môi trờng, dân tộc Tày ở Lạng Sơn nói riêng và ở Việt
Nam nói chung là một trong những dân tộc tiêu biểu cho c dân vùng thung lũng, văn
hóa thung lũng. Đứng từ góc độ phát triển văn hóa (cấp độ sáng tạo và hởng thụ văn
hóa) thì dân tộc này có một không gian xã hội và văn hóa khá độc đáo. Văn hóa, văn
11

nghệ dân gian truyền thống của dân tộc Tày Lạng Sơn mang sắc thái tiêu biểu cho sự
giao lu với các dân tộc khác, nhất là với văn hóa Hán và văn hóa Việt.
Chơng 2
Lễ hội Lồng Thồng trong đời sống
văn hoá tinh thần của dân tộc Ty ở Lạng sơn
2.1. Khái niệm và nguồn gốc của lễ hội Lồng thồng
2.1.1. Khái niệm
Phải nói rằng, ở Việt Nam, lễ hội (hai từ đi liền với nhau) là khái niệm mới xuất
hiện khoảng vài chục năm trở lại đây.
Theo cuốn Đại từ điển tiếng Việt (xuất bản năm 1998), lễ là những nghi thức đợc
tiến hành nhằm đánh dấu hoặc kỷ niệm một sự kiện có ý nghĩa nào đó. Ông Đoàn
Văn Chúc thì cho rằng, lễ là sự bày tỏ kính ý đối với một sự kiện xã hội hay tự nhiên,
đợc thực hành theo nghi điển rộng lớn và theo phơng thức thẩm mĩ, nhằm biểu hiện
giá trị của đối tợng đợc cử lễ và diễn đạt thái độ của công chúng hành lễ.
Ông Nguyễn Duy Hinh lại có lý luận về lễ nh: Lễ là tổng thể nghi thức thể
chế hóa trật tự, gắn liền với sự tích và quyền năng của thần, diễn đạt mối quan
hệ giữa ngời và thần.
Theo chúng tôi, lễ trớc hết là các nghi thức mở đầu cho lễ hội, sau đó là một hệ
thống ứng xử của con ngời với tự nhiên (nhất là đấng siêu nhiên, siêu hình) và với xã
hội của một cộng đồng tộc ngời nhất định. Từ các nghi thức mang tính xã giao đời
thờng là lễ, phép tắc để phân biệt trên dới, sang hèn dần dần đợc thiêng hóa
để trở thành những nghi lễ mang tính tôn giáo, về sau chúng trở thành những nghi
thức, nghi lễ mở đầu cho lễ hội.

xuống ruộng, nơng, họ chỉ biết trông chờ vào sự phù hộ của các lực lợng siêu
nhiên. Để tăng thêm niềm tin cho sự trông chờ đó, họ đã tìm cách tác động, cầu xin
các lực lợng thần thánh, giúp đỡ. Từ đó, sinh ra lễ hội Lồng thồng và tín ngỡng dân
gian của dân tộc Tày. Vì thế, có thể nói Lồng thồng có nguồn gốc từ sự cầu mùa, từ
các nghi lễ nông nghiệp.
2.2. Thời gian, không gian tổ chức lễ hội Lồng thồng
2.2.1. Thời gian tổ chức lễ hội Lồng thồng

Thời gian tổ chức lễ hội Lồng thồng của dân tộc Tày ở Lạng Sơn diễn ra vào mùa
xuân, thờng bắt đầu từ mồng 5 tết đến hết mùa xuân. Trên cơ sở điều kiện tự nhiên
cụ thể của từng bản làng, từng vùng mà thời gian tổ chức lễ hội có xê dịch sớm muộn
khác nhau đôi chút để dân bản này có thể đến bản kia dự lễ hội.
2.2.2. Không gian tổ chức lễ hội Lồng thồng
Lễ hội Lồng thồng thờng đợc diễn ra ở sân đình hoặc tại khu ruộng bằng
phẳng, giữa cánh đồng hay trên gò đồi, nơi thuận tiện nhất cho việc hành lễ và
13

vui hội. Đối với những nơi không có đình, đồng bào phải làm nhà thần Nông ở
đám ruộng to nhất của cánh đồng để tổ chức lễ hội, đám ruộng này tiếng địa
phơng gọi là Nà thồng.
2.3. Chuẩn bị cơ sở vật chất cho ngày lễ hội Lồng thồng
Để cho ngày lễ hội Lồng thồng thành công tốt đẹp, ngời Tày thờng triển khai
một số công việc nh: Họp và phân công các thành viên của bản, Sửa chữa
đình, Làm nhà thần Nông, Làm đạo cụ cho trò "sỹ, nông, công, thơng",
Trồng cây còn", Làm quả còn, Làm yến, Làm bàn cờ, quân cờ, Chuẩn bị
dây kéo co,
2.4. Lễ vật cúng tế
Mỗi lần cúng tế có thể có tới trên một chục món: Bánh khảo, bánh bỏng, bánh
chè lam, bánh chng Tày, gà cúng, lợn tế,
Ngoài ra, đồng bào Tày còn dâng cúng nhiều thứ khác nh xôi, pẻng nghèm, mía

chứa các hoạt động tín ngỡng cầu mùa.
Với mục đích là đề cao nghề nông và thông qua các hoạt động tín ngỡng, lễ hội
Lồng thồng của dân tộc Tày Lạng Sơn đã duy trì, thu nạp và phát triển các biểu tợng,
trò diễn, trò chơi, trò vui vừa để giải trí vừa mang tính phong tục, tín ngỡng, vừa
mang tính dân gian mà đồng bào ai cũng có thể tham gia, tham dự, góp vui vào lễ hội
và chào đón mùa xuân một cách tự nguyện, hồ hởi, vui vẻ. Để rồi, kết thúc lễ hội ra về
trong tâm khảm mỗi ngời đều cảm thấy phấn khích và sẽ tiếp tục công việc đồng
áng của mình một cách suôn sẻ hơn, tốt đẹp hơn, hy vọng đạt nhiều hiệu quả hơn, bội
thu hơn năm cũ. Có lẽ vì thế, lễ hội Lồng thồng của dân tộc Tày Lạng Sơn luôn mang
đậm ý nghĩa xã hội và giá trị nhân văn sâu sắc.
Chơng 3
lễ hội lồng thồng với một số lễ hội truyền thống khác
của ngời ty ở lạng sơn
3.1. Một số lễ hội truyền thống khác của ngời Tày ở Lạng Sơn
3.1.1. Lễ hội có tính chất tín ng
ỡng nông nghiệp ngoài lễ hội Lồng thồng
- Lễ hội Phài lừa (bơi lừa).
- Lễ hội Ná nhèm (lễ hội mặt nhọ).
- Lễ hội Nàng Hai
- Lễ hội Trò Ngô
3.1.2. Hội hát giao duyên
15

Hội hát giao duyên cũng đã có từ lâu đời ở Lạng Sơn. Các thanh niên nam nữ có
thể hát thâu đêm suốt sáng, không những hát trong chợ phiên mà còn hát trong lễ hội,
lễ cới, mừng nhà mới.
3.1.3. Hội chợ
Hội chợ chủ yếu dành cho nam nữ thanh niên đang tuổi yêu tuổi nhớ. Mọi hoạt
động dịch vụ ăn uống, kinh tế đều nhằm cung cấp cho đối tợng này. Ngời ta đều
cho rằng tất cả các ngày hội chợ ở Lạng Sơn đều nhằm mục đích tạo lên sự nhộn nhịp,

Đồng bào Tày có thể hàng ngày gắn kết với nhau bằng các công việc cụ thể trên
quan hệ tình làng nghĩa xóm hay huyết thống, song trong lễ hội họ lại đợc liên kết
với nhau bằng sợi dây vô hình là tâm linh để sau đó tiếp tục tạo dựng một cộng đồng
làng bản đoàn kết, thống nhất hơn.
3.3. Mối quan hệ giữa lễ hội Lồng thồng và các lễ hội truyền thống khác của
ngời Tày ở Lạng Sơn
Do tính chất địa lịch sử, địa văn hóa nên Lạng Sơn hội tụ khá nhiều loại hình
sinh hoạt văn hoá của các cộng đồng tộc ngời cùng sinh sống. Tuy nhiên sự giao
thoa giữa các vùng văn hoá cũng nh sự đan xen các văn hoá tộc ngời cũng nh tạo
cho lễ hội Lồng thồng và các lễ hội khác của ngời Tày ở đây vừa có những nét tơng
đồng vừa có những nét riêng của từng địa phơng. Chẳng hạn cùng một tộc ngời
nhng ở các địa phơng khác nhau là lễ hội khác nhau. Dân tộc Tày vùng sông nớc
thuộc các huyện Bình Gia, Tràng Định có lễ hội Phài lừa (bơi lừa), ở Trấn Yên (một
xã vùng sâu của huyện Bắc Sơn) lại tổ chức lễ hội Ná nhèm, một loại hình lễ hội
truyền thống thể hiện tinh thần thợng võ của dân tộc Tuy rằng nghi lễ, nghi trợng
có khác nhau, song giữa các lễ hội có mối quan hệ khá chặt chẽ.
3.3.1. Thời gian, không gian
Về thời gian:
Lễ hội Lồng thồng diễn ra chủ yếu trong tháng Giêng âm lịch, thời gian bắt
đầu sớm nhất là từ ngày mồng 2 tháng Giêng (nh lễ hội Pác Khiếc ở xã Hng
Đạo huyện Bình Gia) và kéo dài cho đến 30 tháng Giêng (nh lễ hội Lộc Bình).
Lễ hội đình, đền, chùa diễn ra quanh năm bắt đầu từ tháng Giêng đến tháng
Chạp nhng chủ yếu tập trung vào mùa thu và mùa đông.
Lễ hội Phài lừa (bơi lừa) thuộc khu vực huyện Bình Gia và Tràng Định lại diễn
ra trong tháng 4 âm lịch hàng năm.
Lễ hội Nàng Hai ở khu vực huyện Tràng Định đợc diễn ra cuối tháng 3 âm
lịch, tức là vào khoảng cuối mùa xuân.
17

Về không gian:

ngời Tày Lạng Sơn, mọi ngời đợc quyền bàn bạc, đóng góp, tự nguyện tham
gia lễ hội, tự do vui chơi, ca hát, không phân biệt giàu nghèo, chức dịch hay ngời
18

dân. Tinh thần này còn đợc thể hiện trong mối quan hệ giữa con ngời với thần
linh: dân làng có trách nhiệm thờ cúng dâng lễ vật cho thần linh thì thần linh lại có
trách nhiệm phù hộ cho dân bản đợc bình an, mạnh khoẻ, mùa màng tơi tốt.
Có thể nói, lễ hội truyền thống của dân tộc Tày nói chung và lễ hội Lồng thồng
của ngời Tày ở Lạng Sơn nói riêng là di sản trong kho tàng văn hoá dân tộc. Nó
phản ánh môi trờng tự nhiên, tái hiện quá trình sản xuất nông nghiệp lúa nớc
vùng thung lũng, đồng thời phản ánh đề tài lịch sử cũng nh tín ngỡng du nhập.
Qua lễ hội truyền thống (trong đó có lễ hội Lồng thồng) thấy rõ tính liên kết cộng
đồng làng bản, dân tộc rất sâu đậm. Và do giao thoa giữa các vùng văn hoá cũng
nh sự đan xen các văn hoá tộc ngời đã tạo cho lễ hội Lồng thồng và một số lễ
hội truyền thống khác của ngời Tày ở Lạng Sơn vừa có những nét tơng đồng vừa
có những nét riêng. Nét chung riêng ấy thể hiện rất rõ trong thời gian, không gian,
nghi lễ, tín ngỡng thờ cúng của lễ hội.
Từ việc nhìn nhận này, ta thấy lễ hội Lồng thồng cũng nh một số lễ hội khác
của dân tộc Tày ở Lạng Sơn khá phong phú và độc đáo, là kết quả của quá trình
hình thành và phát triển lâu đời trên nền tảng tín ngỡng nông nghiệp, phong tục
dân tộc và những giao lu, tiếp xúc, ảnh hởng tín ngỡng, phong tục của các dân
tộc khác.

Chơng 4
vấn đề bảo tồn v phát triển lễ hội lồng thồng
cùng các lễ hội truyền thống nói chung
ở lạng sơn hiện nay
4.1. Giá trị của lễ hội
4.1.1. Giá trị văn hoá
4.1.1. 1. Giá trị văn hoá tinh thần

4.1.2. Giá trị x hội
Qua lễ hội Lồng thồng, ta hiểu đợc các mối quan hệ dòng tộc, quan hệ của các
hội, phe, ph
ờng. Bởi vì trong mỗi bản của dân tộc Tày, mối quan hệ đó đợc thể hiện
qua nghi thức sắp xếp các mâm cúng Thành hoàng ở trong đình. Những tộc ngời,
những dòng họ c trú lâu đời hơn thì vị trí đặt mâm trong bàn thờ Thành hoàng cũng
khác hơn. Những ngời đến c trú sau phải làm lễ nhập bản mới đợc tham gia các tổ
chức của cộng đồng và phải có nghĩa vụ cũng nh trách nhiệm nh các thành viên của
cộng đồng.
Một điều nổi bật nữa là đến với lễ hội Lồng thồng, ta luôn luôn đợc sống trong
không khí cởi mở, dân chủ, bình đẳng. Ai cũng có phần việc của mình trong lễ hội,
20

mọi ngời có thể tham gia trình diễn, sáng tạo, thởng thức và hởng thụ các sinh
hoạt văn hoá cộng đồng.
4.1.3. Giá trị lịch sử
Lễ hội Lồng thồng, cũng nh các lễ hội khác ở Lạng Sơn đều mang trong nó bản
chất trở về với cội nguồn. Cái cội nguồn ấy chính là: ''con ngời tìm tông ''. Lễ hội
Lồng thồng, từ nghi lễ đến các trò diễn, nhất là trò diễn mang tính phong tục, bao giờ
cũng chứa đựng nội dung lịch sử, tìm về với cội nguồn của cộng đồng. Đây là dịp
''uống nớc nhớ nguồn'', biết ơn những ngời đã có công lập bản, lập mờng mà đồng
bào đang thờ phụng.
4.2. Những biến đổi của lễ hội Lồng thồng trong thời đại ngày nay
Biến đổi là đặc tính chung của mọi sự vật hiện tợng, trong đó lễ hội Lồng thồng
cũng không nằm ngoài quy luật đó. Nguyên nhân biến đổi của lễ hội Lồng thồng là
do sự tác động của sự phát triển kinh tế xã hội và giao lu văn hoá trong và ngoài
nớc. Tác động của sự phát triển khoa học kỹ thuật, tác động của các phơng tiện
thông tin đại chúng, tác động của văn hoá du nhập đã làm cho lễ hội Lồng thồng có
biến đổi về thời gian, biến đổi về tổ chức, biến đổi về nghi lễ và biến đổi cả các trò
chơi, trò diễn.

Đảng ta khởi xớng và lãnh đạo đất nớc tiến hành đổi mới, công tác văn hoá - văn
nghệ có cơ hội phát triển, trong đó lễ hội bớc đầu đợc chú trọng. Từ đó đến nay,
hầu hết các lễ hội truyền thống ở Lạng Sơn đã đợc mở lại.
Một số ý kiến đề xuất:
- Nên chăng, trớc khi tổ chức lễ hội, các ngành chức năng cần nghiên cứu kỹ quy
trình lễ hội, các sự tích, nghi trợng, nghi thức và phải tập luyện kỹ càng và trang
phục phải nh nó vốn có, tránh pha tạp lai căng.
- Các ngành, các cấp, các tổ chức xã hội và tổ chức quần chúng, nhất là ngành
Văn hoá - Thể thao và Du lịch phải có trách nhiệm hớng dẫn, tổ chức và quản lý tốt
các lễ hội truyền thống để vừa phát triển và làm phong phú thêm các hoạt động văn
hoá tinh thần của nhân dân, vừa giữ đợc bản sắc văn hoá tốt đẹp vốn có của các dân
tộc xứ Lạng.
- Muốn làm tốt việc này, con ngời cũng nh cộng đồng làng bản phải biết tự
khẳng định và trong tình hình hiện nay thì ngày càng cần phát huy hơn nữa tính năng
động của mình. Khẳng định cái truyền thống là để bảo tồn, phát huy, chấp nhận cái
mới để đi lên. Con ngời Việt Nam (trong đó có ngời Tày) và cộng đồng dân tộc
Việt Nam (kể cả dân tộc Tày) biểu thị một cách mạnh mẽ nhất ý chí và phơng hớng
đi lên để làm ra nhiều của cải vật chất, đồng thời rất chú trọng làm ra nhiều giá trị văn
hoá, từ đó có đời sống tốt đẹp cho mỗi ngời.

22

Tiểu kết chơng 4
Sắc thái riêng của lễ hội Lồng thồng đã mang lại cho lễ hội truyền thống trên đất
Lạng Sơn những giá trị đặc sắc. Nó có thể là một kênh thông tin lịch sử hấp dẫn để
tìm hiểu về quá trình hình thành cũng nh đặc điểm vùng đất, con ngời, nhng đồng
thời cũng để nhận diện bản sắc văn hoá truyền thống các tộc ngời nói chung, phong
cách ứng xử của dân tộc Tày nói riêng. Trong bối cảnh hiện tại, khả năng thoả mãn
nhu cầu tâm linh của lễ hội Lồng thồng và các lễ hội truyền thống khác của ngời Tày
Lạng Sơn khiến chúng vẫn đợc bảo trì khá đầy đủ, tạo tiền đề cho việc khôi phục,

sản xuất mới.
Có thể khẳng định lễ hội Lồng thồng của ngời Tày Lạng Sơn là một loại hình
sinh hoạt văn hoá độc đáo, là sợi dây liên kết, củng cố cộng đồng, là môi trờng tổng
hợp của các loại nghi thức, tín ngỡng, các loại hình nghệ thuật nh trang trí, âm
nhạc, múa, hát và các trò chơi dân gian.
3. Lễ hội Lồng thồng giúp ta hiểu một cách sâu sắc về truyền thống văn hoá của
ngời Tày Lạng Sơn. Để bảo tồn, phát huy và làm giàu bản sắc văn hoá dân tộc đòi hỏi
ta phải hiểu đợc nguồn gốc, bản chất quy luật vận động, phát triển của lễ hội truyền
thống, từ đó mới có kế hoạch, biện pháp, gìn giữ phong tục tập quán và nếp sống tốt
đẹp của cha ông. Thực tế cho thấy càng ở những nơi, những vùng xa xôi hẻo lánh, văn
hoá và lễ hội truyền thống càng đợc bảo lu ở dạng nguyên thuỷ hơn vùng trung tâm,
đô thị. Trong quá trình khôi phục, tổ chức lễ hội truyền thống hiện nay, vấn đề đặt ra là
nên tiếp thu cái gì, loại bỏ cái gì, và nên đa những yếu tố văn hoá mới của xã hội
đơng đại vào lễ hội cổ truyền nh thế nào để tạo nên sự hài hoà, hợp lý.
4. Lễ hội Lồng thồng cũng nh các lễ hội truyền thống khác trên đất Lạng Sơn là
hình thức sinh hoạt văn hoá tín ngỡng cộng đồng nên chúng thấm đợm tinh thần
dân chủ và nhân văn sâu sắc. Trong lễ hội, mọi ngời cùng tham gia sinh hoạt văn
hoá, vui chơi, ca hát và cùng hởng thụ những cái hay, cái đẹp diễn ra trong quá trình
lễ hội. Lễ hội Lồng thồng mang tính hoà hợp thực sự của những ngời tham dự lễ hội,
không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, địa vị, già hay trẻ, xa hay gần, nếu đến với lễ
hội thì đều ở trong trạng thái vui vẻ, thoải mái, hào hứng, ai cũng có thể tham gia tiết
mục theo sở thích của mình.
5. Ngoài sự cộng cảm, cộng mệnh, cố kết cộng đồng, lễ hội Lồng thồng còn mang
tính giáo dục cao nh giáo dục tình yêu quê hơng đất nớc, yêu lao động và tinh thần
bất khuất không chịu khuất phục trớc bất cứ khó khăn nào của tự nhiên cũng nh địch
hoạ. Thông qua các trò chơi và múa võ, múa s tử đủ thấy rằng đồng bào luôn có tinh
thần thợng võ, rèn luyện ý chí anh hùng để bảo vệ bản làng quê hơng.
6. Lễ hội Lồng thồng còn thể hiện một quá trình giao lu văn hoá giữa dân tộc
Tày và dân tộc Việt, giữa văn hoá Tày và văn hoá Trung Hoa. Điều đó đợc thể hiện
rõ ràng qua trang phục, các trò diễn và hát xớng dân ca, cũng nh qua nghi thức cầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status