Quan hệ dòng họ của người Nùng Phàn Slình (Nghiên cứu ở huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn) - Pdf 13

i
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ MINH ANH
QUAN HỆ DÒNG HỌ
CỦA NGƯỜI NÙNG PHÀN SLÌNH
(Nghiên cứu ở huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC
HÀ NỘI, 2014
ii
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ MINH ANH
QUAN HỆ DÒNG HỌ
CỦA NGƯỜI NÙNG PHÀN SLÌNH
(Nghiên cứu ở huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC
Mã số: 62 31 03 02
TẬP THỂ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS.TS.VƯƠNG XUÂN TÌNH
2. TS. TRẦN VĂN HÀ
Hà Nội, 2014
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án tiến sĩ: “Quan hệ dòng họ của người Nùng Phàn
Slình (Nghiên cứu ở huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn), tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban lãnh đạo Viện Dân tộc học, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
đã tạo điều kiện về thời gian, lịch công tác để tôi hoàn thành luận án.
Các thầy cô giáo khoa Lịch sử, trường Đại học khoa học Xã hội và Nhân
văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi hoàn thành
các chuyên đề của chương trình Thạc sĩ.


Trang
Mở đầu 1
Chương 1: Tổng quan tài liệu, cơ sở lý thuyết phương pháp và
địa bàn nghiên cứu
6
1.1.Tổng quan nghiên cứu về quan hệ dòng họ 6
1.2. Một số quan niệm về quan hệ dòng họ và lý thuyết nghiên cứu 16
1.3. Phương pháp nghiên cứu và phân tích 24
1.4.Khung phân tích của luận án 27
1.5. Khái quát về tộc người và điểm nghiên cứu 28
Chương 2: Dòng họ của người Nùng Phàn Slình ở Cao Lộc 36
2.1. Quan niệm về dòng họ của người Nùng Phàn Slình 36
2.2. Người Nùng Phàn Slình với ba mối quan hệ dòng họ 39
2.3. Cấu trúc dòng họ của người Nùng Phàn Slình 41
2.4. Đặc điểm dòng họ của người Nùng Phàn Slình ở huyện Cao Lộc 44
2.5. Vai trò cá nhân trong dòng họ của người Nùng Phàn Slình 49
Chương 3: Quan hệ dòng họ trong đời sống tín ngưỡng 55
3.1. Quan niệm về tín ngưỡng của người Nùng Phàn Slình 56
3.2. Quan hệ dòng họ qua tang ma 58
3.3. Quan hệ dòng họ trong cưới xin 64
3.4. Quan hệ dòng họ trong lễ dựng và về nhà mới 70
3.5. Quan hệ dòng họ qua một số lễ nghi trong gia đình 71
3.6. Quan hệ dòng họ qua lễ tết cổ truyền 74
Chương 4: Quan hệ dòng họ trong hoạt động kinh tế 77
4.1. Quan hệ dòng họ trong sản xuất nông nghiệp 77
4.2. Quan hệ dòng họ qua tương trợ kinh tế 81
Chương 5: Quan hệ dòng họ với hệ thống chính trị cơ sở 104
5.1. Về hệ thống chính trị cơ sở 104
5.2. Quan hệ dòng họ trong hệ thống chính trị cấp xã và cấp thôn 106

Bảng 5.3: Đội ngũ cán bộ cấp xã của xã Thanh Lòa 111
Lược đồ 5.1: Quan hệ dòng họ với Bí thư Đảng ủy trong hệ thống chính
trị xã Gia Cát 114
Lược đồ 5.2: Quan hệ dòng họ của cán bộ xã Thanh Lòa với Chủ tịch
UBND xã 115
Lược đồ 5.3: Quan hệ dòng họ giữa các chức danh trong hệ thống chính
trị cơ sở xã Thanh Lòa 117
Bảng 5.4: Đội ngũ cán bộ thôn Sơn Hồng (xã Gia Cát) 119
Bảng 5.5: Đội ngũ cán bộ thôn Nà Pheo (xã Thanh Lòa) 120
Bảng 5.6: Đội ngũ cán bộ thôn Pò Nghiều (xã Thụy Hùng) 121
Bảng 6.7: Danh sách hộ nghèo và cận nghèo xã Thanh Lòa năm 2013 126
BẢNG KÊ CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
BCH: Ban chấp hành
CB: Cán bộ
CNH - HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ĐHQGHN: Đại học Quốc gia Hà Nội
vii
ĐHKHXH &NV: Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn
ĐTH: Đô thị hóa
MTTQ: Mặt trận tổ quốc
Nxb: Nhà xuất bản
VHTT: Văn hóa thông tin
UBND: Ủy ban nhân dân
VHXH: Văn hóa xã hội
KTNN: Kinh tế nông nghiệp
NCS: Nghiên cứu sinh
viii
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Dòng họ là một thành tố trong văn hóa của tộc người và cộng đồng xã hội,

quan hệ dòng họ đều phong phú hơn thế, thường bao gồm 3 họ, đó là: họ bên bố, họ
bên mẹ và họ bên vợ/chồng. Tùy theo truyền thống của chế độ phụ hệ hay mẫu hệ mà
vai trò của dòng họ bên bố hay bên mẹ lớn hơn, song một điều không thể phủ nhận,
mối quan hệ dòng họ của mỗi cá nhân lúc trưởng thành (có vợ/chồng), là đều có mối
quan hệ dòng họ ba bên như vậy. Nghiên cứu theo tiếp cận này, đáng chú ý là của tác
giả Cầm Trọng khi xem xét quan hệ dòng họ của người Thái, song chủ yếu ông
phân tích sâu về cấu trúc, và bước đầu có đề cập đến chức năng chung, mà chưa có
nghiên cứu thực nghiệm.
Hiện nay, trong bối cảnh đổi mới và hội nhập đang diễn ra mạnh mẽ ở
Việt Nam hiện nay, vai trò và chức năng của quan hệ dòng họ ở cả người Kinh
(Việt) và các tộc người thiểu số cũng đang có những đổi thay. Sự thay đổi này
được biểu hiện ở liên kết dòng họ, cơ chế vận hành trong các tổ chức dòng họ,
trong đó, vai trò của quan hệ dòng họ ở đời sống xã hội vẫn rất quan trọng,
nhưng chưa được quan tâm nghiên cứu thấu đáo.
Người Nùng ở Việt Nam sinh sống chủ yếu tại các tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn,
gồm nhiều nhóm địa phương, mỗi nhóm có một số đặc điểm văn hóa riêng, và việc
nghiên cứu quan hệ dòng họ của người Nùng nói chung trong luận án là điều khó có
thể thực hiện. Bởi vậy, chúng tôi chỉ lựa chọn một nhóm địa phương của người Nùng
trong địa bàn một huyện để khảo sát. Dựa trên kinh nghiệm thực tiễn và qua tổng quan
tài liệu, chúng tôi đã lựa chọn nhóm Nùng Phàn Slình ở huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn
làm đối tượng nghiên cứu cụ thể. Đây là một nhóm Nùng có dân số đông nhất trong số
các nhóm Nùng của huyện, cư trú chủ yếu ở các xã vùng biên, lại có cả mối quan hệ
dòng họ xuyên biên giới. Bước đầu khảo sát để đi tới quyết định lựa chọn nhóm địa
phương và địa bàn nghiên cứu, chúng tôi còn được biết, tính cố kết của người Nùng
Phàn Slình mạnh hơn một số nhóm Nùng khác trong vùng.
Hơn nữa, để phù hợp với nhiệm vụ công tác ở Phòng Nghiên cứu các dân tộc
nhóm ngôn ngữ Tày - Thái và Ka đai thuộc Viện Dân tộc học, và phù hợp với trải
2
nghiệm nghiên cứu của cá nhân, tôi đã quyết định chọn hướng nghiên cứu về quan hệ
dòng họ của người Nùng làm luận án tiến sĩ nhân học văn hóa.

Hồng thuộc xã Gia Cát
1
, là một thôn thuần về hoạt động kinh tế nông nghiệp điển
hình của người Nùng Phàn Slình và không có hoạt động giao thương với biên giới.
Điểm thứ hai là thôn Pò Nghiều thuộc xã Thụy Hùng với đặc trưng là một địa bàn
hoạt động kinh tế thương mại buôn bán qua biên giới và kinh tế nông nghiệp, có
nhiều hộ gia đình sống dọc theo đường cao tốc Hà Nội - Lạng Sơn. Điểm thứ ba là
thôn Nà Pheo thuộc xã Thanh Lòa, là một thôn giáp biên, thường xuyên có số lượng
lao động làm thuê qua biên giới theo mùa vụ và có những mối quan hệ với người
đồng tộc ở bên kia biên giới.
4. CÂU HỎI VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Nhằm giải quyết những mục tiêu mà luận án đã đặt ra, chúng tôi nêu lên một
số câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu sau đây:
1. Cấu trúc dòng họ và quan hệ dòng họ của người Nùng Phàn Slình tại địa
bàn nghiên cứu đang vận hành như thế nào?
2. Chức năng của quan hệ dòng họ của người Nùng Phàn Slình trong bối
cảnh kinh tế thị trường và hội nhập hiện nay ra sao?
3. Những tác động tích cực và tiêu cực của quan hệ dòng họ đến sự phát triển
kinh tế - xã hội ở địa phương như thế nào?
4. Giả thuyết rằng, trong bối cảnh hiện tại quan hệ dòng họ của người Nùng
Phàn Slình tại các điểm nghiên cứu có vai trò đậm nét trong hoạt động tín ngưỡng,
nhưng mờ nhạt hơn trong hoạt động kinh tế và vẫn chi phối hệ thống chính trị cơ
sở.
5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
Luận án được thực hiện sẽ có những đóng góp chủ yếu sau:
- Trên cơ sở nghiên cứu ba chiều của quan hệ dòng họ, luận án trình bày một
cách toàn diện về cấu trúc và mối quan hệ dòng họ người Nùng Phàn Slình ở
1
Do một số trình bày và phân tích trong luận án liên quan đến những vấn đề nhạy cảm của cá nhân và tập thể
tại nơi nghiên cứu nên chúng tôi đã thay đổi tên người hoặc viết tắt. Điều này cũng phù hợp với đạo đức nghề

Chương 4: Quan hệ dòng họ trong hoạt động kinh tế và tương trợ
Chương 5: Quan hệ dòng họ với hệ thống chính trị cơ sở
Chương 6: Kết quả và bàn luận
5
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT,
PHƯƠNG PHÁP VÀ KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan nghiên cứu về quan hệ dòng họ
Ở Việt Nam, dòng họ là một thiết chế xã hội quan trọng, trực tiếp góp phần tạo
nên kết cấu làng xã và rộng hơn nữa là đất nước, bởi gia đình - họ hàng - làng, nước
được coi như là sự tổng hòa của các mối quan hệ văn hóa - xã hội - chính trị - luật tục
trong xã hội truyền thống. Việc nghiên cứu về dòng họ và quan hệ dòng họ có vị trí
quan trọng và đã có khá nhiều công trình nghiên cứu từ các góc độ dân tộc học/nhân
học, sử học, xã hội học, văn hóa học,… Tuy nhiên, trong khuôn khổ một luận án tiến
sỹ nhân học văn hóa, chúng tôi chỉ tập trung vào việc tổng quan những công trình
nghiên cứu về dòng họ thuộc lĩnh vực dân tộc học/nhân học là chính, sau nữa là những
nghiên cứu về lĩnh vực này của các khoa học gần gũi về đối tượng.
1.1.1. Các nghiên cứu về quan hệ dòng họ trên thế giới và quan hệ dòng họ của
người Việt
Có thể nói rằng, nghiên cứu dòng họ là nền tảng cơ bản để tìm hiểu về quan
hệ xã hội của tộc người trong bất cứ xã hội nào, vì vậy, đã có nhiều nhà nghiên cứu
nước ngoài như Maine, McLennan và Morgan, Lévi-Strauss và Radcliffe-Brown,
Grant Evans quan tâm đến. Lévi-Strauss đã xây dựng một lý thuyết về cấu trúc
thân tộc, trong đó hạt nhân là vấn đề “lớp hôn nhân”. Đóng góp lớn nhất của ông
chính là phát hiện và phân tích sâu sắc về quy tắc “cấm đoán loạn luân” và cũng là
người đưa ra nhiều luận giải về chế độ mẫu hệ, phụ hệ. Theo ông, hệ thống thân tộc
hôn nhân là một hệ thống trao đổi, trong đó, người chủ mưu là đàn ông, đàn bà là
những vật được trao đổi cho nên luôn luôn thụ động. Còn Radcliffe-Brown, từ
những trải nghiệm, khảo cứu của mình đã cho rằng, bản chất của một hiện tượng
thân tộc hiểu rộng là sự thành lập những đơn vị có cấu trúc chặt chẽ và trường tồn

thân tộc người Việt truyền thống qua các chiều cạnh của ngôn ngữ cũng như qua các
tài liệu điền dã dân tộc học để đưa ra một bức tranh khá đầy đủ về hệ thống thân tộc
phụ hệ truyền thống của người Việt [23].
Từ góc nhìn văn hóa học, Giáo sư Trần Quốc Vượng đã có nhận định tổng quan
về thân tộc, dòng họ của người Việt rằng, một người Việt Nam bình thường có ba họ:
7
họ bố, họ mẹ, họ vợ chồng [121]. Còn Giáo sư Phan Văn Các cho rằng, dòng họ là
một hiện tượng lịch sử - xã hội đặc biệt mang tính phổ quát của nhân loại [19]. Giáo
sư Đặng Nghiêm Vạn cho rằng “họ” có thể được hiểu theo ba nghĩa: (1) Là những
người cùng mang một tên họ, nhưng không thể chứng minh có chung một nguồn
gốc…; (2) Là những thành viên mang cùng tên họ, có cùng một nguồn gốc…; (3)
Là những người cùng thuộc về một ông tổ 5 đời (chi họ) [117]. Từ góc nhìn cấu
trúc luận, Giáo sư Phan Đại Doãn cho rằng, dòng họ của người Việt, có một thể chế
phức tạp và chặt chẽ thường được gọi là thể chế tông pháp. Đó là những quy định về
cách ứng xử giữa con người với con người cùng một tổ tiên, trước hết là các công việc
quan, tang, hôn, tế, tức là các quan hệ trên cơ sở huyết thống về các mặt. Quan hệ dòng
họ với người Việt thực sự có ý nghĩa quan trọng trong đời sống hàng ngày và có ý
nghĩa là điểm tựa thường xuyên của cuộc sống con người [32, tr. 4-6]. Dựa trên những
nghiên cứu kết hợp giữa xã hội học và sử học, hai nhà nghiên cứu Phan Đại Doãn và
Mai Văn Hai đã chỉ rõ vai trò của dòng họ trong cộng đồng làng xã với tư cách là một
đơn vị kinh tế, một bộ phận của tổ chức quyền lực và quản lý làng xã, một thiết chế
trong đời sống văn hóa tín ngưỡng [45].
Những năm gần đây, trong xu thế phục hưng, chấn hưng dòng họ, một số hội
thảo khoa học được tổ chức nhằm thảo luận, trao đổi về vai trò, ảnh hưởng của dòng
họ, văn hóa dòng họ trong đời sống xã hội hoặc lịch sử của một số dòng họ, gia
đình… như Hội thảo “Văn hóa các dòng họ ở Nghệ An trong sự nghiệp thực hiện
chiến lược con người ở Việt Nam đầu thế kỷ XXI”, “Văn hóa dòng họ ở Thái Bình”
[93] Theo hướng đó, đã xuất hiện một số luận án, luận văn viết về một hoặc nhiều
dòng họ trong một làng, một tỉnh như Dòng họ và đời sống làng xã ở đồng bằng
Bắc Bộ qua tư liệu ở một số xã thuộc huyện Thạch Thất (Hà Tây cũ) [98], Văn hóa

miền núi phía Bắc, phần lớn tập trung vào các dân tộc có số lượng cư dân lớn như
Mường, Thái, Hmông, Tày, Để có thể có sự phân biệt về cấu trúc dòng họ giữa người
Nùng, cụ thể là người Nùng Phàn Slình với các dân tộc thiểu số khác, chúng ta hãy điểm
lại các công trình đã được các nhà dân tộc học/nhân học trong và ngoài nước đi sâu
nghiên cứu kỹ lưỡng về một số vấn đề liên quan.
Trước hết phải nói rằng, trong những dân tộc thiểu số ở Việt Nam, vấn đề
dòng họ của người Hmông được các nhà nghiên cứu ở nước ngoài đặc biệt quan
tâm tìm hiểu. Liên quan đến lĩnh vực này là các công trình của các nhà nghiên cứu
9
như Nicholas Tapp [134]; Prasit Leep Cha [135] Song, những tác giả này chỉ
nhấn mạnh đến chiều cạnh lịch sử quan hệ dòng họ hay cấu trúc xã hội và hệ thống
dòng họ người Hmông có nguồn gốc từ Trung Quốc, vào khoảng sau thời nhà Tống
(960-1279).
Ở Việt Nam, khi tìm hiểu về dòng họ và quan hệ dòng họ của dân tộc
Hmông, hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng, thiết chế dòng họ được coi là
điểm cốt lõi trong xã hội người Hmông. Vương Duy Quang đã nhấn mạnh đến sự
cố kết của dòng họ của người Hmông ở ba bình diện cơ bản: cộng đồng cư trú, cộng
đồng ý thức và tình cảm, cộng đồng tôn giáo và lễ nghi. Theo tác giả, dòng họ của
người Hmông có 3 cấp độ: Thứ nhất, dòng họ bao gồm tất cả những người theo trực
hệ và bàng hệ tính từ chắt của ego đến ông tổ của ego; Thứ hai, từ cộng đồng trôngs
lại phân thành chêl (cành); Thứ ba, ở cấp độ nhỏ hẹp hơn nữa, người Hmông có
thuật ngữ phangl (mái), là đơn vị nhỏ nhất trong các cấp độ cấu trúc của cộng đồng
dòng họ người Hmông [86]. Bàn về thiết chế dòng họ người Hmông, Phạm Quang
Hoan cho rằng, dòng họ của người Hmông ở Việt Nam chứa đựng hai phạm trù cố
kết: cố kết rộng (bao gồm tất cả những người cùng dòng họ không phân biệt người
đó cư trú ở đâu) và cố kết hẹp (mỗi dòng họ được xem như là một đơn vị cố kết
cộng đồng huyết thống theo dòng cha) [52]. Tác giả Hồ Ly Giang qua tìm hiểu quan
hệ dòng họ của người Hmông ở Sơn La, cho thấy những đặc điểm, vai trò, vị trí của
dòng họ trong quản lý xã hội hiện nay là rất quan trọng [37].
Đề cập đến dòng họ và quan hệ dòng họ của người Thái có các tác giả như Cầm

việc chung có liên quan đến các gia đình trong tông tộc. Hội nghị tông tộc là một
sinh hoạt quan trọng thể hiện sự thống nhất về nhiều mặt của tông tộc nhất là về
mặt xã hội [96].
Đồng nhất với những ý kiến trên, Đỗ Thúy Bình cho rằng, mỗi bản người
Thái thường có một hoặc hai họ lớn được coi là họ gốc, trong đó các thành viên
trong họ lớn hợp thành một nhóm thân tộc gọi là ải nọng. Xung quanh họ này có
nhiều họ khác có mối quan hệ dâu gia với họ lớn. Ở người Thái Tây Bắc, nhóm
những gia đình thân tộc này có tên gọi chung là đẳm, còn ở người Thái vùng Thanh
Hóa - Nghệ Tĩnh có tên là quài xê. Biểu hiện tập trung nhất về mối quan hệ tinh
thần trong dòng họ là ý thức về ông tổ chung, tiếp đó là các nghi lễ tôn giáo chung
của dòng họ [17].
11
Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu về dòng họ và quan hệ dòng họ
của các dân tộc thiểu số khác như: người Mường, người Pa cô, người Ê-đê, người
Hrê, người Tà-ôi, Cơ-tu và Vân Kiều (Bru-Vân Kiều), người Triêng, người Khơ-
me… Nguyễn Văn Tiệp cho biết, đối với người Pa cô, vấn đề dòng họ đến nay còn
đóng một vai trò quan trọng trong đời sống hôn nhân, gia đình, tôn giáo và tín
ngưỡng. Với người Pa cô, bên nội, bên ngoại được tách bạch rõ ràng. Họ có một tên
gọi chung để chỉ bố và các anh em trai của bố; trong khi đó là một tên gọi khác để chỉ
anh em trai của mẹ; cũng như có một tên gọi chung để chỉ mẹ và các em gái của mẹ;
trong khi đó lại có một tên gọi khác để chỉ chị em gái của bố. Điều này do chế độ
ngoại hôn quy định [107].
Tại một số địa phương ở Đắk Lắk, theo Vũ Đình Lợi, phả hệ dòng họ của
người Ê-đê rất phức tạp và đa dạng như: Niê, Adrơng, Enuôn, Buôn Yă, Milô,
Eban, Hdruê… Điều này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân: đặc điểm kinh tế - xã
hội, từ quan hệ tộc người bằng con đường hôn nhân giữa các nhóm trong nội bộ
người Ê-đê và người Ê-đê với các dân tộc khác và từ đặc điểm lịch sử của vùng đất
Tây Nguyên. Những đặc điểm đó đã làm cho cơ cấu và quan hệ bên trong dòng họ
trở nên lỏng lẻo, đã phá vỡ tổ chức ngoại hôn lưỡng hợp theo hệ dòng, một đặc
điểm hôn nhân truyền thống dưới chế độ thị tộc mẫu hệ [73]. Về tổ chức dòng họ

nhau [21].
Như vậy, ở mỗi một tộc người đều có sự khác nhau về tổ chức dòng họ
nhưng không thể phủ nhận một điều rằng, dòng họ có vai trò rất lớn trong xã hội
truyền thống và hiện nay, đặc biệt là trong cộng đồng các dân tộc thiểu số. Quan
hệ dòng họ, dù là của dân tộc nào cũng đều chi phối đến mọi mặt đời sống của
từng gia đình, từng thành viên cộng đồng cũng như có sự liên quan đến toàn bộ
tổ chức kinh tế - xã hội của các tộc người thiểu số.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu về các dòng họ của các dân tộc thiểu số như đã
điểm suốt vẫn còn để ngỏ những mảng trống. Đó là, sự phân biệt đặc điểm chung và
riêng trong quan hệ bên nội - bên ngoại ở tộc người cụ thể; Sự tác động của điều
kiện địa lý tự nhiên đến quá trình phát triển của dòng họ và quan hệ dòng họ của
nhóm dân tộc thiểu số nói chung ở từng vùng miền hay giữa biên giới và nội địa
nói riêng; giữa các nhóm địa phương hay nhóm tộc người, giữa các cộng đồng
vùng cao và vùng thung lũng có loại hình hoạt động sản xuất và tổ chức xã hội
không giống nhau,…
13
1.1.2.2. Nghiên cứu quan hệ dòng họ của người Nùng và nhóm Nùng Phàn Slình
Vấn đề dòng họ, quan hệ dòng họ của người Nùng và Nùng Phàn Slình cho
tới nay vẫn chưa thấy xuất hiện một công trình chuyên khảo nào. Hầu hết các công
trình đều đề cập đến những vấn đề như lịch sử, hôn nhân gia đình, trang phục và
các lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo… của một dân tộc Nùng chung ở Việt Nam mà
chưa đi sâu tìm tòi những tương đồng và khác biệt ở từng nhóm địa phương trên
các vấn đề này.
Giáo sư Hoàng Nam, từ góc nhìn dân tộc học cho rằng, đơn vị xã hội cổ
truyền thấp nhất đối với dân tộc Nùng là bản. Người đứng đầu bản là trưởng bản
(tàu bản), do dân suy tôn từ người của một dòng họ lớn nhất, có uy thế nhất trong
bản. Người đó cũng là trưởng họ của các dòng họ đó. Một dòng họ có uy thế thường
là dòng họ đông nhất trong bản hoặc thuộc dòng thổ ty [78]. Trong một công trình
chuyên khảo về các dân tộc Tày, Nùng của Viện Dân tộc học, khi đề cập đến tổ
chức xã hội của người Nùng, các tác giả đã viết: bản của người Nùng phổ biến được

người Nùng Phàn Slình thể hiện rõ các đặc trưng văn hóa tộc người qua nguyên tắc
hôn nhân, các nghi thức hôn lễ cũng như mối quan hệ tương trợ dựa trên mạng lưới
kết nối các cá nhân với nhau ở cùng họ tộc trong cộng đồng thôn bản [6]. Khi ở trong
điều kiện cư trú riêng biệt, với các mối quan hệ nội ngoại, thông gia chằng chịt, thực
hành trợ giúp trong tang ma và cưới xin càng củng cố thêm sự cố kết tộc người của
họ [8].
Tóm lại, việc nghiên cứu dòng họ của người Nùng Phàn Slình ở nước ta còn
thiếu vắng một công trình có hệ thống và toàn diện. Vấn đề dòng họ và quan hệ dòng
họ của dân tộc Nùng nói chung và nhóm Nùng Phàn Slình nói riêng còn chưa được
quan tâm đúng mức, cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn. Đa số nghiên cứu không
lấy dòng họ và quan hệ dòng họ người Nùng làm đối tượng nghiên cứu chính mà là
những vấn đề có liên quan như nghi lễ, tín ngưỡng, tôn giáo, gia đình, lịch sử tộc
người… được công bố dưới dạng các sách chuyên khảo, bài đăng ở tạp chí nghiên
cứu chuyên ngành, hội thảo hay đề tài khoa học. Vì vậy, trong bối cảnh hiện nay,
những vấn đề liên quan đến quan hệ dân tộc xuyên biên giới/xuyên quốc gia đang đặt
ra cho việc xây dựng nông thôn mới, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc,
củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, bảo vệ an ninh biên giới những yêu cầu mới, đòi
hỏi sự cần thiết phải đi sâu nghiên cứu hơn nữa vấn đề này.
15
1.2. Một số quan niệm về quan hệ dòng họ và lý thuyết nghiên cứu
1.2.1. Một số quan niệm về quan hệ dòng họ
1.2.1.1. Quan niệm của các học giả nước ngoài
Nhiều nhà Nhân học phương Tây cho rằng, các dòng họ được xác định bằng
những mối quan hệ với tổ tiên và vì vậy chúng có một bề dày thời gian. Nguyên tắc
của quan hệ dòng họ bao gồm sự truyền lại qua mối liên hệ cha mẹ - con cái và sự
liên kết những người này lại với nhau thành nhóm xã hội. Trong một số xã hội tư
cách thành viên trong một dòng họ sẽ quyết định cách thức người ta được huy động
để phục vụ cho hành động xã hội [93, tr.267]. Giới nhân học phương Tây cũng
thường nhấn mạnh đến vai trò của “dòng họ là một phần quan trọng trong thân tộc và
gia đình. Dòng họ là một đơn vị xã hội trường tồn mà các thành viên tự cho là xuất

chỉ có thể xem là một dạng đặc biệt của gia đình mở rộng, mà tác dụng chính đối với
các thành viên của nó (tức là các gia đình nhỏ hợp thành nó) là tạo ra một niềm cộng
cảm dựa trên huyết thống” [22, tr.253]. Giáo sư Trần Quốc Vượng cho rằng: “một
người Việt Nam bình thường có 3 họ: Họ mẹ, Họ bố, Họ vợ chồng” đã phản ảnh đầy
đủ mối quan hệ về dòng họ của người Việt từ truyền thống đến hiện tại [121, tr.76].
Điểm lại một số định nghĩa tiêu biểu của các nhà nghiên cứu trong và ngoài
nước cho thấy, về cơ bản các ý kiến đều tương đối thống nhất khẳng định: dòng họ
là một thiết chế xã hội đặc biệt, gắn bó với nhau bởi quan hệ huyết thống do khởi
sinh từ một thủy tổ. Trong mối quan hệ đồng huyết này, các cá nhân bao gồm cả
người đang sống và người đã chết đều mang họ theo phía bố; người Việt thường
coi trọng họ nội. Tuy nhiên, chính mối quan hệ quan trọng nhất - mối quan hệ
huyết thống đó đã khiến dòng họ người Việt hình thành hàng loạt mối quan hệ
khác: quan hệ kinh tế với chế độ lưu giữ và thừa kế gia sản, quan hệ tín ngưỡng
thờ tổ tiên mà trước hết là thờ thủy tổ, quan hệ cộng đồng của các thành viên cùng
sống trong một thiết chế xã hội được tổ chức theo nguyên tắc luân lý…
Mặc dù phần lớn quan niệm về dòng họ của các tộc người thiểu số còn ít
được đề cập nhưng có những định nghĩa, theo chúng tôi là rất đáng lưu ý. Chẳng
hạn, quan niệm của nhà dân tộc học Cầm Trọng khi khảo sát về mối quan hệ dòng
họ trong cộng đồng người Thái hay rộng hơn là cư dân thuộc nhóm ngôn ngữ Tày -
Thái cho rằng: một bản thường chỉ có một hoặc hai họ lớn được coi là gốc. Trong
một bản Thái có khá đầy đủ mối quan hệ: ải nọng, lúng ta, nhính xao (họ bố, họ mẹ,
họ vợ). Ý kiến này của tác giả Cầm Trọng cùng quan điểm với Giáo sư Trần Quốc
17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status