BÁO CÁO THỰC ĐỊA CƠ SỞ ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN KHU VỰC THÀNH PHỐ LẠNG SƠN - Pdf 37

BÁO CÁO THỰC ĐỊA CƠ SỞ ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN
KHU VỰC THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
PHẦN MỞ ĐẦU
1: Mục đích, yêu cầu
1.1: Mục đích
- Rèn luyện kĩ năng khảo sát nghiên cứu ngoài thực địa, củng cố hoàn thiện kiến
thức đã học trên lớp.
- Bổ sung kiến thức mới, mở rộng các kiến thức liên quan tới địa lý tự nhiên.
Giúp sinh viên nắm rõ đặc điểm, mối quan hệ và biểu hiện của các quy luật địa lý tự
nhiên trên địa bàn thực địa, làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, cách thức
tổ chức, hướng dẫn các đợt tham quan, thực tế trong các quá trình công tác sau này.
1.2: Yêu cầu
-Sinh viên thực hiện nghiêm túc các buổi học thực địa và nắm rõ các kiến
thức do giảng viên hướng dẫn truyền đạt trong suốt quá trình thực địa.
-Vận dụng các kiến thức và kĩ năng đã học để giải quyết vấn đề thực tế.
-Bảo quản, giữ gìn tốt các trang thiết bị phục vụ quá trình thực địa.
-Có tinh thần trách nhiệm, tính kỉ luật và tinh thần đoàn kết.
2: Các tuyến, điểm thực địa
2.1: Các tuyến, điểm thực địa chuyên đề địa chất-địa hình
-Tuyến thực địa: Nhị Thanh-Thác Nghiệt
-Các điểm thực địa: động Nhất Thanh, Nhị Thanh; trạm biến áp Lạng Sơn,
bãi bồi sông Kỳ Cùng (đoạn phía Tây tỉnh Lạng Sơn)…
2.2: Các tuyến, điểm thực địa chuyên đề khí hậu-thủy văn
- Các tuyến, điểm thực địa chuyên đề khí hậu:
+Tuyến thực địa: Ngã Sáu-Mai Pha
+Điểm thực địa: Trạm khí tượng Mai Pha, thành phố Lạng Sơn (Đài khí
tượng thủy văn khu vực Đông Bắc)
Các tuyến, điểm thực địa chuyên đề thủy văn
+Tuyến thực địa: Mai Pha-Đông Kinh

1

cách cửa khẩu Hữu Nghị 15km và Đồng Đăng 13km về phía Đông Bắc.
-Thành phố Lạng Sơn nằm giữa một lòng chảo lớn, có dòng sông Kỳ Cùng
chảy qua trung tâm Thành phố đây là dòng sông chảy ngược. Nó bắt nguồn từ
huyện Đình Lập của Lạng Sơn và chảy theo hướng Nam - Bắc về huyện Quảng Tây
- Trung Quốc. Thành phố cách thủ đô Hà Nội 154 km, cách biên giới Việt Trung 18
2

2


km. Nằm trên trục đường quốc lộ 1A, đường sắt liên vận quốc tế Việt Nam – Trung
Quốc, đường quốc lộ 1B đi Thái Nguyên, đường quốc lộ 4B đi Quảng Ninh, đường
quốc Lộ 4A đi Cao Bằng. Thành phố nằm trên nền đá cổ, có độ cao trung bình 250
m so với mực nước biển, gồm các kiểu địa hình: xâm thục bóc mòn, cacxtơ và đá
vôi, tích tụ.Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng-Lạng Sơn được quy hoạch thành một
nút trên tuyến Hành lang kinh tế Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng, thành
một động lực kinh tế của tỉnh Lạng Sơn, vùng Đông Bắc Việt Nam, và sau năm
2010 trở thành một cực của Tứ giác kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (Lạng Sơn-Hà NộiHải Phòng-Quảng Ninh).
-Theo Nghị định 82/2002/NĐ-CP, ranh giới thành phố Lạng Sơn được xác
định như sau:
+Phía Bắc giáp xã Thạch Đạn, Thụy Hùng – huyện Cao Lộc.
+Phía Nam giáp xã Tân Thành, Yên Trạch – huyện Cao Lộc và xã Vân Thủy
- huyện Chi Lăng
+Phía Đông giáp thị trấn Cao Lộc và các xã Gia Cát, Hợp Thành, Tân Liên –
huyện Cao Lộc.
+Phía Tây giáp xã Xuân Long – huyện Cao Lộc và xã Đồng Giáp – huyện
Văn Quan.
1.2: Các điều kiện kinh tế-xã hội
1.2.1: Tài nguyên thiên nhiên
-Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên là 7.918,5 ha, trong đó đất sử

địa bàn Thành phố có khoảng 40 km đường quốc lộ với bề mặt rộng từ 10-20 m, 60
km đường tỉnh lộ với mặt đường rộng từ 5–11 m. Tuyến cao tốc Hà Nội - Hữu Nghị
Quan với 6 làn xe sẽ được xây dựng với tổng vốn đầu tư dự kiến 1,4 tỷ USD vào
năm năm 2010. Việt Nam hợp tác với Trung Quốc xây dựng tuyến đường sắt liên
vận quốc tế cho Hành lang kinh tế Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng Quảng Ninh. Sẽ được đầu tư xây dựng cảng Phả Lại thành cảng đầu mối quan trọng
trong tuyến đường thủy của hành lang.
+Thủy lợi và cấp nước: Trên địa bàn Thành phố hiện có 8 hồ đập lớn nhỏ,
với năng lực thiết kế 600 ha và 20 trạm bơm có khả năng tưới cho 300 ha; 10 giếng
khoan với công suất 500-600 m³/h và 50 km đường ống phi 50-300 mm, cung cấp
nước cho trên 8.000 hộ và hơn 300 cơ quan, trường học. Hiện nay, Thành phố có
khoảng 8 km đường ống thoát nước và hơn 5 km đường mương thoát nước.
+Hệ thống điện: Hệ thống điện lưới quốc gia trên địa bàn Thành phố có
khoảng 15 km đường dây cao thế 10 KV, 70 km đường dây 6 KV, 350 km đường
dây 0,4 KV... trên 200 trạm biến áp các loại có dung lượng từ 30-5.600 KVA cung
cấp cho hơn 15.00 điểm công tơ. Sản lượng điện thương phẩm trên địa bàn Thành
4

4


phố ngày càng tăng từ 21 triệu KWh năm 1998 lên 25,8 triệu KWh năm 2002, bình
quân hàng năm tăng 5,3%, các trục đường chính, các ngã ba, ngã tư đều đã được
trang bị hệ thống đèn báo hiệu.
+Mạng lưới thông tin - liên lạc: Năm 1997 lắp đặt và đưa vào sử dụng hệ
thống truyền dẫn vi ba số từ trung tâm Thành phố đến 11 huyện, các cửa khẩu.
Tổng các kênh vi ba số nội Tỉnh là 400 kênh, dung lượng tổng đài TDX - 1B 8.000
số. Hiện nay trên địa bàn Thành phố có 15.000 máy thuê bao và hàng nghìn máy di
động,...
1.2.3: Các điều kiện xã hội
-Dân số của thành phố năm 2009 là 87.278 người, với nhiều dân tộc khác nhau

Đăng thành thị xã.và 7 điểm chợ biên giới.
2: Đặc điểm các thành phần tự nhiên khu vực thành phố Lạng Sơn
2.1: Đặc điểm địa chất-địa hình
2.1.1: Đặc điểm địa chất
-Địa chất khu vực thực địa trải qua ba vận động kiến tạo, đó là: Vận động
kiến tạo Hecxini, Induxini, Anpo-Himalaya
-Điểm thực địa động Nhất Thanh, Nhị Thanh:
+Diện tích: 600m2
+Sông ngòi: Có suối Ngọc Tuyền là suối nước ngầm chảy qua
+Tuổi: 350-250 triệu năm, tuổi pecmi
+Hệ tầng: Bắc Sơn
+Đặc điểm địa chất: cấu tạo bởi đá vôi dạng khối, màu xám xanh, màu sắc
mắt quan sát thực tế thấy là màu đen (do lớp phong hóa và bụi bẩn).
+Quá trình thành tạo hang động: nhờ vào vận động kiến tạo Hecxini làm cho
khu vực này chìm trong nước biển (căn cứ vào tìm thấy các hóa thạch: huệ biển, cúc
đá) hình thành đá vôi trầm tích sinh hóa. Sau đó, vận động Induxini nâng khu vực
này lên, các quá trình phong hóa diễn ra mạnh, nước ngầm dâng lên cao. Mực nước
ngầm dâng cao làm cho thể địa chất bị ăn mòn, làm rỗng địa hình, từ đó tạo ra các
hang động. Trong Đệ tứ, có ba pha nâng lên, vì vậy làm cho mực nước ngầm tại khu
vực hạ xuống, hang ướt trở thành hang khô. Ngày nay, vận động tạo núi AnpoHimalaya vẫn đang tiếp diễn. Khu vực thực địa có hang khô là đến Đệ tứ (Động
Nhất Thanh).
-Điểm thực địa trạm biến áp Lạng Sơn:
+Tuổi: cổ nhất trong các đá ở khu vực thực địa
+Hệ tầng: Bắc Sơn
+Đặc điểm:
6

6



Màu sắc: màu vàng đặc trưng
+Giai đoạn hình thành: cuối đại cổ sinh (cạnh pecmi), điều kiện tạo núi
Hécxini làm cho toàn bộ Lạng Sơn hạ thấp xuống dưới mực nước biển, đây là quá
trình sinh vật (san hô bốn tia, huệ biển) phát triển mạnh mẽ. Đây chính là nguồn vật
liệu trầm tích cho quá trình phong hóa và hình thành đất, đây là đá trầm tích sinh
hoá. Đến đầu pecmi, nguồn vật liệu từ lục địa đưa ra ngày càng nhiều, các đá trầm
tích nằm chỉnh hợp, liên tục nhau (T1, T2).
-Điểm thực địa bãi bồi sông Kỳ Cùng đoạn phía Tây thành phố Lạng Sơn:
7

7


+Hệ tầng Bắc Sơn (T1)
+Nguồn gốc: trầm tích lục nguyên
+Đặc điểm:






Phân lớp: phân lớp dày, mỏng đan xen nhau
Vật liệu: cát kết, bột kết, sét kết (tầng dày: cát kết, tầng mỏng: bột kết, sét kết)
Phong hóa bóc vỏ tác động đến lớp vỏ phong hóa
Thế nằm của đá: hướng dốc 175, góc dốc 21˚
Đá dưới lòng sông chủ yếu là cát kết, chịu tác động của phong hóa cơ học và phong
hóa hóa học. Sông ở Lạng Sơn mặc dù là sông ở miền núi nhưng cũng có bên lở,

bên bồi

trên lục địa, dạng vòm) thường có cấu trúc ẩn tinh đến poocfia (ban tinh màu trắng,
ẩn tinh màu xám).
+Đất đỏ rất thích hợp trồng các loại cây đặc sản Lạng Sơn: hồi, quế, cam, quýt.
2.1.2: Đặc điểm địa hình
-Địa hình tại khu vực Lạng Sơn có hình dạng lòng chảo: Lạng Sơn được bao
quanh bởi các dãy núi có độ cao khác nhau, trong đó cao nhất là đỉnh Mẫu Sơn cao
hơn 1500m so với mực nước biển, ở đây có thể có tuyết rơi vào mùa đông.
-Khu vực thực địa cũng chủ yếu là đồi núi thấp bao quanh khu vực thung
lũng. Tuy nhiên, nhiều ngọn núi tại khu vực thực địa đã bị san bằng để phục vụ mục
đích kinh tế: khai thác đã vôi dùng làm nguyên liệu để sản xuất gạch mang thương
hiệu Lạng Sơn.
-Có sông Kỳ Cùng chảy qua, dòng sông có đặc điểm là một trong số ít những
con sông chảy ngược ở Việt Nam. Sông Kỳ Cùng tuy là sông ở miền núi nhưng lại
mang những đặc điểm của một con sông vùng đồng bằng, đó là bị uốn khúc và có
bên lở, bên bồi. Nguyên nhân chủ yếu gây ra hiện tượng này là do địa hình tại Lạng
Sơn (nhiều đồi núi bao quanh làm sông buộc phải uốn khúc).
2.2: Đặc điểm khí hậu
-Khí hậu của Lạng Sơn thể hiện rõ nét khí hậu cận nhiệt đới ẩm của miền
Bắc Việt Nam. Khí hậu phân mùa rõ rệt, ở các mùa khác nhau nhiệt độ phân bố
không đồng đều do sự phức tạp của địa hình miền núi và sự biến tính nhanh chóng
của không khí lạnh trong quá trình di chuyển ở vùng nội chí tuyến đã gây nên
những chênh lệch đáng kể trong chế độ nhiệt giữa các vùng.
-Đặc điểm:
+Nhiệt độ trung bình năm: 17-22 °C
+Lượng mưa trung bình hàng năm: 1200–1600 mm
+Hệ số ẩm ướt khá cao: Độ ẩm tương đối trung bình năm: 80-85%
+Số giờ nắng trung bình khoảng 1600 giờ
+Hướng gió và tốc độ gió của Lạng Sơn vừa chịu sự chi phối của yếu tố
hoàn lưu, vừa bị biến tính bởi địa hình. Mùa lạnh thịnh hành gió Bắc, mùa nóng
9

lí tự nhiên khác: khí hậu, cảnh quan, các quá trình phong hóa đá và hình thàn đất,…

10

10


2.4: Đăc điểm lớp phủ thổ nhưỡng
-Thổ nhưỡng gồm 3 loại đất chính: đất feralit của các miền đồi và núi thấp
(dưới 700 m), chiếm trên 90% diện tích tự nhiên, đất feralit mùn trên núi cao (700 1.500 m) và đất phù sa.
-Trong khu vực thực địa chủ yếu quan sát thấy đất feralit với màu vàng đặc trưng.
2.5: Đặc điểm sinh vật
-Khu vực thực địa chủ yếu là thực vật thuộc đới khí hậu cận nhiệt đới ẩm gió
mùa với cả các loài thực vật nhiệt đới và ôn đới: thông, mận, bắp cải, su hào, cải
mèo…
-Thảm thực vật: Trước đây Lạng Sơn có diện tích rừng há lớn nhưng khoảng
hơn 10 năm trở lại đây, diện tích rừng ở Lạng Sơn liên tục giảm do chặt phá rừng
bừa bãi làm nương rẫy và chặt cây rừng lấy gỗ,…
3: Hiện trạng khai thác và vấn đề sử dụng hợp lí tài nguyên, bảo vệ môi
trường khu vực thành phố Lạng Sơn
3.1: Tài nguyên khoáng sản
-Lạng Sơn có một số loại khoáng sản như: đá vôi, đát sét, cát, đá cuội…Phổ
biến và có giá trị nhất là đá vôi.
-Đá vôi ở Lạng Sơn được sử dụng với mục đích chủ yếu là làm vật liệu xây
dựng: làm gạch. Do Lạng Sơn có 80% diện tích là đồi núi, chủ yếu là núi đá vôi nên
nguyền nguyên liệu cho sản xuất vật liệu xây dựng rất lớn. Tuy nhiên, tỉnh Lạng
Sơn chưa có biện pháp khai thác hiệu quả và hợp lí tài nguyên này. Tại nhiều địa
điểm thực địa, qaun sát thấy các núi đá vôi bị khai thác quá mức và không hợp lí.
Điều này đã làm hao hụt lượng lớn tài nguyên này, gây ảnh hưởng đến các yếu tố tự
nhiên khác, đặt ra câu hỏi lớn đối với cơ quan quản lí tài nguyên của Lạng Sơn.

PHẦN KẾT LUẬN
Kết thúc 9 ngày thực địa, chuyến đi của chúng tôi đã thành công hơn cả
mong đợi. Tất cả mọi người đều khỏe mạnh là thành công lớn nhất mà đoàn chúng
tôi đã giành được.
Đây là một chuyến đi đầy ý nghĩa với đối với tất cả sinh viên của K65 khoa
Địa lý. Chúng tôi đã biết thêm được nhiều điều bổ ích sau chuyến đi. Đối với học
phần thực địa địa lí tự nhiên tổng hợp, không chỉ nắm chắc được các lí thuyết
chuyên ngành đã được học trên giảng đường, chúng tôi còn “mang về” cho mình
những kĩ năng chuyên môn mà không phải chỉ ngồi trên bàn giấy mà có được. Một
“tấm bản đồ” về tự nhiên tổng hợp khu vực thực địa, một cái nhìn khách quan về
những gì được học trên sách vở, một thực nghiệm khoa học đầy thú vị là những sản
phẩm mà tôi thu nhận được sau chuyến thực địa chưa đầy 10 ngày đó. Những sản
phẩm này có thể chưa thật đẹp về hình thức, chưa thật hoàn hảo về nội dung nhưng
đây là thành quả của quá trình làm việc nghiêm túc và say mê của cả cá nhân tôi và
các bạn đồng hành trong nhóm. Mặc dù đã có những khó khăn, những trở ngại cả
khách quan lẫn chủ quan nhưng các thành viên trong đoàn đã đoàn kết, nỗ lực giải
quyết những khó khăn đó, phát huy tối đa tinh thần không ngại khó, ngại khổ, tinh
thần quyết tâm theo đuổi đam mê của sinh viên khoa Địa lý.
Thực địa địa lý, đúng như tên gọi của nó, đã đem lại nhiều điều bổ ích cho
sinh viên khoa Địa lý. Đúng như câu nói “Đi một ngày đàng học một sàng khôn”.
Không chỉ có ích về mặt tri thức, chuyến thực địa còn là một kỉ niệm đẹp của sinh
viên khoa Địa. 9 ngày cùng ăn, cùng sinh sống, cùng học tập, cùng vui chơi. 9 ngày
cùng chia sẻ ngọt bùi, khó khăn, cùng nhau thức khuya ôn thi, cùng nhau dậy sớm
đi thực tế. Không phải lúc nào cơ hội tuyệt vời ấy cũng đến vì vậy quả không sai
khi sinh viên của khoa lại mong chờ mỗi chuyến thực địa như vậy.

13

13


18

18


5: Hóa thạch

19

19


6: Thổ nhưỡng

20

20


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
/> /> />%E1%BB%91)

21

21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status