LỜI MỞ ĐẦU
Trong điều kiện nền kinh thị trường hiện nay thì doanh nghiệp luôn thực
hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh với mục tiêu là tối đa hoá lợi nhuận. Để
thực hiện mục tiêu quan trọng này, thì chất lượng và giá thành sản phẩm là vấn
đề hàng đầu mà các doanh nghiệp đặc biệt quan tâm.
Trong chúng ta, ai cũng biết rằng nguồn tài nguyên thiên nhiên của nước
ta là một trong những nguồn lực hết sức to lớn, vì từ đó thông qua việc khai thác
chế biến sẽ cung cấp cho chúng ta nguồn nguyên liệu vô cùng đa dạng và phong
phú để đáp ứng cho nhu cầu chế tạo sản phẩm trong các ngành kinh tế quốc dân
với trình độ sản xuất và công nghệ ngày càng cao, phục vụ cho việc công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu ra
nước ngoài.
Với nền kinh tế thị trường muốn doanh nghiệp tồn tại được thì mỗi đơn vị
kinh tế phải tự mình tổ chức sản xuất, hạch toán, tiêu thụ sản phẩm. Các doanh
nghiệp (trừ các doanh nghiệp hoạt động công ích) đều đặt ra mục tiêu của mình là
sản xuất cái gì bằng cách nào? giá bán bao nhiêu để đảm bảo có lãi? và mở rộng
sản xuất mà thị trường vẫn chấp nhận được. Do vậy giảm chi phí sản xuất, hạ giá
thành sản phẩm là một biện pháp hữu hiệu quyết định sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp.
Kết cấu giá thành của một sản phẩm sản xuất bao gồm chi phí nguyên vật
liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung. Muốn hạ giá
thành sản phẩm thì phải giảm các chi phí. Tỷ trọng của từng loại chi phí trong
sản phẩm tùy thuộc vào từng loại sản phẩm sản xuất. Ví dụ đối với sản phẩm xi
măng thì chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong giá thành,
do đó việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm nguyên vật liệu trên cơ sở các định mức kỹ
thuật và dự toán chi phí có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong mục tiêu hạ giá
thành sản phẩm, tăng tích luỹ cho công ty. Từ nhận thức đó mà công tác tổ chức
kế toán nguyên vật liệu ở Công ty Cổ phần xi măng Bỉm Sơn luôn được coi
trọng đúng mức.
1
Trong thời gian thực tập ở công ty Cổ phần xi măng Bỉm Sơn được sự
Bỉm Sơn. Ngày 12/4/2006 công ty đã tiến hành đại hội cổ đông thành lập ra
hội đồng quản trị và ban kiểm soát. Được sở kế hoạch đầu tư tỉnh Thanh
Hoá cấp giấy chứng nhận đăng ký KD số 2603000429 ngày 01/5/2006
Công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn chính thức đi vào hoạt động.
2. Đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty
2.1.Chức năng nhiệm vụ
Công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn với chức năng sản xuất các loại xi
măng PCB30, PCB40 có chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn TC ISO
9002 của Nhà Nước.
Công ty có nhiệm vụ sản xuất và cung cấp xi măng cho các công
trình xây dựng trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài chủ yếu là thị trường
Lào. Ngoài ra công ty còn có nhiệm vụ cung cấp xi măng cho các địa bàn
3
theo sự điều hành của Tổng công ty công nghiệp XM Việt Nam để tham gia
vào việc bình ổn giá cả trên thị trường.
2.2 Tổ chức bộ máy quản lý
Bộ máy quản lý của công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn gồm: Đại hội
đồng cổ đông, hội đồng quản trị, ban kiểm soát, ban giám đốc và 18 phòng
ban, 11 phân xưởng được chia thành 4 khối: Khối phòng ban, khối sản xuất
chính, khối sản xuất phụ trợ và khối tiêu thụ (gồm: Trung tâm giao dịch
tiêu thụ và 8 văn phòng đại diện được đặt ở 7 tỉnh thành trong cả nước và
nước bạn Lào).
• Đại hội đồng cổ đông:
Đại hội đồng cổ đông bao gồm tất cả những cổ đông có quyền biểu
quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của công ty. Đại hội đồng cổ đông
quyết định tất cả những vấn đề thuộc về công ty theo pháp luật qui định
như: Cơ cấu tổ chức sản xuất, qui mô sản xuất kinh doanh, kế hoạch, nhiệm
vụ, cổ tức, phương hướng đầu tư phát triển
• Hội đồng quản trị:
Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý của công ty gồm 5 thành viên
Bao gồm xưởng Sửa chữa thiết bị, Xưởng Công trình, Xưởng Điện
tự động, Xưởng Cấp thoát nước - Nén khí, Xưởng Cơ khí. Các xưởng này
có nhiệm vụ cung cấp lao vụ phục vụ cho sản xuất chính.
• Nhiệm vụ của một số phòng ban chủ yếu:
- Phòng Kỹ thuật sản xuất: Có nhiệm vụ theo dõi điều độ sản xuất,
phụ trách các phân xưởng sản xuất chính và sản xuất phụ, chịu trách
nhiệm về chất lượng sản phẩm theo TC ISO 9002.
- Phòng Cơ khí: Theo dõi tình hình hoạt động của máy móc thiết bị,
sửa chữa, chế tạo thiết bị, phụ tùng thay thế.
- Phòng Năng lượng: Theo dõi tình hình cung cấp năng lượng cho sản xuất.
- Phòng quản lý xe máy: Theo dõi toàn bộ các loại phương tiện vận
tải, thiết bị động lực.
5
- Phòng Kế toán-Thống kê-Tài chính: Có nhiệm vụ giám sát bằng
đồng tiền đối với tài sản và các hoạt động sản xuất kinh doanh của công
ty.
- Phòng Vật tư thiết bị: Cung ứng vật tư, phụ tùng thay thế, máy
móc thiết bị cho sản xuất.
- Phòng Kế hoạch: Có nhiệm vụ lập và tổ chức thực hiện kế hoạch
SXKD, tiêu thụ của công ty.
- Phòng Tổ chức lao động: Theo dõi, quản lý lao động và tiền
lương, các chế độ chính sách
• Khối tiêu thụ có 8 Văn phòng đại diện và Trung tâm giao dịch tiêu thụ:
- Trung tâm tiêu thụ có nhiệm vụ ký hợp đồng huy động phương
tiện vận tải với các cá nhân, tập thể bên ngoài để vận chuyển xi măng đến
các địa bàn tiêu thụ, viết hoá đơn kiêm phiếu xuất kho để lưu chuyển xi
măng đi các Văn phòng đại diện và viết hoá đơn bán xi măng cho các đối
tượng mua xi măng tại đầu nguồn.
- Các Văn phòng đại diện có nhiệm vụ bán xi măng trên địa bàn của
mình phụ trách, chịu trách nhiệm theo dõi số hàng nhập về và bán ra cũng
Phòng N. Lượng
Phòng QLXM
Xưởng SCTB
Xưởng CKCT
Xưởng CTN-NK
Xưởng điện TĐ
Xưởng SCCT
Văn phòng
Phòng KTKH
Phòng TCLĐ
Phòng TTKTC
Ban QLDA
Phòng Kỹ
thuật
Phòng
KH-TH
Phòng
KTTC
VP.Ninh Bình
VP.Hà Tây
Trung tâm GDTT
VP.Thanh Hoá
VP.Nghệ An
VP Hà Tĩnh
VP.Nam Định
VP.Sơn La
Phòng
VT TB
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
BAN KIỂM SOÁT
QUI TRÌNH CÔNG NGHỆ CÓ THỂ BIỂU DIỄN THEO SƠ ĐỒ SAU
8
Khai thác
nguyên liệu
Nghiền nguyên
liệu
Nung Klinker
Nghiền xi măng
Đóng bao
Thành phẩm
Qua quy trình công nghệ sản xuất xi măng của công ty ta có thể thấy đây
không phải là quy trình công nghệ phức tạp, song đối với công ty xi măng do
công xuất thiết kế lớn, quy trình công nghệ mang tính liên tục.
2.4 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong những năm gần đây
KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN XI MĂNG BỈM SƠN 2 NĂM GẦN ĐÂY:
( Đơn vị tính : 1000
Đồng)
Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008
So sánh
Số tiền %
1. Tổng doanh thu 1.593.689.626 1.553.484.989 -40.204.637 97%
2.Doanh thu thuần bán hàng
và cung cấp dịch vụ
1.593.689.626 1.553.484.989 -40.204.637 97%
3. Giá vốn hàng bán 1.191.059.390 1.172.482.013 -18.577.377 98%
4. Lợi nhuận gộp về bán hàng
và cung cấp dịch vụ
402.630.236 381.002.976 -21.627.260 95%
5.Doanh thu hoạt động tài
thu của Công ty năm 2008 thấp hơn năm 2007 nhưng công ty đã có biện pháp cải
tiến quản lý, tiết kiệm chi phí hạ giá thành sản phẩm, đồng thời hạ giá bán sản
phẩm để thúc đẩy tiêu thụ. Tuy rằng lãi gộp của năm 2008 có giảm so với năm
2007 nhưng với ý chí và quyết tâm nỗ lực phấn đấu bằng chính nội lực của mình,
công ty đã giảm được chi phí bán hàng, từng bước vươn lên làm cho sản xuất ổn
định, lợi nhuận ròng đạt 145% so với năm 2007.
Năm 2007 thực hiện luật thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ Công ty
vẫn đảm bảo tốt nghĩa vụ đối với Ngân sách Nhà nước; Năm 2007 Công ty
chuyển đổi thành công ty cổ phần và đã niêm yết cổ phiếu trên sàn giao dịch
chứng khoán Hà nội tháng 11/2006 nên công ty đang được miễn thuế thu nhập
doanh nghiệp trong vòng 3 năm. Tuy nhiên trong tình hình thực tế hiện nay một
số chỉ tiêu chủ yếu của công ty gặp không ít khó khăn trong sản xuất và kinh
doanh nhưng công ty vẫn đảm bảo được kinh doanh có lãi, đời sống cán bộ công
nhân viên ngày càng được cải thiện hơn.
Năm 2008 tuy chưa đạt được kỳ vọng kế hoạch đầu năm sản xuất và tiêu
thụ 2.85 triệu tấn sản phẩm, nhưng công ty đã phấn đấu đạt được những kết quả
cao nhất so với các năm trước đây, kết quả đạt được của năm 2008 thể hiện ý chí
tiến công mạnh mẽ của lãnh đạo công ty và tinh thần chủ động sáng tạo của các
đơn vị, sự nỗ lực vươn lên của tập thể CNVC.
Về sản xuất kinh doanh đã tập trung chỉ đạo điều hành duy trì sản xuất ổn
định, phát huy tối đa năng xuất và hệ số sử dụng thời gian thiết bị, đảm bảo ổn
10
định chất lượng xi măng, thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và duy trì hệ thống
quản lý chất lượng.
2.5 Phương hướng phát triển của công ty trong những năm tới
Trước thời cơ và thách thức mới khi Việt Nam gia nhập WTO, Công ty đã chủ
động, sáng tạo xây dựng kế hoạch phát triển với phương châm đầu tư mở rộng sản
xuất kinh doanh đa nghành nghề, sản phẩm, dịch vụ, nâng cao năng lực tài chính và
quy mô doanh nghiệp. Xây dựng Công ty phát triển ổn định bền vững.
Thường xuyên chỉ đạo và kiểm tra, giám sát nghiêm ngặt mẫu mã và chất
1.1 Hình thức tổ chức công tác kế toán
Do đặc điểm công ty xi măng Bỉm Sơn là doanh nghiệp sản xuất có quy mô
lớn, tổ chức sản xuất kinh doanh thành nhiều bộ phận gấn có xa có nên Công ty
đã chọn hình thức tổ chức bộ máy kế toán tập trung – phân tán. Công việc kế toán
hoạt động sản xuất kinh doanh ở các bộ phận xa công ty do kế toán ở các bộ phận
đó thực hiện, rồi định kỳ tổng hợp số liệu gửi về phòng kế toán của công ty. Còn
hoạt động các bộ phận tại công ty do phòng kế toán công ty thực hiện cùng với
việc tổng hợp số liệu chung toàn công ty và lập báo cáo kế toán định kỳ.
1.2 Nguyên tắc tổ chức bộ máy công tác kế toán trong công ty
Để phù hợp và đáp ứng với yêu cầu quản lý mới, việc tổ chức công tác kế
toán trong công ty đã tuân theo những nguyên tắc:
+ Tổ chức công tác kế toán đúng với những quy định trong điều lệ tổ chức
kế toán nhà nước, phù hợp với yêu cầu quản lý vĩ mô của nhà nước. +
Tổ chức công tác kế toán phù hợp với chế độ, chính sách tỷ lệ văn bản pháp quy
về kế toán của nhà nước ban hành.
+ Tổ chức công tác kế toán phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh
hoạt động quản lý, quy mô và địa bàn hoạt động và yêu cầu quản lý của công ty.
+ Tổ chức công tác kế toán của công ty phù hợp với trình độ và nghiệp
vụ, chuyên môn của đội ngũ cán bộ kế toán.
12
+ Tổ chức công tác kế toán đảm bảo nguyên tắc tiết kiệm hiệu quả cao.
1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán
Bộ máy kế toán của công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn đứng đầu là kế
toán trưởng, tiếp đến là Phòng Kế toán – Thống kê – Tài Chính có 34 người
được chia làm 5 tổ đó là tổ tài chính gồm 7 người , tổ kế toán vật tư có 6 người,
tổ kế toán tổng hợp và tính giá thành co 10 người, tổ kế toán tiêu thụ sản phẩm
gồm 6 người, tổ kế toán đời sống gồm có 5 người. Tất cả các kế toán viên đều
có trình độ chuyên môn từ trung cấp đến đại học. Dưới đây là mô hình tổ chức
của bộ máy và chức năng cụ thể của từng bộ phận:
MÔ HÌNH CỦA PHÒNG KẾ TOÁN
sống
và ngăn chặn kịp thời nhứng hiện tượng vi phạm chế độ, chính sách Quản lý
chặt chẽ, nghiêm ngặt việc sử dụng, cấp phát hoá đơn, chứng từ, các loại phiếu
chuyển tiền theo quy định.
Phòng Kế toán - Thống kê - Tài chính: Có chức năng quản lý tài chính và
giám sát mọi hoạt động kinh tế tài chính trong Công ty, tổ chức chỉ đạo toàn bộ
công tác thống kê, thông tin kinh tế và hạch toán kinh tế nội bộ theo điều lệ kế
toán tài chính
+ Tổ tài chính gồm 7 người (Trong đó có 2 thủ quỹ) có nhiệm vụ theo dõi
việc thanh toán đối với cán bộ công nhân viên, thanh toán tạm ứng, các khoản phải
thu phải trả và theo dõi việc thanh toán đối với Ngân sách nhà nước.
+ Tổ Kế toán vật tư: Gồm 6 người có nhiệm vụ theo dõi việc nhập xuất
tồn kho nguyên vật liệu của công ty và việc hạch toán nội bộ.
+ Tổ kế toán tổng hợp và tính giá thành: Gồm 10 người phụ trách việc lập
báo cáo tài chính, tính giá thành sản phẩm, theo dõi TSCĐ, theo dõi việc thanh toán
với người bán, duyệt giá đối với vật tư đầu vào và sản phẩm bán ra.
+ Tổ kế toán tiêu thụ sản phẩm: Gồm 6 người có nhiệm vụ theo dõi và
hạch toán đối với khâu tiêu thụ sản phẩm và các văn phòng đại diện, đại lý.
+ Tổ kế toán đời sống: Gồm 5 người có nhiệm vụ làm công tác thống kê
tại các bếp ăn của công ty.
Ngoài ra còn có các bộ phận kế toán nằm ở các văn phòng đại diện và
Trung tâm giao dịch tiêu thụ làm nhiệm vụ kế toán bán hàng và thu chi các
khoản được Giám đốc, kế toán trưởng phân cấp quản lý và một bộ phận kế toán
ban quản lý dự án chuyên theo dõi công việc cải tạo hiện đại hóa nhà máy và
quyết toán công trình.
Để giúp cho kế toán trưởng chỉ đạo công việc hàng ngày của phòng, phòng
kế toán gồm có 2 phó phòng (một thuộc tổ tổng hợp và một thuộc tổ tiêu thụ) giúp
việc cho kế toán trưởng và điều hành lúc kế toán trưởng đi vắng.
Mặc dù mỗi nhân viên kế toán phụ trách và tự chịu trách nhiệm về một
phần hành nhất định nào đó nhưng tất cả đều chịu sự chỉ đạo toàn diện, thống
sở các Sổ cái) và các Bảng tổng hợp chi tiết (Lập trên cơ sở các sổ kế toán chi
tiết tương ứng).
TRÌNH TỰ GHI SỔ THEO HÌNH THỨC NHẬT KÝ CHUNG
ĐƯỢC BIỂU DIỄN BẰNG SƠ ĐỒ SAU:
Hàng ngày
Cuối tháng
Đối chiếu kiểm tra
Công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn đã ứng dụng kế toán máy nên quan
trọng nhất là khâu thu thập, xử lý, phân loại chứng từ và định khoản kế toán.
Đây là khâu đầu tiên của quy trình hạch toán trên máy vi tính và là khâu quan
trọng nhất vì kế toán chỉ vào dữ liệu cho máy thật đầy đủ và chính xác, còn các
thông tin đầu ra như sổ cái, sổ chi tiết, các báo cáo kế toán đều do máy tự xử lý
thông tin, tính toán và đưa ra các bảng biểu khi cần in.
Công ty hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên,
niên độ kế toán là một năm, kỳ hạch toán tại công ty là một tháng.
Công ty nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ.
16
Chứng từ gốc
Nhật ký chungNhật kí chuyên
dùng
Sổ quỹ Sổ (thẻ)kế toán
chi tiết
Bảng tổng hợp
chi tiết
Lập chứng từ Chứng từ kế toán
Nhập chứng từ vào các
phân hệ nghiệp vụ
Các tệp nhật ký
Chuyển sang sổ cáiTệp sổ cáiLên báo cáo
Sổ sách kế toán,
Báo cáo tài chính
Trình tự kế toán trên máy vi tính được tiến hành theo các bước sau:
2.2.Đặc điểm tổ chức các phần hành kế toán chủ yếu của công ty
* Kế toán tiền mặt, tiền gửi và tiền vay
Nhiệm vụ đầu tiên của kế toán là thu thập các chứng từ, các tài liệu khi có
các nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Các chứng từ khi phát sinh các nghiệp vụ liên
18
1. Chuẩn bị Thu thập, xử lý các tài liệu, chứng từ
cần thiết
Định khoản kế toán
3. Khai báo yêu cầu với máy
2. Nhập dữ liệu cho máy Nhập mọi thông tin về các
nghiệp vụ phát sinh theo yêu cầu
4. Máy tự xử lý thông tin
5. In sổ sách, báo cáo theo yêu cầu
quan đến tiền như: Các phiếu thu, phiếu chi tiền, giấy báo nợ, giấy báo có của
ngân hàng, giấy ủy nhiệm chi …
Kế toán tiền mặt căn cứ vào các chứng từ gốc lập phiếu thu ( 2 liên),
phiếu chi trên máy vi tính. Viết xong kế toán lưu lại trên máy và in ra trình Kế
toán trưởng, Giám đốc công ty ký. Sau đó chuyển cho thủ quỹ để thu, chi tiền.
Sau khi thủ quỹ thu, chi tiền thủ quỹ phải đóng dấu “ đã thu ” hoặc “ đã chi ”
vào các phiếu thu và phiếu chi. Cuối ngày, thủ quỹ căn cứ vào các phiếu thu,
phiếu chi để ghi vào sổ quỹ và lập báo cáo quỹ kèm theo các chứng từ gốc
chuyển về phòng kế toán. Kế toán tiền mặt có nhiệm vụ kiểm tra đối chiếu lại rà
bản tiếp nhận thuỷ tinh lỏng, biên bản tiếp nhận gạch chịu lửa…); Các biểu
kế hoạch và đơn hàng( kế hoạch nhu cầu vật tư năm, phiếu nhu cầu vật tư,
kế hoạch mua hàng trong nước, đơn hàng nhập khẩu); phiếu nhập kho, phiếu
xuất kho.
Hàng ngày căn cứ vào nhu cầu sử dụng vật tư của mỗi phân xưởng (căn
cứ vào nhiệm vụ sản xuất cụ thể, căn cứ vào định mức tiêu hao vật tư theo kế
hoạch sản xuất của mỗi phân xưởng), nhân viên thống kê tại các phân xưởng sẽ
viết Phiếu đề nghị xuất kho nguyên vật liệu, trên phiếu ghi rõ tên vật tư cần
dùng, số lượng, chủng loại, có chữ ký của quản đốc phân xưởng, phải được sự
phê chuẩn của phòng Kỹ thuật sản xuất và gửi lên Tổng kho.
Căn cứ vào Phiếu đề nghị xuất kho đã được duyệt, Tổng kho sẽ tiến hành
viết Phiếu xuất kho. Phiếu xuất kho bao gồm 3 liên: Một liên lưu ở kho phân
xưởng, nơi nhập vật tư, một liên được lưu ở Tổng kho, còn một liên được
chuyển lên Phòng Kế Toán - Thống Kê – Tài Chính làm chứng từ gốc căn cứ
hạch toán. Phiếu xuất kho chỉ theo dõi về mặt số lượng không ghi đơn giá xuất.
Định kỳ 5 – 7 ngày, Tổng kho sẽ chuyển các Phiếu xuất kho lên phòng kế toán.
20
Kế toán vật tư khi nhận được Phiếu xuất kho sẽ tiến hành kiểm tra tính
hợp lệ của chứng từ, ký xác nhận, sau đó định khoản
* Kế toán chi phí và tính giá thành
Chứng từ sử dụng: Phiếu xuất kho NVL, phiếu nhập kho thành phẩm,
bảng thanh toán lương, bảng phân bổ NVL, bảng tính và phân bổ khấu hao
tài sản.
Các báo cáo của phần hành kế toán này: Báo cáo chi phí theo tiểu
khoản, báo cáo cho phí theo khoản mục chi phí, báo cáo theo vụ việc, báo
cáo theo thị trường tự do, báo cáo giá thành xi măng Bỉm Sơn( Tổng hợp
chi phí giá thành, Bảng phân bổ chi phí vận tải, bảng phân bổ chi phí phụ
trợ, bảng phân bổ Clinke theo dây chuyền, tổng giá thành sản phẩm nhập
kho)…
Sau khi tập hợp các loại chi phí sản xuất trên các tài khoản 621, 622,
theo thời gian và địa điểm phát sinh chúng. Do đó, chứng từ kế toán là căn cứ
quan trọng của việc ghi sổ kế toán và kiểm tra kế toán. Hiểu rõ tầm quan trọng
của chứng từ kế toán, công ty đã thực hiện tổ chức hệ thống chứng từ kế toán
theo đúng nội dung, phương pháp lập, ký chứng từ theo quy định của Luật kế
toán và Nghị định số 129/2004/NĐ- CP ngày 31/05/2004 của Chính phủ. Tất cả
các loại chứng từ công ty sử dụng đều đúng với mẫu của Bộ Tài chính quy định.
Đối với Phiếu thu, Phiếu chi, Phiếu nhập kho, Phiếu xuất kho công ty đã
thiết kế đúng với mẫu của Bộ Tài chính và đã đưa vào phần mềm quản lý vật tư
và được in trên máy tính sử dụng. Trước khi viết phiếu nhập kho nhân viên
thống kê Tổng kho căn cứ vào: Hợp đồng kinh tế, Hoá đơn (GTGT) bên bán,
Biên bản kiểm nghiệm vật tư.(Mẫu số 03-VT), Phiếu kiểm định chất lượng hàng
hoá. Sau khi kiểm tra tính hợp pháp, tính hợp lý và hợp lệ của chứng từ trên
22
nhân viên thống kê Tổng kho viết phiếu nhập kho theo đúng quy định về mẫu
biểu, nội dung và phương pháp lập, ký đủ các chữ ký của những người có liên
quan theo mẫu biểu quy định. Căn cứ vào yêu cầu sản xuất, sổ xin cấp vật tư của
các đơn vị được các phòng ban chức năng hoặc người có thẩm quyền duyệt cấp
nhân viên thống kê Tổng kho viết phiếu xuất kho. Phiếu nhập, xuất kho vật tư
sau khi được ban hành, cán bộ cung ứng đưa đến kho vật tư để nhập hàng hoặc
lĩnh vật tư. Hàng ngày thủ kho căn cứ vào phiếu nhập, xuất kho để ghi cập nhật
vào thẻ kho và chuyển cho phòng kế toán làm căn cứ để ghi sổ kế toán. Hàng
ngày kế toán kho thu phiếu nhập, xuất vật tư về xử lý thông tin và nhập liệu vào
máy vi tính phần xuất còn phần nhập kho thì do kế toán thanh toán với người
bán đảm nhận.
Tổ kế tài chính căn cứ vào các chứng từ gốc lập phiếu thu (2 liên), phiếu
chi trên máy vi tính. Viết xong kế toán lưu lại trên máy và in ra trình Kế toán
trưởng, Giám đốc công ty ký. Sau đó chuyển cho thủ quỹ để thu, chi tiền. Sau
khi thủ quỹ thu, chi tiền thủ quỹ phải đóng dấu “ đã thu ” hoặc “ đã chi ” vào các
phiếu thu và phiếu chi. Cuối ngày, thủ quỹ căn cứ vào các phiếu thu, phiếu chi
để ghi vào sổ quỹ và lập báo cáo quỹ kèm theo các chứng từ gốc chuyển về
ca của công nhân sản xuất. Ngoài ra kế toán tiền lương còn sử dụng một số
các tài khoản như TK 351 - quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm, TK 3382 –
kinh phí công đoàn,…
3.3 Đặc điểm về tổ chức báo cáo
Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp về tình hình tài sản, nguồn
vốn cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh nghiệp. Nói cách khác đây
là phương tiện trình bày khả năng sinh lời và thực trạng tài chính cho các đối
tượng quan tâm cả về bên trong và bên ngoài doanh nghiệp.
Báo cáo tài chính của Công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn có mục đích
cung cấp thông tin về báo cáo tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền
của công ty nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý của chủ doanh nghiệp, cơ quan nhà
24
nước và những người có nhu cầu sử dụng trong công việc đưa ra các quyết định
kinh tế, các báo cáo tài chính của công ty được lập và trình bầy theo đúng 6
nguyên tắc quy định tại Chuẩn mực kế toán số 21 –“ Trình bày báo cáo tài
chính” : Hoạt động liên tục, cơ sở dồn tích , nhất quán, trọng yếu , tập hợp,bù trừ
và có thể so sánh.
Ngoài báo cáo tài chính theo năm gồm: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết
quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo tài
chính công ty còn lập các báo cáo theo quý và theo kỳ kế toán. Đặc biệt theo yêu
cầu của quản lý cũng như đảm bảo chính xác số liệu trên các báo cáo công ty còn
tự thiết kế thêm một số báo cáo quản trị như : Báo cáo chi tiết chi phí quản lý, chi
phí bán hàng; Báo cáo kết quả tiêu thụ; Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh tổng
hợp; Báo cáo doanh thu lợi nhuận theo địa bàn…
Tất cả các kế toán từng phần hành cuối kỳ báo cáo sau khi đối chiếu
kiểm tra chính xác các số liệu và tài khoản các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
trong kỳ thì tổng hợp cho kế toán trưởng lên báo cáo tài chính bằng phần
mềm kế toán Accuonting.
Bảng cân đối kế toán được kế toán tổng hợp kiểm tra đối chiếu giữa các sổ
kế toán liên quan, giữa các sổ kế toán tổng hợp với nhau, giữa các sổ kế toán tổng