1
Chương 1 MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Nước ta là một nước nông nghiệp, nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió
mùa nên có đa dạng và phong phú về chủng loại nông sản nhưng cũng đa dạng về
các loại bệnh hại, côn trùng do có nhiệt độ và ẩm độ cao vì thế các loại nông sản dễ
bị hư hỏng, khó bảo quản được lâu.
Trong số các loại nông sản của Việt Nam, xoài là một loại quả có thành phần
dinh dưỡng cao, chứa nhiều loại vitamin, đặc biệt là vitamin A, nhiều loại khoáng
chất và các nguyên tố vi lượng rất cần thiết cho cơ thể. Tuy nhiên, xoài sau khi thu
hoạch chỉ giữ được ở điều kiện thường trong một thời gian rất ngắn và tỷ lệ thất
thoát xoài rất cao, có nơi lên đến 25 – 30% [4, p 2] do phương pháp bảo quản xoài
sau thu hoạch ở nước ta còn chưa phát triển.
Trong các giống xoài trồng để ăn trái tươi chín ở Việt Nam chỉ có xoài Cát
Hòa Lộc là đủ tiêu chuẩn chất lượng để xuất khẩu và có thể sánh ngang với các
giống xoài nổi tiếng trên thế giới như xoài Mehico, xoài Florida…
Bệnh thán thư được phát hiện trên nhiều loại cây ăn trái nhưng trên trái xoài
bệnh này rất phổ biến và gây thất thoát nghiêm trọng nhất. Xoài có triệu chứng bị
bệnh thán thư thì không còn giá trị buôn bán cho dù trái xoài có ngon như thế nào đi
nữa. Nói chung, để bảo quản xoài tốt thì phải giải quyết tốt các vấn đề sau đây: sự
phát triển của nấm bệnh, sự mất khối lượng và quá trình chín của trái xoài.
Các biện pháp xử lý bệnh được sử dụng trong thí nghiệm này gồm có: Chần,
chlorine và LonLife 20L. Trong đó, chlorine thì hầu như chưa có nghiên cứu nào áp
dụng trên xoài, LonLife 20L thì chỉ được nhà sản xuất khuyến cáo là ngâm xoài
trong dung dịch LonLife 20L có nồng độ 0,5 – 0,6% từ 1 – 3 phút để xử lý bệnh
thán thư trên xoài, còn biện pháp chần thì được nhiều tác giả nghiên cứu và áp dụng
trên xoài nhưng chưa có tác giả nào so sánh giữa các biện pháp xử lý bệnh ở trên thì
biện pháp xử lý nào tối ưu hơn.
1
2
Màng bao được sử dụng trong thí nghiệm gồm: Màng Freshcare và màng
mùi vị thơm ngon được nhiều người ưa thích và được xem là một loại trái cây quý.
Quả xoài ngoài ăn tươi còn dùng làm đồ hộp, làm mứt, nước giải khát, cho lên men
rượu, làm giấm…
Ở Việt Nam, xoài được trồng từ Nam chí Bắc, nhưng nổi tiếng nhất vẫn là
giống xoài Cát Hòa Lộc ở huyện Cái Bè (Tiền Giang). Xoài thường được thu hoạch
vào khoảng tháng 4 đến tháng 7.
2.1.1. Một số đặc tính sinh trưởng và phát triển của xoài
Xoài có thể trồng từ hột hoặc trồng ghép, cây trưởng thành có thể cao đến 40
m, nhưng thường cao 10 – 15 m, có tán lớn và có thể sống lâu đến 100 năm. Trồng
trên đất cao hay đồi núi, rễ có thể ăn sâu đến 9 m. Xoài trồng bằng hột ra hoa sau 6
– 8 năm, cây ghép ra hoa sau 3 – 5 năm. Tại Đồng Bằng Sông Cửu Long, xoài ra
hoa từ tháng 12 đến tháng 3 dương lịch.
Xoài mọc tốt trên nhiều loại đất, nhưng tốt nhất là đất sét pha cát hay đất phù
sa trên sông có thủy cấp không quá 2,5 m, độ pH thích hợp cho xoài phát triển từ
5,5 – 7,8. Xoài có thể chịu đựng được nhiệt độ từ 4 – 46
0
C, nhưng phát triển tốt
nhất ở 24 – 27
0
C. Xoài có thể mọc được ở độ cao dưới 1200 m, nhưng tốt nhất là ở
600 m trở xuống.
3
4
2.1.2. Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng
Theo phân tích của Ấn Độ, ở xoài tỷ lệ thịt quả chiếm khoảng 70% so với
trọng lượng quả, hột chiếm 13%. Tổng số chất tan 16% (đo bằng chiết quang kế),
độ chua 0,2% (tính ra acid citric), đường tổng số là 11 – 12% và giá trị nhiệt lượng
của 100 g là 70 calo. [6, p 6]
Glucid của xoài chủ yếu là các loại đường saccharose, fructose, glucose,
xylose, arabinose, heptulose, maltose. Acid của xoài chủ yếu là acid citric, ngoài ra
Vitamin B
6
(mg) 0,13
Lysine (g) 0,041
Leucine (g) 0,03
Alanine (g) 0,05
Alpha-Carotene (mcg) 17
Beta-Carotene (mcg) 444,85
(Nguồn: http://www.freshmangos.com)
2.1.3. Một số giống xoài phổ biến ở Việt Nam
Theo kết quả điều tra của Viện Nghiên Cứu Cây Ăn Quả Miền Nam, nước ta
có khoảng 100 giống xoài. Bảng dưới đây thể hiện đặc tính của một số giống xoài
phổ biến ở Việt Nam.
Bảng 2.2 Đặc điểm của một số giống xoài phổ biến ở Việt Nam
Tên xoài
Tuổi
cây
(năm)
Năng suất
(kg/cây/năm)
Trọng
lượng trái
(g)
Độ Brix (%)
Tỷ lệ khối
lượng
hột/trái (%)
Cát Hòa Lộc 20 100 – 150 400 – 500 22,9 9,2
Cát Chu 20 500 – 600 300 – 350 18,9 11
Ghép 10 100 – 150 300 – 350 17,7 18
Đây là quả to nhất trong các giống xoài ở Việt Nam, có khối lượng 600 – 800
g/trái. Quả chín có màu vàng nhạt, ít xơ, ít nước, vị nhạt, hơi chua.
2.1.3.6. Xoài Voi
Thịt quả và vỏ quả màu vàng tươi, nhiều nước rất ngọt và thơm, mịn không có
mùi nhựa thông, quả tròn, trọng lượng trung bình 190 – 250 g. Tuy phẩm chất quả
khá nhưng vỏ mỏng, khó cất giữ và vận chuyển nên chỉ để tiêu thụ tại chỗ, hạt rất
to, tỷ lệ thịt thấp.
2.1.3.7. Xoài Bưởi (Xoài ghép)
6
7
Xuất xứ từ Cái Bè (Tiền Giang), trồng bằng hạt cho quả rất sớm (khoảng 2,5 –
3 năm kể từ khi gieo). Có 2 loại: xoài ghép xanh và xoài ghép nghệ có năng suất và
chất lượng như nhau, chỉ khác là xoài ghép nghệ khi quả già có màu vàng nghệ.
Trái hơi giống xoài Cát nhưng nhỏ hơn, khối lượng trái trung bình khoảng 250 –
350 g. Vỏ trái dày nên có thể vận chuyển xa dễ dàng. Mùi hôi của trái giảm dần khi
tuổi cây càng già. Giống này cho phẩm chất kém vì thịt nhão, hơi lạt và hôi.
2.1.4. Tình hình sản xuất và tiêu thụ xoài
2.1.4.1. Tình hình trên thế giới
Xoài được xem là một trong những cây ăn quả quan trọng trên thế giới với
tổng diện tích khoảng 10.780.000 ha được trồng ở 93 nước. Theo FAO (2003) sản
lượng xoài trên thế giới đạt khoảng 27 triệu tấn và được xếp vị trí thứ 5 sau trái cây
có múi, nho, chuối và táo tây. Châu Á, Trung Nam Mỹ và Châu Phi là ba khu vực
sản xuất xoài chủ yếu trên thế giới. Khu vực sản xuất xoài lớn nhất thế giới là Châu
Á Thái Bình Dương với sản lượng là 10.780.000 tấn.
Bảng 2.3 Tình hình sản xuất xoài tại một số quốc gia trên thế giới
Quốc gia
Diện tích trồng
(ha)
Sản lượng (tấn) Xuất khẩu (tấn)
Ấn Độ 1.600.000 10.780.000 179.179
Bắc Trung Bộ 612 1,50 796 0,42
Duyên Hải Nam Trung Bộ 4190 10,30 14045 7,45
Tây Nguyên 534 1,31 2818 1,50
Đông Nam Bộ 12603 31,00 42812 22,70
Đồng Bằng Sông Cửu Long 19580 48,20 119649 63,45
(Nguồn: Niên Giám Thống Kê, 2002)
8
9
Qua bảng số liệu trên, ta có thể thấy rằng vùng sản xuất xoài chủ yếu tập trung
ở Đồng Bằng Sông Cửu Long với diện tích chiếm 48,20% và sản lượng chiếm
63,45% so với cả nước.
Sản lượng xoài xuất khẩu của nước ta còn rất thấp chỉ đạt 93 tấn trong năm
2003. Phần lớn xoài sản xuất ra được tiêu thụ ở thị trường nội địa, trong đó miền
Bắc tiêu thụ nhiều nhất. Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là do chất lượng
xoài của Việt Nam chưa đồng đều, công nghệ sau thu hoạch của nước ta còn chưa
được quan tâm đúng mức nên chưa được thị trường thế giới tiếp nhận. Do đó, vấn
đề cấp thiết hiện nay là cần phải có nhiều hơn các nghiên cứu về công nghệ sau thu
hoạch để có thể giữ chất lượng rau quả tươi được tốt và lâu hơn [6, p 9].
2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình bảo quản
2.2.1. Nhiệt độ
Nhiệt độ là yếu tố quan trọng có tính chất quyết định đến chất lượng và thời
gian bảo quản rau quả. Nhiệt độ tăng (trong một phạm vi nhất định) thì tốc độ của
các phản ứng sinh hóa xảy ra bên trong thực phẩm tăng đồng thời khả năng hoạt
động của các vi sinh vật có trong thực phẩm cũng tăng. Nói chung, nhiệt độ bảo
quản càng thấp thì cường độ hô hấp càng thấp nên sự tổn thất, sự giảm phẩm chất
sản phẩm càng ít do các phản ứng sinh hóa và vi sinh vật gây hư hỏng sản phẩm bị
ức chế không xảy ra được hay tốc độ xảy ra rất thấp.
2.2.2. Độ ẩm tương đối của không khí
Độ ẩm tương đối của không khí trong môi trường bảo quản quyết định tốc độ
bay hơi nước của rau quả. Độ ẩm môi trường càng thấp, cường độ hô hấp và tốc độ
CO
2
, 21% O
2
, 79% N
2
). Nhưng nếu CO
2
tăng quá 10 % sẽ sinh ra quá trình hô hấp
yếm khí làm cho rau quả mất khả năng đề kháng tự nhiên dẫn đến sự thâm đen và
thối hỏng. Các giống, các loại rau quả khác nhau có sự thích hợp với thành phần khí
khác nhau. Các loại rau quả “bền CO
2
” thích hợp với nồng độ CO
2
cao, còn loại
“không bền CO
2
” thích hợp với nồng độ dưới 10 %.
2.2.5. Vi sinh vật
Vi sinh vật là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự suy giảm chất
lượng trái cây trong quá trình tồn trữ do rau quả chứa hàm lượng nước cao, nhiều
dinh dưỡng là môi trường thuận lợi cho sự phát triển của vi sinh vật. Các hư hỏng
do vi sinh vật ở trái cây chủ yếu là do các loại nấm bệnh và vi khuẩn gây ra. Rau
quả thường nhạy cảm với nấm bệnh nhiều hơn là đối với vi khuẩn do trái cây chứa
một lượng acid đáng kể làm cho chúng có khả năng chống chịu tốt hơn đối với vi
10
11
khuẩn. Tuy nhiên, khi trái cây chín, giá trị pH tiến gần về mức trung hòa làm cho
rau quả trở nên rất nhạy cảm với mọi loại vi sinh vật.
Đây là phương pháp bảo quản rau quả tươi trong môi trường tồn trữ có thành
phần khí được kiểm soát chính xác và duy trì ở một giá trị ổn định khác với khí
quyển bình thường. Thành phần khí trong môi trường khí quyển có kiểm soát có
nồng độ O
2
thấp hơn và CO
2
cao hơn so với khí quyển bình thường nhằm làm chậm
hoạt động trao đổi chất, quá trình chín, ức chế và kiểm soát hoạt động của sâu bệnh
hại sau thu hoạch nên kéo dài được thời gian bảo quản rau quả sau thu hoạch. Xoài
có khả năng chịu đựng nồng độ O
2
tối thiểu là 3% và nồng độ CO
2
tối đa là 5% [23,
p 76].
2.3.2.4. Bảo quản bằng hóa chất
Khi sử dụng hóa chất phù hợp, rau quả có thể bảo quản được dài ngày ngay cả
ở nhiệt độ bình thường. Tuy nhiên, nếu kết hợp xử lý hóa chất với bảo quản lạnh thì
sẽ làm tăng hiệu quả bảo quản. Các hóa chất được sử dụng có thể là các chất có khả
năng ức chế sự sinh trưởng của rau quả (tức là làm chậm quá trình chín của rau quả,
ví dụ như GA3 (Gibberrellic acid), calcium nitrate và calcium chloride được áp
dụng trên xoài), các chất ức chế sự phát triển của vi sinh vật. Nhưng việc xử lý hóa
chất có thể làm biến đổi phần nào chất lượng của rau quả, tạo mùi vị không tốt và
có thể gây hại cho sức khỏe người tiêu dùng. Trong số các hóa chất được phép sử
dụng thì LonLife 20L và chlorine đang được nghiên cứu rộng rãi để xử lý bệnh trên
các loại rau quả sau thu hoạch. Chi tiết về LonLife 20L và chlorine sẽ được trình
bày trong phần sau.
2.3.2.5. Bảo quản bằng phương pháp vật lý
a. Kỹ thuật xử lý nhiệt
- Polyvinylchloride (PVC).
- Polyvinylidene chloride (PVDC).
- Ethylvinyl alcohol (EVOH).
- Ethylenevinyl acetate (EVA).
Tính thấm của bao bì thay đổi tùy thuộc vào bề dày và loại vật liệu bao bì. Tùy theo
thể tích của nguyên liệu so với thể tích túi, độ chín của quả, nhiệt độ bảo quản, tính
thấm và độ dày của bao bì… mà chất lượng nguyên liệu bảo quản sẽ khác nhau.
13
14
Ketsa và Raksritong (1992) đã tiến hành thí nghiệm bảo quản xoài Nam Dok
Mai ở 10
0
C, đối với xoài không chứa trong bao PVC bị tổn thương lạnh sau 24 ngày
bảo quản trong khi xoài chứa trong bao PVC có thể bảo quản được 28 ngày. [24, p
89]
b. Màng sinh học
Trong công nghệ bảo quản rau quả tươi, nhiều tác giả đã thành công trong việc
sử dụng chitosan để bảo quản dâu tây, cà chua, xoài… Trần Ngọc Hồng (2005) đã
tiến hành bảo quản xoài ghép nghệ bàng màng bao chitosan và loại chitosan có độ
deacetyl hóa 85% DD và trọng lượng phân tử 1,15 MD cho kết quả tốt. Nguyễn
Hoàng Trang (2006) đã tiến hành bảo quản xoài Cát Hòa Lộc bằng màng bao
chitosan loại 85% DD_1,15 MD và nồng độ chitosan 0,5% cho kết quả tốt nhất.
2.3.3. Bệnh hại trên xoài sau thu hoạch
2.3.3.1. Bệnh thán thư
Bệnh do nấm mốc Collectotrichum gloeosporioides gây ra. Bệnh này được
phát hiện trên nhiều loại cây ăn trái, nhưng trên cây xoài bệnh này gây hại nghiêm
trọng nhất. Nấm bệnh tấn công các phần cành, lá, hoa và trái của cây. Trên trái, lúc
đầu đốm bệnh chỉ là những chấm nâu nhỏ, sau đó đen dần và lõm xuống, vỏ trái có
thể bị thối.
Trên trái triệu chứng thường thể hiện rõ khi trái chín, vỏ trái bắt đầu là những
đất, nhiễm vào trái qua các vết thương. Khi trái bị nhiễm bệnh xuất hiện các vết
đốm màu xám, bất dạng, vết bệnh có thể liên kết tạo thành vùng thối nâu sậm hay
đen và vỏ trái bị thối mềm, lõm xuống.
2.3.3.4. Bệnh thối rửa trái
Bệnh do nấm Rhizopus stolonifer, làm cho trái bị thối mềm, ướt nước và chảy
rữa. Bệnh bắt đầu với những chấm xám nhạt nhỏ ở vỏ trái và lan rộng ra cả vỏ và
thịt trái một cách nhanh chóng. Bào tử nấm thường có trong không khí và nhiễm
vào những vết thương của quả, bệnh phát triển mạnh khi tồn trữ trái trong điều kiện
nóng ẩm.
2.3.3.5. Ruồi đục trái (Bactrocera spp.)
Hình 2.2 Bệnh thối cuống trái trên xoài do nấm Diplodia
Hình 2.3 Bệnh thối trái trên xoài do mốc đen
16
17
Bệnh ruồi đục trái chỉ biểu hiện khi trái đã chín. Lúc trái còn xanh thì các ấu
trùng ruồi chỉ xâm nhập nhưng chưa phát triển mạnh. Ruồi đẻ trứng vào vỏ quả gần
chín, ấu trùng nở ra đục vào trong gây hại làm cho quả bị rụng, nơi bị hại có vết
thâm, khi ấn nhẹ nước sẽ chảy ra.
Ruồi đục quả là đối tượng kiểm dịch của các nước như Mỹ, Nhật, Úc… Ruồi
đục quả không chỉ gây hại trên xoài mà còn gây hại trên nhiều cây khác như mận,
ổi, nhãn, chôm chôm, thanh long…
2.4. Biện pháp xử lý bệnh và vật liệu tạo màng dùng trong thí nghiệm
2.4.1. Chần (xử lý nhiệt)
Việc nhúng trái cây có múi vào trong nước nóng để phòng trừ bệnh thối rữa đã
báo cáo trong những năm 1920 (Fawcett, 1992) và trong suốt những thập kỷ sau,
việc nhúng quả trong nước nóng đã được ứng dụng trên những rau quả khác nhau
[21, p 190].
Việc xử lý nước ấm ở 55
0
C / 5 phút có thể kiểm soát bệnh thán thư trên xoài.
2
): rẻ nhất nhưng phải có hệ thống điều khiển bơm tự
động để đúng nồng độ.
- Calcium hypochloride (CaCl
2
O
2
): là dạng chlorine phổ biến nhất để khử
trùng rau quả tươi và nước rửa rau quả tươi. Ngoài tác dụng sát khuẩn mạnh (trừ
được bệnh thán thư), CaCl
2
O
2
còn có tác dụng tăng thời gian bảo quản và sức đề
kháng của rau quả bằng cách gắn Ca vào vách tế bào rau quả nên làm cho vách tế
bào vững chắc hơn và giảm tính thấm của màng, kết quả là làm chậm quá trình chín
và lão hóa.
18
19
- Sodium hypochloride (NaOCl) là dạng chlorine được sử dụng phổ biến,
có thành phần chất hữu hiệu thấp hơn CaCl
2
O
2
do ở dạng lỏng, bởi vì dạng rắn dễ
phản ứng với nước và giải phóng khí chlorine.
Trong thí nghiệm, chúng tôi sử dụng calcium hypochloride (CaCl
2
O
2
từ 1 – 3 phút. (www.hagro.com.vn/index.php? )
2.4.4. Màng chitosan
Chitosan là hợp chất sinh học cao phân tử, được sản xuất từ chitin nhờ phản
ứng deacetyl hóa tách gốc acetyl ra khỏi nhóm acetamide ở vị trí carbon thứ hai của
chitin và hình thành nhóm amine. Chitin có nhiều trong vỏ tôm, mai cua, vỏ các loài
giáp xác… Trong thực tế không có sản phẩm nào đạt 100% chitin hoặc 100%
chitosan, để đánh giá mức độ khác nhau của chitin và chitosan người ta dùng khái
niệm độ Acetyl hóa (DA) hoặc độ Deacetyl hóa (DD). Thực chất đây là sự khác
nhau về hàm lượng nhóm – NHCOCH
3
và nhóm NH
2
trong chitin và chitosan. Nếu
sản phẩm có độ DA lớn hơn 50% (DD nhỏ hơn 50%) là chitin và ngược lại là
chitosan. Trong thí nghiệm, chúng tôi sử dụng loại chitosan có độ deacetyl hóa là
85% DD.
Ngoài ra, chitosan dễ hòa hợp với cơ thể sinh học, khả năng tự phân hủy và
tạo thành màng mỏng có tính bán thấm, có tính kháng nấm nên được ứng dụng
trong nhiều lĩnh vực khác nhau như y học (chữa bỏng, chăm sóc vết thương…),
công nghiệp dệt, giấy, mỹ phẩm, bảo vệ môi trường, công nghệ bao bì vì tính an
toàn cho người và môi trường. Trong công nghệ bảo quản rau quả tươi, chitosan
được ứng dụng để bảo quản dâu tây, cam, nhãn, xoài, cà chua…
2.4.5. Màng Freshcare
Màng Freshcare là một dạng màng sinh học do Trung tâm nghiên cứu bảo
quản và chế biến rau quả đang nghiên cứu.
20
21
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ 05/04/2010 đến 17/06/2010, tại Trung Tâm Nghiên
C).
Bố trí thí nghiệm: thí nghiệm một yếu tố được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu
nhiên, 6 nghiệm thức với 5 lần lặp lại.
- Nghiệm thức 1: chần 55
0
C / 5 phút.
- Nghiệm thức 2: chlorine 100ppm.
- Nghiệm thức 3: chlorine 200ppm.
- Nghiệm thức 4: Lonlife 20L 0.5%.
- Nghiệm thức 5: LonLife 20L 0.75%.
- Nghiệm thức 6: LonLife 20L 1%.
- Nghiệm thức 7: đối chứng (rửa nước).
- Tổng số đơn vị thí nghiệm: 7 x 5 = 35 (trái).
Phương pháp tiến hành:
- Xoài Cát Hòa Lộc mua tại chợ đầu mối được đưa về phòng thí nghiệm
chọn trái có độ chín đồng đều, sau đó rửa bằng nước sạch. Áp dụng các biện pháp
xử lý bệnh rồi để ráo tự nhiên trong phòng. Xoài được nhúng trong dung dịch
chlorine và LonLife 20L ở các mức nồng độ khảo sát trong 5 phút. Dùng nước nóng
55
o
C để xử lý trái trong 5 phút. Sau đó, xoài được bọc giấy và bảo quản trong thùng
carton ở nhiệt độ phòng.
- Chỉ tiêu theo dõi:
+ Sự phát triển của nấm bệnh gồm:
• Tỷ lệ trái bệnh (%).
• Mức độ bệnh (phân cấp bệnh).
+ Đánh giá cảm quan: màu sắc, độ tươi.
23
24
+ Tỉ lệ giảm khối lượng (%).
- Chỉ tiêu theo dõi:
+ Sự phát triển của nấm bệnh gồm:
• Tỷ lệ trái bệnh (%).
• Mức độ bệnh (phân cấp bệnh).
• Tổn thương lạnh (%).
24
25
+ Đánh giá cảm quan.
+ Tỉ lệ giảm khối lượng (%).
+ Độ cứng (kg/cm
2
).
+ Độ Brix (%).
+ Acid tổng số (%).
- Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu thí nghiệm:
+ Các chỉ tiêu: độ Brix, acid tổng số, độ cứng được theo dõi trong các
ngày bảo quản thứ 16, 24, 32. Các chỉ tiêu: tỷ lệ giảm khối lượng, sự phát triển của
nấm bệnh, đánh giá cảm quan được theo dõi trong các ngày bảo quản thứ 16, 24,
32, 35, 37.
+ Riêng sau 35 ngày bảo quản ở nhiệt độ 10
0
C, xoài được đưa ra bảo
quản 2 ngày ở nhiệt độ phòng.
3.4. Phương pháp phân tích
3.4.1. Tỷ lệ giảm khối lượng (%)
Tỷ lệ giảm khối lượng = x 100
3.4.2. Sự phát triển của nấm bệnh
Sự phát triển của nấm bệnh được đánh giá bằng cách xác định tỷ lệ trái bệnh
(%) và đo tổng diện tích vết bệnh thán thư trên bề mặt trái xoài. Đối với các bệnh
hại khác, chúng tôi chỉ ghi nhận sự xuất hiện cùng với việc xác định tên bệnh dựa