Đại học huế
Trung tâm đào tạo từ xa
pgs.ts. Nguyễn Thục Nhu pgs.ts. Đặng duy Lợi ts. Lê Thị Hợp
Giáo trình
Cơ sở địa lí tự nhiên
(Sách dùng cho hệ đào tạo từ xa)
III – MÔI TRƯỜNG ĐỊA LÍ VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN 51
1. Môi trường địa lí 51
2. Tài nguyên tự nhiên 52
Chương III : ĐỊA LÍ ĐỊA PHƯƠNG 58
I - ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN VIỆT NAM 58
1. Vị trí, giới hạn, phạm vi lãnh thổ 58
2. Các đặc điểm chung của tự nhiên Việt Nam 59
3. Tài nguyên thiên nhiên Việt Nam 63
4. Các vùng địa lí tự nhiên 67
II - ĐỊA LÍ ĐỊA PHƯƠNG 69
1. Vị trí, diện tích, giới hạn 69
2. Đặc điểm các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 70
3. Dân cư 70
4. Đặc điểm các điều kiện kinh tế - xã hội 70
5. Kết luận 70 2
Chng I
KHOA HC A L V TRI T
I KHOA HC A L
1. Khỏi nim v khoa hc a lớ
Thuật ngữ Địa lí bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp Geographo, có nghĩa là sự mô tả đất, lẽ dĩ
nhiên đất ở đây đợc hiểu theo nghĩa rộng là cả vùng đất.
Từ thời cổ đại, Địa lí học đã đợc hình thành và phát triển nh một môn khoa học mô tả,
đợc quan niệm nh một loại từ điển bách khoa về tự nhiên, dân c, kinh tế, xã hội và các tài
nguyên của một vùng, một nớc hay cả một khu vực rộng lớn.
Từ thế kỉ XVII, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành khoa học, Địa lí học đợc
phát triển theo 2 hớng:
Các ngành địa lí tự nhiên có đối tợng nghiên cứu chung là những quy luật tự nhiên khách
quan của lớp vỏ địa lí. Lớp vỏ địa lí của Trái Đất là một thể tổng hợp vô cùng phức tạp, bao
gồm nhiều thành phần và nhiều bộ phận cấu tạo nên, là nơi diễn ra các hiện tợng và các quá
trình địa lí. Các môn khoa học địa lí tự nhiên lần lợt ra đời có nhiệm vụ nghiên cứu toàn bộ
lớp vỏ địa lí, từng bộ phận cũng nh các thành phần cấu tạo nên nó. Có thể kể ra một số trong
hàng loạt các môn khoa học địa lí nh môn Cơ sở Địa lí tự nhiên (hay Địa lí tự nhiên đại
cơng) nghiên cứu các quy luật chung của các hiện tợng, các quá trình địa lí diễn ra trên toàn
Trái Đất ; môn Địa lí tự nhiên khu vực (hay Cảnh quan học) nghiên cứu đặc điểm và các quy
luật địa lí diễn ra tại các bộ phận khác nhau trên Trái Đất nh các châu lục, các nớc, các địa
phơng ; các môn khoa học địa lí tự nhiên bộ phận nghiên cứu từng thành phần riêng biệt của
lớp vỏ địa lí nh Địa mạo học, Khí hậu học, Thuỷ văn học, Thổ nhỡng học, Địa lí sinh vật,
b) Các ngành khoa học địa lí kinh tế
xã hội
Các ngành địa lí kinh tế xã hội bao gồm các môn khoa học nghiên cứu các quy luật
phân bố của sản xuất xã hội và quần c của con ngời , hay nói một cách khác là nghiên cứu
tổ chức lãnh thổ kinh tế xã hội, với các đặc điểm của nó ở các vùng, các nớc và các khu vực
khác nhau trên thể giới.
Các môn Cơ sở Địa lí kinh tế xã hội, Địa kí kinh tế xã hội các nớc, Địa lí kinh tế các
ngành (Địa lí dân c, Địa lí nông nghiệp, Địa lí công nghiệp, Địa lí giao thông vận tải, )
nghiên cứu sự phân bố địa lí của các hoạt động kinh tế xã hội, các điều kiện và đặc điểm
phát triển của chúng trên phạm vi toàn thế giới cũng nh ở các nớc, các vùng lãnh thổ khác
nhau.
Bên cạnh hai nhóm ngành chính kể trên, nhóm ngành địa lí chuyên khảo có các môn nh
Đất nớc học, Địa lí địa phơng, Địa lí chuyên khảo (Địa lí chính trị, Địa lí quân sự, Địa lí y
học, Địa lí du lịch, ) có nhệm vụ nghiên cứu tổng hợp các kiến thức trong và ngoài phạm vi
của địa lí học và thống nhất chúng phục vụ cho một yêu cầu nhất định ; nhóm ngành bản đồ
học với t cách là các môn khoa học về bản đồ, đồng thời còn trang bị cho các nhà địa lí một
phơng pháp khoa học, một công cụ sắc bén trong nghiên cứu, thông tin, giảng dạy địa lí.
Hệ thống các khoa học địa lí có thể minh hoạ bằng sơ đồ sau :
nghiên cứu địa lí thờng đợc sử dụng đồng thời nhiều phơng pháp nghiên cứu khác nhau và
có sự kết hợp chặt chẽ giữa các phơng pháp nghiên cứu truyền thống với các phơng pháp
nghiên cứu hiện đại. Các phơng pháp nghiên cứu thờng hay sử dụng trong nghiên cứu địa lí
là :
a) Phơng pháp thu nhập, phân tích và tổng hợp tài liệu để xử lí một khối lợng lớn các số
liệu, t liệu có liên quan tới nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu.
b) Phơng pháp mô tả, so sánh để làm nổi bật các đặc điểm của đối tợng nghiên cứu.
c) Phơng pháp điều tra, khảo sát thực địa nhằn thu thập, bổ sung tài liệu, kiểm chứng các
kết quả nghiên cứu.
d) Phơng pháp bản đồ giúp ích thiết thực cho nghiên cứu vì nó có tính khái quát và trực
quan rất cao. Bản đồ là ngôn ngữ, là công cụ đặc biệt đợc sử dụng phổ biến trong nghiên cứu
địa lí. Có thể nói, mọi nghiên cứu địa lí đều đợc mở đầu và kết thúc bởi bản đồ.
e) Phơng pháp toán học góp phần định lợng, khái quát hoá các kết quả nghiên cứu, cùng
với việc sử dụng rộng rãi máy vi tính trong việc thành lập và xử lí hệ thống thông tin địa lí,
phơng pháp toán học đã góp phần nâng cao chất lợng và hiệu quả trong nghiên cứu địa lí.
f) Phơng pháp viễn thám sử dụng các ảnh máy bay, ảnh vệ tinh, tàu vũ trụ và các thông
tin thám sát từ xa đã mang lại những hiệu quả to lớn trong việc cung cấp và xử lí các thông tin
địa lí trong một phạm vi rộng lớn, rất chính xác, kịp thời và đặc biệt là tiết kiệm rất nhiều công
sức và thời gian.
5
II - TRI T
1. Trỏi t trong v tr
Vũ trụ là một khoảng không gian bao la và vô cùng tận mà cho đến nay con ngời vẫn
cha nhận thức hết đợc. Trong khoảng không gian bao la có sự tồn tại của các thiên thể luôn
luôn vận động. Các thiên thể đó đã đợc phân chia thành các loại : sao, hành tinh, vệ tinh, tiểu
hành tinh, sao chổi, thiên thạch và tinh vân. Tuy vậy, các thiên thể ấy không phải là hoàn toàn
cô lập với nhau mà có mối quan hệ, kết hợp với nhau tạo nên những hệ thống phức tạp với
những quy luật riêng.
Trong vũ trụ bao la, Trái Đất chỉ là một vật thể vô cùng nhỏ bé. Trái Đất là một hành tinh
Ngay từ thời cổ đại, từ Trái Đất con ngời đã quan sát bằng mắt thờng và đã phát hiện ra
5 hành tinh là sao Thuỷ, sao Kim, sao Hoả, sao Mộc và sao Thổ. Đến thế kỉ XVIII, sau khi
xuất hiện định luật Niutơn và chế tạo đợc các kính thiên văn cực mạnh, năm 1781 ngời ta đã
phát hiện ra sao Thiên Vơng. Sau đó, năm 1846 đã phát hiện ra sao Hải Vơng và đến năm
1930 mới phát hiện ra sao Diêm Vơng.
Khác với các sao là các thiên thể khí hình cầu có nhiệt độ khá cao và có khả năng tự phát
sáng, hành tinh là các thiên thể rắn, hình cầu quay xung quanh Mặt Trời và sáng lên đợc do
bề mặt của chúng phản chiếu ánh sáng của các ngôi sao chiếu tới. ở một số hành tinh còn có
các vệ tinh, đó cũng là các hành tinh nhng có kích thớc nhỏ hơn, quay xung quanh một
hành tinh nào đó.
Hệ Mặt Trời đợc duy trì là do sự cân bằng giữa các lực li tâm của mỗi hành tinh với sức
hút của Mặt Trời với các hành tinh đó.
Hệ Mặt Trời có các đặc điểm chính, quan trọng sau đây:
Tất cả các hành tinh quay quanh Mặt Trời theo một quỹ đạo gần tròn (với tâm sai nhỏ)
và theo cùng một hớng ngợc chiều kim đồng hồ (nhìn từ trên xuống).
Hầu hết các hành tinh và vệ tinh (trừ sao Kim và sao Thiên Vơng) đều tự quay quanh
trục của mình theo hớng ngợc chiều kim đồng hồ.
Các hành tinh trong hệ Mặt Trời có thể chia ra làm 2 nhóm: nhóm bên trong, bao gồm
sao Thuỷ, sao Kim, Trái Đất và sao Hoả, có kích thớc nhỏ, tỉ trọng trung bình lớn, tự vận
động xung quanh trục tơng đối chậm, có ít hoặc không có vệ tinh. Nhóm bên ngoài, gồm sao
Mộc, sao Thổ, sao Diêm Vơng và sao Hải Vơng, có kích thớc lớn, tỉ trọng trung bình nhỏ,
vận động tự quay quanh trục tơng đối nhanh và có nhiều vệ tinh. Sao Diêm Vơng ở ngoài
7
cùng có kích thớc nhỏ và có tỉ trọng trung bình khá lớn, đợc xem nh một trờng hợp ngoại
lệ.
Các số liệu [r bảng sau cho thấy chi tiết hơn một số đặc điểm của các hành tinh trong hệ
Mặt Trời.
Ghi chú :
(km)
Tỉ
trọng
trung
bình
(g/cm
3
)
Thời
gian tự
quay
quanh
trục
Thời
gian
quay
quanh
MT
Độ
tâm
sai
Độ
nghiêng
của quỹ
đạo trên
mặt phẳng
hoàng đạo
(độ)
Tốc độ
trung
6371
3370
71600
60400
23800
2500
(6200)
5,30
5,20
5,52
3,54
1,33
0,69
1,56
1,60
(4)
58 ngày
243ngày
24 giờ
24,5 giờ
9 giờ
11 giờ
17 giờ
15 giờ
1,8
17,1
47,8
35,05
29,8
24,1
13,1
9,7
6,8
5,8
4,7
0
0
1
2
16
19
15
6
1 8
Ngoài các hành tinh, vệ tinh, trong hệ Mặt Trời còn có các tiểu hành tinh, sao chổi và
gấp 109 lần đờng kính Trái Đất.
Trên Mặt Trời thờng xuyên xảy ra các phản ứng hạt nhân giải phóng một lợng vật chất
và năng lợng vô cùng to lớn, toả ra không gian vũ trụ dới ánh sáng, nhiệt và điện từ. Nhiệt
độ bên trong của Mặt Trời lên tới 20 triệu C, còn ở lớp bề mặt ngoài thấp hơn, chỉ vào
khoảng 5700 5800C.
Mặt Trời luôn luôn vân động. Mặt Trời vận động quay quanh trục của nó một vòng hết
27,35 ngày và vận động trong hệ Ngân Hà kéo theo toàn bộ hệ Mặt Trời về phía sao Chức Nữ,
thuộc nhóm sao Thiên Cầm với vận tốc gần 20km/s.
Mặt Trời cũng có các chu kì hoạt động mạnh yếu khác nhau, rõ rệt nhất là chu kì 11,3
năm. Khi Mặt Trời hoạt động mạnh, thờng xuất hiện nhiều tai lửa, bớu sáng và vết đen trên
Mặt Trời, gây ra các hiện tợng cực quang, bão từ và bão điện li trên Trái Đất. Nói chung, mọi
biến động của Mặt Trời đều có ảnh hởng trực tiếp đến mọi hoạt động diễn ra trên Trái Đất.
9
2. Hỡnh dng v kớch thc ca trỏi t
a) Hình dạng của Trái Đất
Đã từ lâu, con nguời quan niệm Trái Đất có hình cầu. Ngay từ thế kỉ IX trớc Công
nguyên, những ngời theo phái Pitago đã đề ra thuyết Trái Đất có dạng cầu. Thế kỉ IV trớc
Công nguyên, Aristốt khi quan sát hiện tợng nguyệt thực đã xác nhận căn cứ khoa học về
hình cầu của Trái Đất. Đến thế kỉ III trớc Công nguyên, lần đầu tiên số liệu đo tính chu vi
của đờng kính Trái Đất đợc công bố (khoảng 40 000km). Đến thế kỉ XVII đã quan niệm
Trái Đất không phải là một khối cầu hoàn hảo mà là một khối cầu dẹt ở hai cực đợc gọi là
elipxôit.
AO Bán trục lớn
ON Bán trục nhỏ
ABCD Mặt phẳng của
làm cho Trái Đất tiến dần đến dạng hình cầu. Sự phân bố lại vật chất trong nội bộ Trái Đất
10
hiện nay vẫn còn đang tiếp tục. Hình dạng của Trái Đất sẽ còn thay đổi trong lịch sử phát triển
của nó.
Trên thực tế, bề mặt của khối gêôit tuy không trùng với bề mặt của khối elipxôit nhng
cũng không sai biệt với nhau là bao nhiêu.
ở khoảng 35 vĩ độ Bắc, bề mặt của khối gêôit thấp hơn bề mặt của khối elipxôit, ngợc
lại ở khoảng 35 vĩ độ Nam, nó lại cao hơn khoảng 20m. ở Xích đạo, hai bề mặt này trùng
nhau. Toàn bộ lục địa Nam cực nằm thấp hơn bề mặt elipxôit khoảng 30m. Vì thể có ngời
cho rằng hình dạng gêôit của Trái Đất hiện nay hơi giống hình quả lê hay hình trái tim.
Hình 5. Khối gêôit
Tuy độ sai biệt giữa khối gêôit và khối elipxôit của Trái Đất so với kích thớc của nó là
không đáng kể nhng dù sao nó cũng sinh ra bên trong Trái Đất một sức căng, có lẽ đã ảnh
hởng đến sự phân bố các lục địa và đại dơng trên bề mặt Trái Đất.
Thực tế cho thấy ở những nơi bề mặt khối gêôit nằm cao hơn bề mặt khối elipxôit, vỏ Trái
Đất có khuynh hớng hạ thấp và phát triển kiểu đại dơng. ở những nơi bề mặt khối gêôit
nằm thấp hơn và các dòng đi lên của vật chất ở dới sâu có vai trò chủ yếu thì vỏ Trái Đất lại
có khuynh hớng phát triển kiểu lục địa. Thí dụ rõ ràng nhất là ở cực Bắc, bề mặt của khối
gêôit cao hơn bề mặt của khối elipxôit nên đã xuất hiện đại dơng (Bắc Băng Dơng), còn ở
cực Nam, bề mặt khối gêôit thấp hơn bề mặt của khối elipxôit nên đã hình thành nên lục địa
(châu Nam Cực). ở nhiều nơi khác của vỏ của Trái Đất cũng xảy ra các hiện tợng tơng tự.
b) Kích thớc của Trái Đất
Các số liệu đo chính xác nhất về kích thớc của Trái Đất đã đợc nhà trắc địa học Xô viết
F.N.Krôpxki công bố năm 1942 là:
Bán kính xích đạo (hay bán trụ lớn a): 6378,16km
Bán kính cực (hay bán trục nhỏ b): 6356,777km
Các tia sáng song song của Mặt Trời khi chiếu xuống bề mặt có dạng gêôit thì tại các vĩ
độ khác nhau sẽ tạo ra các góc nhập xạ khác nhau. Các tia sáng chiếu thẳng góc vào Xích đạo
tạo nên góc nhập xạ 90
0
. Từ Xích đạo về hai cực góc nhập xạ nhỏ dần. Vì thế, năng lợng Mặt Trời mà mặt đất tiếp thu đợc cũng giảm dần từ Xích đạo về hai
cực tạo nên sự phân bố tơng tự của chế độ nhiệt. Đó chính là nguyên nhân chính dẫn đến sự
hình thành các vòng đai khí hậu và tính địa đới của các yếu tố địa lí.
Dạng gêôit của Trái Đất đối xứng qua mặt phẳng xích đạo dẫn đến sự hình thành hai
nửa cầu Bắc và Nam. Các hiện tợng xảy ra trong lớp vỏ địa lí ở hai nửa cầu thờng trái ngợc
nhau : càng đi về phía bắc ở nửa cầu Bắc càng lạnh, trong khi đó ở nửa cầu Nam, càng đi về
phía Bắc càng nóng hơn.
Do có hình dạng gêôit nên Trái Đất chứa đợc một lợng vật chất tối đa, cũng nhờ có
khối lợng và kích thớc khá lớn nên Trái Đất đã hình thành và duy trì quanh nó một lớp khí
quyển. Điều này vô cùng quan trọng vì nó đã quyết định khả năng xuất hiện và tồn tại sự sống
trên Trái Đất cũng nh tạo điều kiện để diễn ra các quá trình trong vòng tuần hoàn vật chất và
năng lợng trên Trái Đất.
12
3. S vn ng ca trỏi t
a) Vận động tự quay xung quanh trục của Trái Đất
Vận động tự quay quanh trục là quy luật chung của các hành tinh. Vận động tự quay xung
quanh trục đã tham gia vào việc hình thành và sự tồn tại của Trái Đất.
Trớc hết, Trái Đất tự quay xung quanh trục theo hớng từ tây sang đông, tức là hớng
ngợc chiều kim đồng hồ (nhìn từ trên xuống).
Hiện tại, trục Trái Đất nghiêng với mặt phẳng hoàng đạo (quỹ đạo của Trái Đất quay xung
quanh Mặt Trời) một góc 6633 tức là độ nghiêng của mặt phẳng xích đạo Trái Đất với mặt
phẳng hoàng đạo là 2327.
ngôi sao nhất định 2 lần đi qua kinh tuyến của điểm quan sát. Một ngày đêm theo sao dài 23
giờ 56 phút 4 giây.
b) Các hệ quả định lí của sự vận động tự quay xung quanh trục của Trái Đất
Sự điều hoà nhiệt trong một ngày đêm
13
Sự quay quanh trục của Trái Đất đã sinh ra một đơn vị đo thời gian tự nhiên : một ngày
đêm, gồm có phần thời gian đợc chiếu sáng là ban ngày và phần thời gian trong bóng tối là
ban đêm. Mỗi một phần ngày và đêm lại đợc chia ra làm 12 đơn vị nhỏ hơn đợc gọi là giờ
(theo hệ đếm của ngời Ai Cập thời cổ), 1 giờ lại chia thành 60 phút, 1 phút lại chia thành 60
giây.
Nhờ vận động tự quay xung quanh trục mà ở mọi địa điểm trên bề mặt Trái Đất trong 24
giờ đều luân phiên có ngày và đêm. Nhịp điệu ngày và đêm kế tiếp nhau đã làm cho sự phân
phối bức xạ Mặt Trời trên bề mặt Trái Đất đợc điều hoà.
Nếu Trái Đất không tự quay quanh trục mà chỉ quay quanh Mặt Trời thì trên Trái Đất
cũng có ngày và đêm, nhng ngày và đêm rất dài. Mỗi năm chỉ vẻn vẹn có một ngày đêm. Mặt
đất ban ngày sẽ rất nóng, ban đêm sẽ rất lạnh. Điều kiện khí hậu đó khó có thể tồn tại đợc sự
sống của sinh vật. Do sự tự quay quanh trục của Trái Đất với tốc độ tơng đối lớn, nên ngày
đêm trên Trái Đất đều ngắn, nhiệt độ trên mặt đất đợc điều hoà, sự sống phát triển tơng đối
thuận lợi.
Sự chênh lệch về nhiệt độ giữa ngày và đêm trên Trái Đất tuy không lớn nhng là một
hiện tợng quan trọng của khí hậu.
Hệ toạ độ địa lí
Vận động tự quay của Trái Đất đã tạo cơ sở cho việc xây dựng hệ toạ độ địa lí để xác định
vị trí của các địa điểm trên bề mặt Trái Đất. Trong khi tự quay, tất cả các địa điểm trên bề mặt
Trái Đất đều di chuyển vị trí, duy chỉ có hai điểm chỉ quay tại chỗ, đó là hai địa cực : cực Bắc
và cực Nam. Cực Bắc là cực mà từ đó ngời ta nhìn thấy Trái Đất quay theo chiều ngợc kim
đồng hồ, trùng với hớng quay chung của hệ Ngân Hà. Đờng thẳng nối hai cực đi qua tâm
Trái Đất gọi là trục Trái Đất.
Vòng tròn lớn nhất của Trái Đất nằm trong mặt phẳng vuông góc với trục quay và phân
độ, nhờ đó mà ngời ta có thể xác định đợc vị trí của tất cả các địa điểm và vẽ đợc bản đồ
của bề mặt Trái Đất.
Giờ trên Trái Đất và đờng chuyển ngày quốc tế
Do Mặt Trời chỉ chiếu sáng đợc một nửa bề mặt Trái Đất, Trái Đất lại tự quay quanh
trục, nên ở một địa điểm quan sát, trong một ngày đêm Mặt Trời chỉ có một lần lên cao nhất
trên bầu trời, lúc đó là 12 giờ tra. Cùng lúc đó, phía đông của địa điểm quan sát đã thấy Mặt
Trời ngả về phía tây, còn những địa điểm ở phía tây thì mới thấy Mặt Trời sắp tròn bóng.
Nh vậy là cùng ở một thời điểm, mỗi địa phơng có một giờ riêng. Đó là giờ địa phơng.
Giờ địa phơng đợc thống nhất ở tất cả địa điểm nằm trên cùng một kinh tuyến. Nó khác với
giờ địa phơng trên các kinh tuyến bên cạnh từng phút, từng giây. Giờ đó đợc xác định căn
cứ vào vị trí của Mặt Trời trên bầu trời.
Trong sinh hoạt hằng ngày của một quốc gia, nếu theo giờ địa phơng thì sẽ có nhiều điều
phức tạp, bởi vì hai địa ph
ơng chỉ cần cách nhau một khoảng cách rất nhỏ là đã có giờ địa
phơng khác nhau. Để tránh tình trạng lộn xộn về giờ giấc, ngời ta phải quy định giờ thống
nhất cho từng khu vực trên Trái Đất, đó là giờ khu vực. Bề mặt Trái Đất đợc quy ớc chia
làm 24 khu vực bổ dọc theo kinh tuyến (giống nh những múi cam) nên đợc gọi là múi giờ.
Mỗi múi giờ chiếm giữ một góc 15 (360/24 = 15).
Giờ chính thức của toàn khu vực là giờ địa phơng của kinh tuyến đi qua chính giữa khu
vực. Ranh giới của các khu vực, về nguyên tắc cũng là các đờng thẳng dọc theo các kinh
tuyến. Tuy nhiên, ở trên đất liền, nó thờng là những đờng gãy khúc, đợc quy định dọc theo
biên giới các quốc gia. Đối với các nớc có diện tích nhỏ, chiều ngang hẹp, giờ chính thức
thờng đợc quy định thống nhất trong toàn quốc theo giờ kinh tuyến đi qua thủ đô của nớc
đó. Đối với những nớc lớn, có thể có nhiều khu vực giờ khác nhau.
Để tiện cho việc tính toán giờ trên thế giới ngời ta đã quy định khu vực giờ gốc đợc
đánh số 0 là khu vực có đờng kinh tuyến gốc đi qua đài thiên văn Griných. Ranh giới của nó
15
nằm ở kinh độ 75 Tây và 75 Đông. Từ khu vực đó đi về phía đông là khu vực giờ 1, 2, 3,
đợc tính theo giờ của kinh tuyến Griných (viết tắt GMT). Nớc ta lấy giờ chính thức là giờ
16
Trái Đất chuyển động trên hoàng đạo cùng hớng với tự quay quanh trục, tức là từ tây sang
đông với vận tốc rất lớn, trung bình 28km/s. Để hoàn thành trọn một vòng quỹ đạo, Trái Đất
phải đi mất 365 ngày 5 giờ 48 phút 46 giây.
Vì quỹ đạo có hình elip nên trong khi chuyển động, lúc Trái Đất ở vị trí gần Mặt Trời nhất
là điểm cận nhật (thờng vào ngày mồng 3 tháng 1) Trái Đất cách xa Mặt Trời 147 triệu km,
vận tốc lên tới 30,3km/s ; lúc Trái Đất ở vị trí xa Mặt Trời nhất là điểm viễn nhật (thờng vào
ngày 5 tháng 7) cách xa Mặt Trời 152 triệu km và vận tốc giảm xuống còn 29,3km/s. Điều
đáng chú ý là trong khi chuyển động trên quỹ đạo, trục của Trái Đất bao giờ cũng nghiêng về
một phía mà không thay đổi hớng. Chuyển động đó gọi là chuyển động tịnh tiến của Trái Đất
quanh Mặt Trời.
d) Hệ quả địa lí vận động quay quanh Mặt Trời của Trái Đất
Sự chuyển động biểu kiến của Mặt Trời giữa hai chí tuyến
Trong quá trình chuyển động trên quỹ đạo, hằng năm Trái Đất có hai lần ở vào vị trí gần
đầu mút của hoàng đạo là ngày hạ chí và ngày đông chí. ở ngày hạ chí (ngày 22 tháng 6) đầu
phía bắc của trục Trái Đất quay về phía Mặt Trời và tia sáng mặt trời chiếu thẳng góc với mặt
đất ở vĩ độ 2327 Bắc. Vòng vĩ tuyến 2327 Bắc đợc gọi là chí tuyến Bắc. ở ngày đông chí
(ngày 22 tháng 12) đầu phía nam của trục Trái Đất lại hớng về phía Mặt Trời và ánh sáng
mặt trời chiếu thẳng góc với mặt đất ở vĩ độ 2327 Nam. Vòng vĩ tuyến 2327 Nam đợc gọi
là chí tuyến Nam.
Vào hai ngày 21 tháng 3 và ngày 23 tháng 9, Trái Đất di chuyển đến những vị trí trung
gian ở giữa hai đầu mút của hoàng đạo gọi là xuân phân và thu phân. ở hai ngày này, trục
nghiêng của Trái Đất không quay đầu về phía Mặt Trời. ánh sáng mặt trời lúc đó chiếu thẳng
góc với mặt đất ở Xích đạo.
Nh vậy là trong khi Trái Đất di chuyển trọn một vòng trên quỹ đạo, những tia sáng mặt
trời lúc chiếu thẳng góc với mặt đất ở 2327 vĩ độ Bắc (ngày 22 tháng 6), lúc chiếu thẳng góc
ở Xích đạo (ngày 21 tháng 3 và 23 tháng 9), lúc chiếu thẳng góc với mặt đất ở 2327 vĩ độ
Nam (ngày22 tháng 12). Khu vực giữa hai đờng chí tuyến Bắc và chí tuyến Nam cũng là khu
0
0
0
10
0
20
0
23
0
27N
1-I 1-IV 1-IVI 1-X 1-I
Hình 10. Đờng biểu diễn chuyển động biểu kiến
của Mặt Trời trong năm
Đờng biểu diễn sự chuyển động biểu kiến của Mặt Trời cho biết trong năm ở những vĩ độ
nào, vào những tháng nào thì Mặt Trời lúc giữa tra lên cao nhất trên bầu trời.
Sự thay đổi các kì nóng, lạnh trong năm
Do trục Trái Đất nghiêng trên mặt phẳng hoàng đạo, cho nên khi chuyển động tịnh tiến
quanh Mặt Trời ở nửa cầu Bắc và nửa cầu Nam có chế độ luân phiên các thời kì nóng lạnh, tuỳ
theo nhiệt độ hấp thụ nhiệt Mặt Trời của mặt đất.
Từ 21 tháng 3 đến 29 tháng 9, nửa cầu Bắc ngả về phía Mặt Trời. Mặt Trời chuyển
động biểu kiến từ Xích đạo lên chí tuyến Bắc rồi lại trở về Xích đạo.
Trong thời gian này, góc tới của tia sáng mặt trời trên các vĩ độ Bắc bao giờ cũng lớn hơn
góc tới của tia sáng mặt trời trên các vĩ độ Nam tơng ứng (cùng một vĩ độ, cùng một thời
điểm).
càng tăng cao.
19
Mùa thu : Từ 23 tháng 9 đến 22 tháng 12. Mặt Trời tiếp tục di chuyển về chí tuyến Nam.
Lợng nhiệt của Mặt Trời giảm, nhng vẫn còn lợng nhiệt dự trữ mùa hạ, vì vậy nhiệt độ
cha thấp lắm.
Mùa đông : Từ 23 tháng 9 đến 21 tháng 3. Mặt Trời từ chí tuyến Nam di chuyển về Xích
đạo, lợng nhiệt của Mặt Trời có tăng lên một chút, nhng lợng nhiệt dự trữ đã tiêu hao hết,
vì vậy nhiệt độ hạ thấp.
ở nửa cầu Nam, vào các thời gian trên có các mùa hoàn toàn ngợc với các mùa ở nửa cầu
Bắc.
ở những nớc nằm giữa hai chí tuyến nh nớc ta, sự phân hoá ra 4 mùa không rõ nét nh
vùng ôn đới vì quanh năm có chế độ nhiệt cao.
Hiện tợng ngày và đêm dài ngắn theo mùa
Từ 21 tháng 3 đến 23 tháng 9 do cực Bắc của trục Trái Đất nghiêng về phía Mặt Trời,
đờng phân chia sáng tối ở phía sau cực Bắc và phía trớc cực Nam. Do đó ở nửa cầu Bắc diện
tích đợc chiếu sáng lớn hơn diện tích khuất trong bóng tối, ban ngày ở nửa cầu Bắc dài hơn
ban đêm. Còn nửa cầu Nam thì ngợc lại.
Từ 23 tháng 9 đến 21 tháng 3 do cực Nam của trục Trái Đất nghiêng về phía Mặt Trời,
đờng phân chia sáng tối ở phía trớc cực Bắc và phía sau cực Nam. Do đó diện tích đợc
chiếu sáng ở nửa cầu Bắc nhỏ hơn diện tích khuất trong bóng tối, ban ngày ở nửa cầu Bắc
ngắn hơn ban đêm. ở nửa cầu Nam, thời gian này ngày dài hơn đêm.
ở Xích đạo quanh năm có thời gian ban ngày và ban đêm bằng nhau. Càng xa Xích đạo
độ dài ngắn của ngày đêm càng tăng. ở các cực, độ chênh lệch tăng dến mức cao nhất, có tới
6 tháng ngày hoặc 6 tháng đêm.
Các vòng đai chiếu sáng và nhiệt
Căn cứ vào các mùa, vào chế độ chiếu sáng và tiếp thu nhiệt ngời ta phân chia bề mặt
cổ đại sử dụng.
Dơng lịch không ngừng đợc cải tiến. Vì năm lịch ngắn hơn năm thật nên phải quy ớc
cứ 3 năm có 365 ngày phải có một năm nhuận có 366 ngày (lịch Juy Liêng). Thực tế cho thấy
lịch Juy Liêng vẫn bị chậm 3 ngày trong 400 năm. Sau này lịch Gơrêgo sửa lại và quy định cứ
trong 400 năm lại bớt đi 3 ngày nhuận.
Dơng lịch hiện nay rất đợc thông dụng trên thế giới vì rất đơn giản và khá phù hợp với
quy luật khí hậu trong năm.
Nớc ta cũng nh một số nớc ở châu á còn sử dụng cả âm dơng lịch.
Âm dơng lịch dựa trên cơ sở kết hợp giữa âm lịch và dơng lịch. Nếu nh dơng lịch dựa
trên cơ sở tính toán sự chuyển động của Trái Đất xung quanh Mặt Trời thì âm lịch dựa trên sự
chuyển động của Mặt Trăng quay quanh Trái Đất.
Theo âm lịch một năm có 12 tháng, mỗi tháng có 29 ngày hoặc 30 ngày, phù hợp với các
tuần trăng. Mỗi năm đợc phân chia ra làm 24 tiết, mỗi tiết cách nhau khoảng 15 ngày phù
hợp với vị trí xuân phân, hạ chí, thu phân, đông chí, lập xuân, lập hạ, lập thu, lập đông,
Âm dơng lịch còn sử dụng làm nông lịch, tính ngày lễ hội và các sinh hoạt khác trong
đời sống.
4. Ngun gc v cu to ca trỏi t
a) Nguồn gốc của Trái Đất
Nguồn gốc của Trái Đất có liên quan chặt chẽ với sự hình thành các hành tinh khác trong
hệ Mặt Trời. Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu và đề xuất các giả thuyết để giải quyết vấn đề
này. Tuy nhiên, các giả thuyết vẫn còn những điểm cha có sức thuyết phục. Vì vậy, vấn đề
nguồn gốc Trái Đất và hệ Mặt Trời vẫn còn là vấn đề cần giải quyết trong tơng lai. Nhìn
chung các giả thuyết đều xuất phát từ hai quan niệm khác nhau về vật chất ban đầu cấu tạo
nên Trái Đất :
Vào thế kỉ XVIII, với giả thuyết của Căng và Lappaxơ ngời cho rằng các hành tinh trong
hệ Mặt Trời đợc hình thành từ các đám mây bụi vũ trụ dày đặc, có thể là chất khí, cũng có
thể là các vật rắn, nhiệt độ cao, xoay quanh một trục có định. Trong quá trình nguội lạnh, kích
thớc của khối giảm đi, vận tốc quay tăng lên, do đó hình thành các vành vật chất kết tụ lại,
tạo thành các khối cầu lớn là các hành tinh và nhỏ hơn là các vệ tinh. Nh vậy, theo giả thuyết
này, Trái Đất ban đầu là một khối vật chất rất nóng, sau đó ngng tụ và nguội dần, nhng do
ợc những tài liệu về tốc độ truyền sóng qua các lớp đất khác nhau, về tính
chất truyền của các loại sóng qua các môi trờng vật chất khác nhau.
+ Trạng thái vật chất phun ra khi núi lửa hoạt động.
Các kết quả nghiên cứu từ trớc đến nay cho thấy trong thành phần vật chất của Trái Đất
trong đó có 10 nguyên tố phổ biến nhất, chiếm u thế tuyệt đối là : ôxi, silic, nhôm, natri,
magiê, canxi, sắt, kali, cacbon và titan. Mời nguyên tố này đã chiếm tới 99,5% khối lợng
các nguyên tố cấu tạo nên Trái Đất. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì nếu so sánh
với Mặt Trời và các sao khác thì hầu nh chúng đợc cấu tạo bởi hai nguyên tố là hiđrô và
hêli.
Cấu tạo bên trong của Trái Đát gòm ba lớp với những đặc điểm khác nhau :
+ Lớp vỏ Trái Đất : là lớp vỏ mỏng bao bọc bên ngoài của Trái Đất, có giới hạn từ bề mặt
Môkhôrôvich (gọi tắt là bề mặt Môhô) ở độ sâu khoảng 40 60km. Thành phần vật chất của
22
lớp vỏ Trái Đất chủ yếu gồm hiđrô, silic, canxi, magiê, natri, kali (thờng gọi là quyển sial).
Lớp vỏ Trái Đất có cấu tạo không đồng nhất, có hai loại kiểu chính của vỏ Trái Đất :
Kiểu vỏ lục địa : có cấu tạo 3 tầng là tầng trầm tích, granít và bazan.
Kiểu vỏ đại dơng : có cấu tạo hai tầng là tầng trầm tích và bazan, trong đó tầng trầm tích
rất mỏng. Ngoài ra, còn có kiểu vỏ chuyển tiếp thờng quan sát thấy ở các khu vực biển rìa lục
địa hoặc nội địa.
Lớp bao manti : nằm ở dới vỏ Trái Đất cho đến độ sâu khoảng 2900km. Thành phần vật
chất có silic, magiê, sắt (vì vậy còn có tên là quyển sima).
ở ranh giới phía dới của bao manti, nhiệt độ lên tới 2000 2500
o
C và áp suất là 1,4 triệu
atmôtphe.
Đặc biệt dới lớp bao manti có tâm địa chấn ở các độ sâu 100 250km trên lục địa và 50
400km dới các đại dơng. ở nhiệt độ này tỉ trọng vật chất giảm xuống, nhiệt độ khoảng
1200
o
B
Bao
Trên 40 đến 400 3,6
1400 -1700
o
10,4
C
Manti
Giữa 400 đến 960 4,7
1700 2400
o
16,4
D Dới 960 đến 2900 5,6
2900 4700
o
41,0
E G Nhân Trái Đất 2900 đến 6371 >11,5
5000
o
31,4 Thực hành
1. Căn cứ vào các số liệu trong sách, hãy tính khoảng cách trung bình từ các hành tinh
trong hệ Mặt Trời tới Mặt Trời bằng đơn vị km.
2. Biết tốc độ di chuyển của ánh sáng là 300 000km/s, hãy tính khoảng cách trung bình từ
các hành tinh trong hệ Mặt Trời tới Mặt Trời bằng đơn vị đo thời gian.
3. Vẽ sơ đồ cấu tạo của hệ Mặt Trời.
4. Vẽ sơ đồ cấu tạo bên trong của Trái Đất.
24
Chng II
LP V A L CA TRI T
I - LP V A L CA TRI T
1. Lp v a lớ
a) Khái nệm về lớp vỏ địa lí
Lớp vỏ địa lí là lớp vỏ của Trái Đất đợc cấu tạo bởi các lớp vỏ bộ phận nh thạch quyển,
khí quyển, thuỷ quyển, thổ nhỡng và sinh vật quyển.
Các quyển này không tách rời mà thâm nhập và tác động lẫn nhau tạo nên một tổng thể tự
nhiên thống nhất, vô cùng phức tạp và có cấu trúc thẳng đứng trong vỏ địa lí.
Trong các thành phần cấu tạo nên lớp vỏ địa lí thì thạch quyển là thành phần xuất hiện
trớc hết, đồng thời cũng là bảo thủ nhất và nó đã có ảnh hởng trực tiếp, lâu dài tới các thành
phần khác. Sinh quyển là quyển xuất hiện muộn nhất nhng cũng là quyển đã tạo nên sự
phong phú, đa dạng và rất sinh động của lớp vỏ địa lí.
b) Giới hạn của lớp vỏ địa lí
Không phải toàn bộ bề dày của các quyển tạo nên lớp vỏ địa lí. Lớp vỏ địa lí chỉ bao gồm
các tầng bên dới của khí quyển (cho đến hết tầng đối lu hay lớp dới của tầng ôzôn), toàn
bộ thuỷ quyển, thổ nhỡng quyển, sinh quyển và bộ phận phía trên của thạch quyển (tới mặt
đáy của lớp vỏ Trái Đất, nơi xuất hiện các tâm động đất hay núi lửa và các lớp trầm tích).
Nh vậy, bề dày của lớp vỏ địa lí đợc giới hạn trong phạm vi khoảng 60km.