TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA KỸ THUẬT-CÔNG NGHỆ
Đề tài:
THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MÔI
TRƯỜNG CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY,
NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP
• Sinh viên thực hiện : NGUYỄN TRỌNG NHÂN
• Lớp : Điện-Điện Tử 8
• Mã số sinh viên : 13D520201031
• Giảng viên hướng dẫn: NGUYỄN CHÍ THẮNG
Cần Thơ,ngày 22 tháng 10 năm 2014
THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY,
NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP
I-Mở Đầu
Một vấn đề nóng bỏng, gây bức xúc trong dư luận xã hội cả nước hiện nay là
tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái do các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của
con người gây ra.
Vấn đề này ngày càng trầm trọng, đe doạ trực tiếp sự phát triển kinh tế - xã
hội bền vững, sự tồn tại, phát triển của các thế hệ hiện tại và tương lai. Giải quyết
vấn đề ô nhiễm môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
hiện nay không chỉ là đòi hỏi cấp thiết đối với các cấp quản lí, các doanh nghiệp
mà đó còn là trách nhiệm của mỗi chúng ta và của toàn xã hội.
Trong những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới, vì tập trung ưu tiên phát
triển kinh tế và cũng một phần do nhận thức hạn chế nên việc gắn phát triển kinh tế
với bảo vệ môi trường chưa chú trọng đúng mức. Tình trạng tách rời công tác bảo
vệ môi trường với sự phát triển kinh tế - xã hội diễn ra phổ biến ở nhiều ngành,
nhiều cấp, dẫn đến tình trạng gây ô nhiễm môi trường diễn ra phổ biến và ngày
càng nghiêm trọng. Đối tượng gây ô nhiễm môi trường chủ yếu là hoạt động sản
xuất của nhà máy trong các khu công nghiệp, hoạt động làng nghề và sinh hoạt tại
các đô thị lớn. Ô nhiễm môi trường bao gồm 3 loại chính là: ô nhiễm nước và ô
nhiễm không khí, ô nhiễm đất.
nghiệp và làng nghề càng ngày bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn.
Tính đến năm 2012, cả nước có 289 khu công nghiệp, khu chế xuất, còn có
gần 900 cụm công nghiệp. Theo báo cáo giám sát của Uỷ ban khoa học, công nghệ
và môi trường của Quốc hội, tỉ lệ các khu công nghiệp có hệ thống xử lí nước thải
tập trung ở một số địa phương rất thấp, có nơi chỉ đạt 15 - 20%, như Bà Rịa - Vũng
Tàu, Vĩnh Phúc. Một số khu công nghiệp có xây dựng hệ thống xử lí nước thải tập
trung nhưng hầu như không vận hành vì để giảm chi phí. Bình quân mỗi ngày, các
khu, cụm, điểm công nghiệp thải ra khoảng 30.000 tấn chất thải rắn, lỏng, khí và
chất thải độc hại khác. Ví dụ nguồn nước thuộc lưu vực sông Sài Gòn - Đồng Nai
hiện đang bị ô nhiễm nặng, lượng , chất rắn lơ lửng, ô nhiễm hữu cơ (đặc biệt là ô
nhiễm dầu và vi sinh) tăng cao tại hầu hết các rạch, cống và các điểm xả, hàm
lượng chì trong nước vượt tiêu chuẩn quy định nhiều lần, chất rắn lơ lửng vượt tiêu
chuẩn từ 3 - 9 lần… Ví dụ khác ở thành phố Thái Nguyên, nước thải công nghiệp
thải ra từ các cơ sở sản xuất gấy, luyện gang thép, luyện kim màu, khai thác than;
về mùa cạn tổng lượng nước thải khu vực thành phố Thái Nguyên chiếm khoảng
15% lưu lượng song Cầu; nước thải từ sản xuất giấy có pH từ 8,9-9 và hàm lượng
là 4mg/l, hàm lượng chất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó chịu…
Tình trạng ô nhiễm nguồn nước ở nước ta hiện nay không thể thiếu sự “đóng
góp tích cực” từ các đô thị, thấy rõ nhất là ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ
Chí Minh. Ở các thành phố , nước thải sinh hoạt không có hệ thống xử lý tập trung
mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ, kênh, mương,…). Mặt khác, có rất
nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước thải; phần lớn các bệnh viện và cơ sở y tế
lớn chưa có hệ thống xử lý nước thải; một lượng rác thải rắn lớn trong thành phố
không thu gom hết được…là những nguồn quan trọng gây ra ô nhiễm nguồn nước.
Hiện nay, mức độ ô nhiễm trong các kênh, sông, hồ ở các thành phố lớn là rất
nặng. Thành phố Hà Nội, tổng lượng nước thải của thành phố lên tới 300.000 -
400.000 ; lượng rác thải sinh hoạt chưa được thu gom khoảng 1.200 đang xả vào
các khu đất ven hồ, kênh, mương trong nội thành. Thành phố Hồ Chí Minh thì
lượng rác thải lên tới gần 4000 tấn/ngày; 24/142 cơ sở y tế lớn là có hệ thống xử lý
nước thải. Không chỉ ở 2 thành phố lớn Hà Nội và Hồ Chí Minh mà ở các đô thị
biệt gần nhà máy nhiệt điện, nhà máy gạch đều vượt quá từ 5-8 lần. Còn lại
các khu dân cư xa đường giao thông lớn, các cơ sở sản xuất hay các khu
công nghiệp đều xấp xỉ tri số TCCP (trung bình 1 ngày là 0,2 ).
Ô nhiễm chì (Pb) và các loại khí độc hại:
Việc ô nhiễm chì chủ yếu là do các phương tiện giao thông chạy xăng pha
chì gây ra. Ô nhiễm chì trong không khí ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe
con người. Theo tiêu chuẩn chất lượng không khí ở Việt Nam, nồng độ chì
trong không khí không được vượt quá 0,005. Nồng độ khí ở một số khu
công nghiệp, các nút giao thông lớn thì vượt quá mức độ cho phép nhiều lần.
Lấy ví dụ, tại Hà Nội mỗi năm phải tiếp nhận khoảng 80.000 tấn khói bụi,
9.000 tấn khí , 46.000 tấn khí CO từ hàng trăm cơ sở sản xuất công nghiệp,
đó là chưa kể khói của hơn 100 ngàn ôtô và hơn 1 triệu xe máy.
Bảng số liệu nồng độ bụi PM
10
ở nước ta qua các năm :
Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010
µg/m³ 6029.76 6572.32 7055.24 7462.78 7145.75 7375.25
Biểu đồ cột thể hiện nồng độ bụi PM₁₀ ở nước ta từ năm 2005 đến 2010
Nhậnxét :Tình trạng ô nhiễm không khí ở nước ta đang hết sức nghiêm trọng,nồng độ
bụi chiếm mức cao trong không khí và đang có dấu hiệu tang nhanh qua từng năm.
Nhưng trong những năm gần đây nhờ có các chính sách,biện pháp của nhà nước nên
nồng độ bụi PM
10
ở nước ta đã giảm : Năm 2008 là 7462,78 µg/m
3
đến năm 2009 đã giảm
còn 7145,75 µg/m
3
….Xong vẫn đang nằm ở mức báo động.
3.Ô nhiễm môi trường đất
điều bình thường, không hề cảm thấy xấu hổ. Ý thức của nhiều người dân về bảo
vệ môi trường còn kém, chưa hiểu rõ hết tác hại của những hành động ấy tác động
đến môi trường xung quanh như thế nào. Công tác tuyên truyền, giáo dục về bảo vệ
môi trường trong xã hội còn hạn chế, dẫn đến chưa phát huy được ý thức tự giác,
trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân, cộng đồng trong việc tham gia gìn giữ và
bảo vệ môi trường.
Thứ hai, quyền hạn pháp lí của các tổ chức bảo vệ môi trường, nhất là của lực
lượng Cảnh sát môi trường chưa thực sự đủ mạnh, nên đã hạn chế hiệu quả hoạt
động nắm tình hình, phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật
về bảo vệ môi trường. Các cở sở pháp lí, chế tài xử phạt đối với các loại hành vi
gây ô nhiễm môi trường và các loại tội phạm về môi trường vừa thiếu, vừa chưa đủ
mạnh, dẫn đến hạn chế tác dụng giáo dục, phòng ngừa, răn đe đối với những hành
vi xâm hại môi trường. Rất ít trường hợp gây ô nhiễm môi trường bị xử lí hình sự;
còn các biện pháp xử lí khác như buộc phải di dời ra khỏi khu vực gây ô nhiễm,
đóng cửa và đình chỉnh hoạt động của các cơ sở gây ô nhiễm môi trường cũng
không được áp dụng nhiều, hoặc có áp dụng nhưng các cơ quan chức năng thiếu
kiên quyết, doanh nghiệp trây ỳ nên cũng không có hiệu quả.
Thứ ba, các cấp chính quyền chưa nhận thức đầy đủ và quan tâm đúng mức
đối với công tác bảo vệ môi trường, dẫn đến buông lỏng quản lí, thiếu trách nhiệm
trong việc kiểm tra, giám sát về môi trường. Công tác thanh tra, kiểm tra về môi
trường của các cơ quan chức năng đối với các cơ sở sản xuất dường như vẫn mang
tính hình thức, hiện tượng “phạt để tồn tại” còn phổ biến. Công tác thẩm định và
đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư còn tồn tại nhiều bất cập và
chưa được coi trọng đúng mức, thậm chí chỉ được tiến hành một cách hình thức,
qua loa đại khái cho đủ thủ tục, dẫn đến chất lượng thẩm định và phê duyệt không
cao.
Thứ tư, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ chuyên trách công
tác bảo vệ môi trường còn hạn chế; phương tiện kỹ thuật phục vụ công tác kiểm tra
chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn. Do đó, trong nhiều trường hợp, đoàn
kiểm tra không thể phát hiện được những thủ đoạn tinh vi của doanh nghiệp thải
Ba là, chú trọng công tác quy hoạch phát triển các khu, cụm, điểm công
nghiệp, các làng nghề, các đô thị, đảm bảo tính khoa học cao, trên cơ sở tính toán
kỹ lưỡng, toàn diện các xu thế phát triển, từ đó có chính sách phù hợp; tránh tình
trạng quy hoạch tràn lan, thiếu đồng bộ, chồng chéo.
Bốn là, chú trọng và tổ chức thực hiện nghiêm túc việc thẩm định, đánh giá
tác động môi trường đối với các dự án đầu tư, trên cơ sở đó, cơ quan chuyên môn
tham mưu chính xác cho cấp có thẩm quyền xem xét quyết định việc cấp hay
không cấp giấy phép đầu tư. Thực hiện công khai, minh bạch các quy hoạch, các
dự án đầu tư và tạo điều kiện để mọi tổ chức và công dân có thể tham gia phản
biện xã hội về tác động môi trường của những quy hoạch và dự án đó.
Năm là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường, trong đó
những chế tài xử phạt (cưỡng chế hành chính và xử lí hình) phải thực sự đủ mạnh
để đủ sức răn đe các đối tượng vi phạm. Bên cạnh đó, cần xây dựng đồng bộ hệ
thống quản lí môi trường trong các nhà máy, các khu công nghiệp theo các tiêu
chuẩn quốc tế, đồng thời tổ chức giám sát chặt chẽ nhằm hướng tới một môi
trường tốt đẹp và thân thiện hơn với con người.