nghiên cứu phát triển làng nghề gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới ở tỉnh bắc ninh - Pdf 23

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LÊ XUÂN TÂM

NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ
GẮN VỚI CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
Ở TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Mã số : 62.62.01.15


Phản biện 3: PGS.TS. NGUYỄN ĐÌNH LONG
Viện Nghiên cứu và Đào tạo môi trường quản lý Luận án sẽ được bảo vệ tại hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Vào hồi giờ, ngày tháng năm 2014 Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Nông nghiệp Việt Nam
1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng và phát triển nông thôn luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm.
Với vai trò, tầm quan trọng của nông thôn trong phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc
phòng và thực tiễn phát triển nông thôn trong giai đoàn hiện nay, năm 2009 Chính phủ đã
ban hành Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới.
Một trong những mục tiêu chương trình xây dựng nông thôn mới hướng tới là: Xây
dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại, cơ cấu kinh tế
và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công
nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch… Chính vì vậy, việc
khôi phục, phát triển làng nghề hiện nay là khâu quan trọng nhằm phát huy lợi thế so sánh
của mỗi vùng, giảm dần khoảng cách thu nhập giữa thành thị và nông thôn, thúc đẩy
chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế nông thôn, khai thác các tiềm năng sẵn có nhằm ổn định và
phát triển các làng nghề, ngành nghề TTCN theo cơ chế thị trường, chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế, từng bước nâng cao bộ mặt kinh tế vùng nông thôn.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển làng nghề gắn với Chương trình mục
tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Bắc Ninh.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển các làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
(trong đó chủ yếu phân tích các nhóm ngành nghề như: Tái chế kim loại, sản xuất cơ khí;
Dệt nhuộm, tái chế giấy; Sản xuất đồ gỗ, đồ mỹ nghệ;…). Phân tích sự phát triển của làng
nghề trên ba khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường; Đánh giá sự hình thành và quá trình
phát triển của các làng nghề hiện nay dựa trên các tiêu chí về xây dựng nông thôn mới.
4. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài nghiên cứu
Trên cơ sở kế thừa, tiếp thu những điểm hợp lý của các công trình nghiên cứu đã có và
nghiên cứu của bản thân, tác giả luận án cho rằng phát triển làng nghề theo định hướng
xây dựng NTM là một hình thức phát triển mới, phù hợp với tiến trình vận động của xã
hội nông thôn ở Việt Nam hiện nay. Việc lồng ghép phát triển làng nghề với chương trình
XDNTM sẽ giúp cho các chỉ tiêu về kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường của nông thôn
mới trở nên khả thi hơn, trong khi đó làng nghề cũng sẽ được phát triển đúng quy hoạch,
yếu tố môi trường, công nghệ và nhân lực,… được bảo đảm. Trong đó nhấn mạnh đến việc
bảo tồn đối với một số làng nghề có nguy cơ bị mai một, khả năng thích ứng đối với một
số làng nghề phát triển kém và sự lan tỏa đối với các làng nghề phát triển mạnh.
5. Những đóng góp mới của luận án
5.1. Đóng góp về mặt lý luận của luận án
3

Thông qua việc tổng kết bài học kinh nghiệm phát triển làng nghề trong bối cảnh xây
dựng nông thôn của một số nước trong khu vực, một số địa phương trong nước, kế thừa các
nghiên cứu đã có về phát triển làng nghề và phát triển làng nghề gắn với chương trình xây
dựng nông thôn mới tác giả đã phân tích, làm rõ được sự cần thiết và tầm quan trọng của
việc lồng ghép giữa phát triển làng nghề với Chương trình XDNTM. Luận án đã chỉ ra
rằng việc lồng ghép giữa phát triển làng nghề với Chương trình XDNTM sẽ giúp cho các

sản phẩm khác nhau.
1.1.2 Phát triển làng nghề
Trong kinh tế, phát triển được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế
trong một thời kỳ nhất định, bao gồm cả sự tăng thêm về lượng và sự tiến bộ về chất, nó là
sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh tế và xã hội ở mỗi
quốc gia. Theo đó, phát triển làng nghề là sự tăng lên cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu tổ
chức của làng nghề ở hai mức độ từ thấp lên cao thể hiện ở việc mở rộng về quy mô sản
xuất, sự gia tăng về mức đóng góp cho ngân sách và thu nhập bình quân một đầu người,
việc đảm bảo an sinh xã hội và bảo vệ môi trường tại làng nghề… (Szydlowski, 2008).
1.1.3 Nông thôn mới
Nông thôn mới là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã,
thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Uỷ ban nhân dân xã, có làng xã văn
minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại, sản xuất bền vững, theo hướng hàng hóa, có đời sống vật
chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được
giữ gìn và phát triển, xã hội được quản lý tốt và dân chủ (Vũ Quốc Tuấn, 2011).
1.2 Mối quan hệ giữa phát triển làng nghề với xây dựng nông thôn mới
1.2.1 Tác động của chương trình xây dựng nông thôn mới đến phát triển làng nghề
Phát triển làng nghề cũng là một mục tiêu quan trọng trong quá trình xây dựng nông
thôn mới (Vũ Quốc Tuấn, 2011). Công cuộc XDNTM đã trở thành chương trình mục tiêu
quốc gia, “Xây dựng nông thôn mới theo hướng văn minh, giàu đẹp, có kinh tế phát triển,
kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tương đối đồng bộ; giữ gìn, phát huy các giá trị văn hoá
truyền thống và các ngành nghề truyền thống có giá trị kinh tế cao.
Bảng 1.1 Tổng hợp mối quan hệ giữa phát triển làng nghề với chương trình xây dựng
nông thôn mới qua các tiêu chí
Xây dựng nông thôn mới Phát triển bền
vững làng nghề
Hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng phục vụ sản xuất.
Phát triển bền vững
về kinh tế
Hỗ trợ người dân phát triển sản xuất hàng hoá, dịch vụ, nâng cao

HĐH ở nông thôn .
1.3 Nội dung phát triển làng nghề gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới
Nội dung cụ thể phát triển Làng nghề gắn với chương trình xây dựng NTM bao gồm:
Về phát triển kinh tế làng nghề: (i) Phát triển sản xuất (Gia tăng số lượng làng nghề, thực
hiện mỗi làng nghề một sản phẩm; Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm); (ii)
Phát triển các tổ chức kinh tế (Tái cấu trúc sản phẩm làng nghề, đổi mới tổ chức sản xuất
kinh doanh, đổi mới tổ chức quản lý…); (iii) Kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Về
phát triển văn hóa - xã hội làng nghề: (i) Tạo việc làm và thu hút lao động; (ii) Hình
thành các mối liên kết trong phát triển SXKD. Về môi trường: (i) Hệ thống xử lý chất
thải; (ii) Công trình cung cấp nước sạch và VSMT.
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển làng nghề trong quá trình XDNTM
Bản thân quá trình phát triển làng nghề bình thường đã chịu tác động của nhiều yếu tố,
những yếu tố này có sự biến đổi trong từng thời kỳ và tác động theo chiều hướng khác
6

nhau. Chúng có thể là những yếu tố thúc đẩy nhưng ngược lại cũng có thể là những yếu tố
kìm hãm sự phát triển của làng nghề. Cụ thể: (i) Chính sách phát triển làng nghề trong quá
trình xây dựng nông thôn mới; (ii) Quy hoạch và thực hiện quy hoạch; (iii) Cơ sở hạ tầng;
(iv) Các yếu tố đầu vào (Nhân lực, công nghệ, vốn cho sản xuất, nguyên liệu, mặt bằng
sản xuất); (v) Thị trường tiêu thụ sản phẩm (Nhu cầu thị trường, về thị trường tiêu thụ sản
phẩm, các sản phẩm thay thế); (vi) Môi trường và bảo vệ môi trường; (vii) Thiết chế xã
hội và truyền thống văn hóa; (viii) Các hình thức liên kết trong phát triển làng nghề.
1.5 Cơ sở thực tiễn về phát triển làng nghề
1.5.1 Kinh nghiệm phát triển LN tại một số nước trong khu vực
Luận án đã nghiên cứu thực tiễn phát triển làng nghề ở một số nước trong khu vực
như Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan bởi vì các nước này có những đặc điểm khá giống
nhau về định hướng, sản phẩm, điều kiện sống và tập quán văn hóa. Thực tiễn từ các nước
này thể hiện các chính sách, thể chế phát triển làng nghề; quy hoạch; tổ chức sản xuất;
công nghệ kỹ thuật áp dụng trong làng nghề; vấn đề thị trường tiêu thụ; vấn đề liên quan
đến xã hội, môi trường trong làng nghề.
Sơ đồ 2.1. Khung phân tích phát triển làng nghề tỉnh Bắc Ninh gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới

6
Các y

+ HTX
+ DN
Thực trạng phát triển làng nghề ở tỉnh Bắc
Ninh gắn với chương trình XDNTM
Các ngành
nghề và sản
phẩm:
+ Gỗ
+ Sắt thép
+ Giấy
+ Mây tre
+ Tranh
Kết quả và
hiệu quả PT
LN:
+ Kết quả
+ Hiệu quả
- Thu nhập
- Xã hội
- MT
Giải pháp
phát triển LN
gắn với
chương trình
XDNTM:
+ Hoàn thi
ện
quy hoạch
+ Hoàn thiện
thể chế

+ Tranh Xây dựng nông thôn mới ở Bắc Ninh
9

2.2.3 Chọn điểm nghiên cứu
- Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
: Bắc Ninh là tỉnh tập trung nhiều ngành nghề, làng
nghề, trong đó có nhiều ngành nghề, làng nghề có lịch sử lâu đời nhưng cũng có nhiều ngành
nghề mới xuất hiện, và có những đặc điểm riêng về ngành nghề và sản phẩm. Trên cơ sở
khảo sát, nghiên cứu chúng tôi chia ngành nghề Bắc Ninh thành 4 nhóm chính sau: mộc dân
dụng; sản xuất thép; sản xuất giấy; sản xuất đồ gốm. Từ đó, chúng tôi chọn 4 nhóm làng nghề
thuộc 3 vùng là 4 điểm nghiên cứu phát triển kinh tế làng nghề ở Bắc Ninh.
- Phương pháp chon mẫu điều tra:
Do số hộ ngành nghề bình quân đạt 200 hộ /làng. Vì
vậy, trong mỗi làng nghề được chọn làm đại diện nghiên cứu điều tra, chọn điều tra 30 hộ.

2.2.4 Phương phâp thu thập thông tin
- Thông tin thứ cấp:
các thông tin, tài liệu, số liệu thứ cấp về: quy hoạch, đầu tư, sản
xuất, tổ chức hoạt động, thị trường tiêu thụ, tình hình dân số, lao động, đất đai… sẽ được
tiến hành thu thập qua các nguồn sách, báo, tạp chí, báo cáo, niên giám thống kê, các tài
liệu liên quan từ các cơ quan, ban ngành của tỉnh… để qua đó nhằm phân tích, khái quát
tổng quan về đặc điểm địa bàn nghiên cứu, các giải pháp và kết quả đã thực hiện trong
phát triển SXNN tỉnh Bắc Ninh thời gian qua.

- Thông tin sơ cấp
: Các thông tin sơ cấp được thu thập song song với quá trình thu
thập thông tin thứ cấp nhưng diễn ra muộn hơn, được thu thập chủ yếu bằng phương pháp

Chủ hộ, chủ doanh nghiệp,
chủ nghiệm HTX.

Phỏng vấn trực tiếp bằng
phiếu điều tra chuẩn bị
sẵn.
10

2.2.5 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin
- Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu sơ cấp
: Công cụ tính toán sử dụng các phần mềm
Excel, SPSS để xử lý số liệu, tính toán các chỉ tiêu.
Số liệu đã công bố:
Được sắp xếp cho
từng nội dung nghiên cứu và phân tích 3 nhóm: (i) những tài liệu về lý luận; (ii) những tài
liệu tổng quan về thực tiễn nói chung; (iii) những tài liệu của các địa phương.
- Phương pháp phân tích số liệu
: Các phương pháp phân tích gồm: (i) thống kê mô tả,
(ii) so sánh, (iii) chuyên gia, (iv) PRA và phân tích SWOT.
2.2.6 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu để nhằm phân tích, đánh giá thực trạng phát triển
làng nghề tỉnh Bắc Ninh bao gồm 3 nhóm chỉ tiêu sau: (i) Nhóm chỉ tiêu phân tích phát
triển làng nghề, (ii) Nhóm chỉ tiêu phân tích về ngành nghề và sản phẩm; (iii) Nhóm chỉ
tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả phát triển làng nghề; (iv) Nhóm chỉ tiêu phân tích yếu
tố ảnh hưởng.
Chương 3
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
BẮC NINH GẮN VỚI CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
3.1. Khái quát lịch sử phát triển các làng nghề và xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Bắc Ninh
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của các làng nghề nghiên cứu

3.3.1.1 Phát triển sản xuất làng nghề
a) Số lượng làng nghề
Trong số 62 làng nghề ở Bắc Ninh, các làng nghề thuộc xã điểm XDNTM thì ở
Thành phố Bắc Ninh có tỷ lệ cao nhất đạt 100%, còn thị xã Từ Sơn có số làng nghề thuộc
xã điểm XDNTM ít nhất và chỉ đạt 22,22%. Tỷ lệ số làng nghề thuộc xã nông thôn mới
giữa các huyện và thành phố có sự cách biệt đáng kể và trung bình chỉ đạt được 40,32%
trên toàn tỉnh.
Bảng 3.1 Số lượng các làng nghề Bắc Ninh và làng nghề thuộc
xã điểm Chương trình xây dựng NTM năm 2013
S
TT
Thành phố,
thị xã,
huyện
Số
xã,
phường
Số
làng
nghề
Số làng nghề
truyền thống
Số làng nghề thuộc
xã điểm NTM
SL
(làng)
TL
(%)
SL
(làng)

5 Lương tài 14 6 3
50,0
0

3
50,00

6 Gia Bình 14 8 2
25,0
0

2
25,00
7 Thuận thành 18 5 5
100

4
80,00
12

8 Quế Võ 21 5 4
80,0
0

2
40,00Cộng 126 62 32
51,6

đến năm 2009, một số làng nghề tạo ra giá trị sản xuất rất lớn và trở thành những làng
nghề lớn và nổi tiếng của Bắc Ninh. Chẳng hạn, giá trị sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ
năm 2009 đạt trên 1050 tỷ đồng, tăng 15,4% so với 2008; giá trị sản xuất của làng nghề
sản xuất thép Châu Khê đạt 1053 tỷ đồng, tăng 16% so với năm 2008 (chi cục PTNT tỉnh
Bắc Ninh, 2010). Như vậy có thể thấy rằng, các làng nghề hiện vẫn là một trong những
động lực phát triển kinh tế to lớn của tỉnh Bắc Ninh.
Bảng 3.2 Giá trị sản xuất của một số làng nghề chính ở Bắc Ninh
giai đoạn 2009 - 2013
13

St
t
Làng nghề Sản phẩm chính
2009
(Tỷ
đồng)
2010
(Tỷ
đồng)
2011
(Tỷ
đồng)
2012
(Tỷ
đồng)
2013
(Tỷ
đồng)
Tốc độ
tăng

184,2 200,6 210,0 228,4

268,2

9,85
4 Hương Mạc Gỗ mỹ nghệ
91,3 100,4 112,6 133,8

143,9

12,03
5 Đại Bái Đúc Đồng
89,5 99,7 111,6 122,5

145,4

12,89
6 Quảng Bố Đúc đồng, nhôm
70,0 81,52 93,0 122,1

134,9

17,81
7
Kim Thiều -
Hương Mạc
Gỗ mỹ nghệ
42,6 51,22 60,2 65,8 85,9 19,20
8
Tổng giá trị sản xuất các làng nghề

xây dựng nông thôn mới phần nào cũng có tác động đến sức sản xuất của làng nghề.
- Hiệu quả sản xuất - kinh doanh của làng nghề: Các hộ sản xuất tại điểm nghiên cứu
đã tính toán tỷ suất lợi nhuận/chi phí và doanh thu /chi phí và thấy được tỷ lệ này tại các hộ
sản xuất khá cao. Cao nhất trong số các nhóm ngành về là nhóm Gốm, và thấp nhất là nghề
mộc. Trong đó nghề sản xuất tủ thờ có tỷ suất lợi nhuận thấp nhất trong các ngành nghề,
nghề này chỉ đạt tỷ suất lợi nhuận là 0,17 thấp nhất trong các ngành nghề.
Bảng 3.3 Hiệu quả sản xuất kinh doanh tại các làng nghề giai đoạn 2009-2011
Một số sản phẩm
2009 2010 2011
Lợi
nhuận/
chi phí
Doanh
thu/ chi
phí
Lợi
nhuận/
chi phí
Doanh
thu/ chi
phí
Lợi
nhuận/
chi phí
Doanh
thu/ chi
phí
1, Ngh
ề sản xuất giấy



1,43

- Giấy viết 0,45

1,45

0,43

1,43

0,42

1,42

2, Nghề mộc
- Bàn ghế phòng khách 0,34

1,34

0,32

1,32



0,67

1,47

- Sành 0,47

1,4

0,45

1,36

0,43

1,33

4
, Ngh
ề sắt thép

-

Thép D6


1
,
42

0
,
33

1
,
370,3 1,33 14

3.2.2 Phát triển văn hóa - xã hội làng nghề gắn với chương trình XDNTM
Bảo tồn làng nghề truyền thống:
Hiện nay, Bắc Ninh có một số làng nghề truyền
thống đang dần mai một, cần được bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống của làng nghề
như làng nghề tranh dân gian Đông Hồ, gốm Luy Lâu, tơ tằm Vọng Nguyệt,… Trong quá
trình XDNTM, tỉnh đã có chủ trương xây dựng bảo tàng làng nghề nhằm gìn giữ và bảo
tồn các giá trị văn hóa làng nghề. Bên cạnh đó UBND tỉnh chỉ đạo các Sở, ngành có
những chính sách cụ thể tập trung hỗ trợ xây dựng nhãn hiệu tập thể cho các làng nghề

xuất khẩu.
- S2: Các làng nghề góp phần đáng kể vào
tăng trưởng kinh tế của tỉnh Bắc Ninh, đóng
góp cao cho ngân sách địa phương, tạo việc
làm ổn định cho hàng ngàn lao động với mức
thu nhập trung bình khá.
- S3: Tận dụng được lao động ở tất cả các
nhóm tuổi, không qua trường lớp đào tạo,
được huy động tại địa phương.
- S4: Ngành nghề có truyền thống lâu đời và
* Điểm yếu của ngành nghề:
- W1: Máy móc thiết bị cũ, chắp vá, tỷ lệ tự chế
rất cao, công nghệ sản xuất lạc hậu.
- W2: Sản xuất mang tính cá thể là phổ biến, chủ
yếu là sản xuất nhỏ, lẻ manh mún, cạnh tranh không
lành mạnh dẫn đến thiệt hại chung về kinh tế.
- W3: Trình độ học vấn, năng lực quản lý của
người chủ sản xuất hạn chế, chủ yếu dựa vào
kinh nghiệm.
- W4: Phần lớn các cơ sở sản xuất không xây
dựng chiến lược kinh doanh. Rất ít cơ sở chú
trọng vấn đề xây dựng thương hiệu cho sản
phẩm.
15

nổi tiếng trong, ngoài nước. - W5: Thiếu mặt bằng sản xuất và vốn đều tư
còn hạn hẹp.
* Cơ hội đối với ngành, nghề:
- O1: Hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra nhiều cơ
hội mới cho những sản phẩm của các làng nghề,

làng nghề chưa rõ ràng, thiếu thống nhất, chồng chéo, giữa vai trò các sở Công thương,
Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng như sở Tài nguyên và Môi trường.
3.3.2 Công tác quy hoạch và thực hiện quy hoạch
Hiện nay, một số làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đã làm dự án làng nghề, quy
hoạch làng nghề. Song, cần phải khẳng định rằng, đây là kiểu quy hoạch dự án, phát triển
làng nghề như quy hoạch đô thị.
Tại các xã xây dựng nông thôn mới, quy hoạch làng nghề được gắn với quy hoạch nông
thôn mới, trong đó tách khu vực sản xuất có khả năng gây ô nhiễm ra riêng, khu dịch vụ có
thể tồn tại trong không gian dân cư hoặc độc lập tùy quỹ đất của từng xã, không gắn với khu
đô thị trong các làng nghề. Tuy nhiên, việc không nhất quán và thường điều chỉnh quy hoạch
đã phá vỡ kế hoạch kinh doanh của nhiều doanh nghiệp đang đầu tư vào các làng nghề.
3.3.3 Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng tốt là một trong các yếu tố thúc đẩy sự phát triển của các làng nghề. Kết
quả báo cáo tổng kết giai đoạn I qúa trình xây dựng NTM ở Bắc Ninh cho thấy: Chỉ có 7
xã (bằng 7%) đạt tiêu chí giao thông nông thôn (tiêu chí 2); 83 xã (bằng 83%) đáp ứng
yêu cầu về hệ thống thuỷ lợi, thoát nước phục vụ sản xuất và dân sinh (tiêu chí thứ 3); 89
xã (bằng 89%) đạt tiêu chí điện nông thôn. (tiêu chí 4); 19 xã (bằng 19%) đạt tiêu chí về
cơ sở vật chất văn hoá (tiêu chí thứ 6); 44 xã chưa có chợ (tiêu chí số 7); 79 xã (bằng
79%) đạt tiêu chí bưu điện (tiêu chí thứ 8). Qua nghiên cứu cho thấy 2 vấn đề nổi cộm về
cơ sở hạ tầng, cản trở sự phát triển làng nghề hiện nay ở Bắc Ninh chính là hệ thống giao
thông nông thôn và hệ thống lưới điện. Khắc phục được 2 trở ngại này cũng là góp phần
16

để làng nghề trên địa bàn phát triển.
3.3.4 Các yếu tố đầu vào
3.3.4.1 Nhân lực
Bắc Ninh có đến 89/100 xã chưa đạt tiêu chí về cơ cấu lao động. Tỷ lệ lao động đã
qua đào tạo ở mức rất thấp, chỉ chiếm khoảng 6,45%. Trong số 6,45% lao động đã qua đào
tạo đó thì lao động lành nghề và lao động có trình độ trung cấp lại chiếm tỷ lệ đến 84% lao
động đã qua đào tạo. Số lao động có trình độ đại học, cao đẳng và trên đại học chiếm 1 tỷ lệ


21,05

39,13

50,00

CN Kết hợp 16,67

21,05

17,39

0,00

2. Nguồn gốc của công nghệ
Trong nước 100,00

75,00

63,33

53,33

Ngoài nước 0,00

25,00

23,33


trong giai đoạn 2010 - 2015, bình quân 1 xã ngân sách Tỉnh đầu tư là: 20,7 tỷ đồng,
các tổ chức và cộng đồng dân cư đóng góp 232,2 tỷ đồng. Giai đoạn: 2016 - 2020,
bình quân 1 xã ngân sách Tỉnh đầu tư là 26,8 tỷ đồng, các tổ chức và cộng đồng dân
cư đóng góp 181 tỷ đồng. Trong khi đó, đại bộ phận làng nghề đều thiếu vốn sản xuất.
Nguồn vốn đóng góp từ cộng đồng dân cư chính là nguồn vốn của người dân trong
làng nghề hoặc từ đấu giá quyền sử dụng đất. Như vậy rất khó thực thi.
3.3.4.4 Nguyên vật liệu
Kết quả điều tra thực địa tại vùng nghiên cứu cho thấy hầu hết nguồn nguyên liệu
phục vụ cho sản xuất tại các làng nghề đều phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu bên
ngoài, nguồn cung không ổn định.
Bảng 3.5 Tình hình cung ứng nguyên vật liệu cho sản xuất của các ngành nghề

Nhóm nghề
Nguồn cung ứng nguyên vật liệu (%)
2009 2010
NVL
tại địa
phương
NVL
trong
nước
NVL
nước
ngoài
NVL
tại địa
phương
NVL
trong
nước

3.3.5.2 Các sản phẩm thay thế
18

Sản phẩm thay thế có thể hiểu là các sản phẩm cùng tác dụng nhưng từ nguyên liệu
khác hoặc cách sản xuất khác. Hiện nay, với công nghệ hiện đại, người ta có thể làm rất
nhiều sản phẩm từ các nguyên vật liệu nhân tạo như nhựa, thủy tinh, Nhiều sản phảm
cũng được làm bằng máy móc, sản xuất hàng loạt, phổ biến và giá rất rẻ. Vì thế, để tìm
được hướng cạnh tranh và tồn tại trên thị trường là một bài toán đặt ra cho bất kì một sản
phẩm thủ công mĩ nghệ nào. Điều đó dựa trên rất nhiều những yếu tố như chất lượng cao,
có những yếu tố đặc sắc riêng có, mang đậm nét văn hoá địa phương,
3.3.6 Môi trường và bảo vệ môi trường
* Môi trường làng nghề
Đánh giá kết quả giai đoạn I xây dựng NTM tại Bắc Ninh cho thấy: Chỉ có 8 xã
(bằng 8%) đạt tiêu chí môi trường. 49 xã (bằng 49%) có các cơ sở SX - KD liên quan đến
làng nghề đạt tiêu chuẩn về môi trường. 25 xã (bằng 25%) có hệ thống nước thải và chất
thải được thu gom và xử lý theo quy định. 31 xã (bằng 31%) có tỷ lệ số hộ sử dụng nước
hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn Quốc gia (>90%) và 66 xã (bằng 66%) không có các hoạt
động suy giảm môi trường và có các hoạt động phát triển môi trường: xanh, sạch, đẹp.
Như vậy, tình trạng ô nhiễm môi trường vẫn không có chiều hướng giảm mà ngược lại
ngày càng tăng cả nguồn nước, không khí, tiếng ồn do hầu hết sản xuất tại nhà xen lẫn
với sinh hoạt hàng ngày và ý thức BVMT của người dân chưa tốt đã ảnh hưởng đến đời
sống nhân dân tại các làng nghề từ lâu. Trong 28 cụm công nghiệp và công nghiệp làng
nghề, không có cụm công nghiệp nào có hệ thống xử lý nước thải.
* Bảo vệ môi trường
Một số biện pháp bảo vệ môi trường làng nghề đã được triển khai, tuy nhiên chức
năng, nhiệm vụ bảo vệ môi trường còn chồng chéo và không rõ ràng giữa các bộ, ngành,
địa phương.
3.3.7 Thiết chế xã hội và truyền thống văn hóa

Hầu hết các làng nghề ở Bắc Ninh có lịch sử phát triển lâu đời, thậm chí đã tìm thấy

Nghiên cứu cho thấy xây dựng phát triển làng nghề tại các điểm nghiên cứu đang có
nhiều bước được cải thiện tuy nhiên khi xây dựng và đầu tư vào phát triển làng nghề thì
cần dựa trên những yêu cầu tại địa phương. Quy hoạch phát triển làng nghề tại các địa
phương và đặc biệt tại các địa phương có triển khai chương trình nông thôn mới có những
bước tiến bộ trong phương pháp tiến hành quy hoạch.

Bảng 3.6 Đánh giá công tác quy hoạch cho phát triển làng nghề của người dân
Diễn giải
Tỷ lệ người dân đánh giá (%)
Bất cập Bình thường
- Quy hoạch xây dựng 31,25

68,75

-

Quy ho
ạch tổng thể

62,50

37,50

- Quy hoạch các cụm CN, TTCN 11,67

88,33

- Quy hoạch các khu dãn dân/ khu đô thị 64,17

35,83

mại ở địa phương có làng nghề hoặc ở các điểm du lịch làng nghề để quảng bá và tiêu thụ
sản phẩm, cung ứng nguyên vật liệu cho làng nghề.
e) Đầu tư và tài chính tín dụng
(i) Đầu tư một phần kinh phí từ ngân sách tỉnh và các huyện, thị xã cho xây dựng cơ
sở hạ tầng và xử lý môi trường các xã, các làng nghề, các làng nghề truyền thống kết hợp
với du lịch; (ii) Khuyến khích mọi thành phần tham gia đầu tư trong lĩnh vực bảo tồn và
phát triển nghề, làng nghề, đặc biệt là những dự án xây dựng các cụm công nghiệp làng
nghề; (iii) Xây dựng cơ chế huy động mọi nguồn vốn (các tổ chức xã hội, hội nghề nghiệp
và các doanh nghiệp ); (iv) Hoàn thiện cơ chế để các doanh nghiệp làng nghề, hộ sản
xuất tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng;.
f) Các yếu tố văn hóa xã hội
Sự phát triển các nghề và làng nghề đã góp phần tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo,
hạn chế tệ nạn xã hội, góp phần giữ gìn an ninh trật tự ở nông thôn và nâng cao đời sống
vật chất tinh thần của người lao động.
Phát triển nghề và làng nghề còn góp phần bảo tồn, tôn tạo và xây dựng các giá trị văn
hoá truyền thống, các công trình văn hoá như bảo tồn, tôn tạo khu phố cổ, làng cổ, làng văn
hoá… và lưu giữ những dấu ấn lịch sử truyền thống của nghề, tôn vinh tổ nghề…
g) Môi trường
Phát triển, mở rộng sản xuất các làng nghề đảm bảo cân bằng sinh thái và bảo vệ môi
trường, bảo đảm chất lượng sống khu vực dân cư có làng nghề. Nâng cao ý thức của
người dân về bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển sản xuất.
21

3.3.9.2 Nhưng bất cập nảy sinh trong quá trình phát triển làng nghề gắn với chương trình
xây dựng nông thôn mới
Tổ chức bộ máy và cơ chế chính sách về phát triển nghề, làng nghề từ Trung ương
đến địa phương còn nhiều bất cập, đang hoàn chỉnh và chưa thống nhất, đội ngũ cán bộ ở
cơ sở đa số chưa có chuyên môn, không chuyên trách và thường xuyên thay đổi, chưa có
mạng lưới khuyến công ở cơ sở.
Nhận thức của một bộ phận cán bộ và nhân dân về vai trò làng nghề chưa toàn diện; Các

triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Ninh.
- Phát triển làng nghề trên cơ sở nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội, phát triển bền vững.
- Quản lý nhà nuớc phải phù hợp với điều kiện phát triển của làng nghề trong từng
thời kỳ.
- Phát triển làng nghề phải gắn với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
- Phát triển làng nghề phải gắn chặt với quá trình XDNTM.
4.1.2 Dự báo nhu cầu tiêu thụ và khả năng cạnh tranh một số sản phẩm chủ yếu
Nội dung nghiên cứu dự báo nhu cầu và khả năng cạnh tranh sản phẩm của làng nghề
theo các nhóm: Nhóm tái chế kim loại, sản xuất cơ khí; Nhóm dệt, nhuộm, may mặc, tái
chế giấy; Nhóm chế biến lương thực, thực phẩm; Nhóm sản xuất đồ gỗ, đồ mỹ nghệ.
4.1.3 Định hướng về phát triển làng nghề gắn với XDNTM trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
- Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống.
- Phát triển làng nghề gắn với du lịch.
- Phát triển làng nghề mới, phấn đấu thực hiện mỗi làng một nghề.
4.2. Một số giải pháp nhằm phát triển làng nghề gắn với xây dựng NTM ở tỉnh
Bắc Ninh

Hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nuớc đối với làng nghề cùng các chính sách về hỗ
trợ sản phẩm phù hợp với nhóm tiêu chí về kinh tế và tổ chức sản xuất trong xây dựng
nôn thôn mới.

Hoàn thiện quy hoạch làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh phù hợp với nhóm tiêu
chí quy hoạch và thực hiện quy hoạch trong xây dựng nông thôn mới.

Hoàn thiện kết cấu hạ tầng làng nghề phù hợp với nhóm tiêu chí về phát triển cơ
sở hạ tầng kinh tế xã hội trong xây dựng nông thôn mới.

Chuẩn hóa các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất.

Hỗ trợ đào tạo nhân lực cho việc phát triển làng nghề nhằm thay đổi cơ cấu lao động

hướng CNH-HĐT hóa nông thôn và xây dựng nông thôn mới.
2) Với vị trí địa lý thuận lợi, nguồn lao động dồi dào, truyền thống văn hóa lâu đời,
các làng nghề ở Bắc Ninh từng tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, nó đã thực sự
góp phần tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc.
Trong những năm qua, làng nghề Bắc Ninh phát triển mạnh, nhất là từ khi có Chính
phủ đã ban hành Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới với Bộ tiêu
chí quốc gia về nông thôn mới (Chính phủ, 2009): Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng
bước được hiện đại, giá trị sản xuất, lao động và vốn đầu tư trong làng nghề tăng nhanh,
làng nghề được quy hoạch đồng bộ, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp,
dịch vụ,…Trong qua trình CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn và xây dựng NTM, làng
nghề Bắc Ninh góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trong tỉnh, thu hút
vốn, phát triển kết cấu hạ tầng,…Song phát triển làng nghề cũng đang gặp không ít những
khó khăn và chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố cả nội sinh và ngoại sinh như; thị trường đầu
ra không ổn định, quy mô sản xuất nhỏ, công nghệ sản xuất lạc hậu, kết cấu hạ tầng hạn
chế, môi trường làng nghề bị ô nhiễm, trình độ quản lý Nhà nước và trình độ quản lý của
các chủ doanh nghiệp đối với làng nghề chưa đáp ứng được yêu cầu, khả năng cạnh tranh
của sản phẩm còn thấp,…
3) Trên cơ sở phân tích lồng ghép phát triển làng nghề với chương trình xây dựng nông
thôn mới, luận giải có căn cứ khoa học, có hệ thống những quan điểm, dự báo nhu cầu tiêu
thụ và khả năng cạnh tranh, chúng tôi đề xuất giải pháp trên giác độ quản lý nhà nước
nhằm phát triển làng nghề Bắc Ninh gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới trong
những năm tới như: hoàn thiện quy hoạch làng nghề, hệ thống chính sách, pháp luật của
Nhà nước; hoàn thiện bộ máy quản lý đối với làng nghề; hoàn thiện kết cấu hạ tầng, nhất
là khuyến khích phát triển ra các khu công nghiệp, cụm công nghiệp làng nghề đã được
quy hoạch; hỗ trợ các làng nghề ổn định và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm; hõ trợ
các làng nghề ổn định thị trường đầu vào (nguyên liệu, vốn, nhân lực) đáp ứng yêu cầu
phát triển sản xuất của làng nghề; hỗ trợ, khuyến khích các làng nghề ứng dụng các tiến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status