TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG ĐẤT NƯỚC TRONG THƠ MỚI
T
r
ần Thị Giang
–
Đ
HSP Văn S
ử
K50
http://www.violet.vn/conghau158
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Vào những năm 30 của thế kỉ XX ở Việt Nam đã xuất hiện một cuộc
cách tân lớn trên lĩnh vực thơ ca. Cuộc cách tân này đã đi vào lịch sử văn học
với tên gọi phong trào Thơ mới. Phong trào Thơ mới ra đời là một bước rẽ
đầy ngoạn mục của nền thơ ca Việt Nam. Với những đóng góp của mình, với
khối lượng tác phẩm đồ sộ, Thơ mới thực sự là một cuộc cách mạng trên lĩnh
vực thơ ca. Những nhà thơ của phong trào Thơ mới như Thế Lữ, Xuân Diệu,
Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ thực sự là “thế hệ vàng
trong thi ca Việt” ( Lê Huy Bắc ). Cho đến nay, các bài thơ trong phong trào
Thơ mới vẫn cuốn hút sự tìm hiểu của hàng triệu trái tim yêu thơ.
Nhìn chung các bài thơ của các nhà Thơ mới mang đậm buồn và thiếu
khí phách cách mạng. Vì thế mà đã không có ít người cho rằng Thơ mới
không có tình yêu quê hương đất nước. Thiếu khí phách cách mạng là nhược
điểm của Thơ mới. Nhưng điều đó không đồng nghĩa với quan niệm là trong
Thơ mới chỉ có tình yêu lứa đôi mà thiếu vắng tình yêu quê hương đất
Thơ mới cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm khám phá.
Khi phong trào Thơ mới đang ở đỉnh cao thì cuốn Thi nhân Việt Nam
của Hoài Thanh - Hoài Chân ra đời ( năm 1941). Cuốn sách vừa là hợp tuyển,
vừa là nghiên cứu, phê bình về thơ mới. Đây là hợp tuyển đầu tiên của thời kỳ
thơ mới. Cuối năm 1941 Hoài Thanh đã khẳng định rằng: “Không lấy một
người sánh với một người, hãy lấy thời đại sánh cùng thời đại. Tôi quyết
rằng chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại ngày trong lịch
sử thi ca Việt Nam. Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần hồn
thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như
Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận,
quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên, và thiết tha rạo rực
băn khoăn như Xuân Diệu [12;29,30].
Năm 1989 nhà nghiên cứu phê bình văn học Lê Đình Kỵ đã khẳng định
“Thơ mới là một bước phát triển quan trọng, xét về mặt nào đó là cả một
cuộc cách mạng trong tiến trình của thơ ca Việt Nam đưa thơ cổ điển Việt
Nam đạt đến hiện đại cả về mặt biểu hiện cũng như cả của cảm hứng thơ
ca. Thơ mới đã góp hàng trăm bài thơ hay, trong đó có không ít bài thơ có
thể xếp vào loại hay nhất của nền thơ ca dân tộc”. [1;10].
Trên tạp chí Văn học, Hà Nội, số 6 (1993) Trần Đình Sử đã nhận xét:
“Phong trào thơ mới là một cuộc cách mạng thi ca chưa từng có trong lịch
sử Văn học dân tộc”.
Trong bản Tham luận tại hội thảo Văn chương Việt Nam giữa hai cuộc
chiến tại Đại học Havard tháng 6/1982 Hà Minh Đức đã nhận định: “Truyền
TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG ĐẤT NƯỚC TRONG THƠ MỚI
T
r
ần Thị Giang
–
Đ
HSP Văn S
Hà Minh Đức trong bài viết “Giá trị nhân bản của phong trào thơ mới”
nhấn mạnh: “Mỗi nhà thơ đều có một quê hương để ca ngợi trong thơ và
nhiều người lại có một làng quê cụ thể với nhiều gắn bó, yêu thương”
[1;86].
TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG ĐẤT NƯỚC TRONG THƠ MỚI
T
r
ần Thị Giang
–
Đ
HSP Văn S
ử
K50
http://www.violet.vn/conghau158
4
Tóm lại các nhà nghiên cứu cũng đã đề cập đến tình yêu quê hương đất
nước trong Thơ mới.Đó là những gợi ý hữu ích cho chúng tôi trong quá trình
triển khai đề tài.
3. Phạm vi nghiên cứu.
Do thời gian và trình độ của bản thân còn nhiều hạn chế nên chúng tôi
chỉ dừng lại nghiên cứu ở phạm vi: Tình yêu quê hương đất nước trong thơ
mới.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài này chúng tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích tổng hợp.
- Phương pháp so sánh.
- Phương pháp tiếp cận hệ thống.
2.4. Yêu mến những làng quê truyền thống.
2.5. Tình yêu tiếng Việt
TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG ĐẤT NƯỚC TRONG THƠ MỚI
T
r
ần Thị Giang
–
Đ
HSP Văn S
ử
K50
http://www.violet.vn/conghau158
6
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: PHONG TRÀO THƠ MỚI 1932-1945
1.1. Khái niệm “Thơ mới”:
Thơ mới trước hết là tên gọi của một phong trào thơ diễn ra trong khoảng
thời gian từ năm 1932-1945.
Khi dùng từ Thơ mới với nghĩa này, người ta thường viết hoa chữ Thơ.
Trong những văn cảnh khác, thơ mới cũng được dùng để mệnh danh cho một
tác giả, một tập thơ, bài thơ cụ thể (dĩ nhiên với điều kiện nhà thơ, tập thơ, bài
thơ ấy là của phong trào Thơ mới). Lúc này, chữ thơ không cần thiết phải viết
hoa. Ví dụ: các nhà thơ mới đã đổi mới hệ thống thi pháp của thơ trữ tình,
tiếng Việt; Nguyễn Bình là một nhà thơ mới đích thực; Trang Giang là một
bài thơ mới tiêu biểu
đối, bởi không có gì là “thuần túy” trong hành động sáng tạo của các nhà thơ.
Một số thể thức được du nhập từ thơ phương Tây (trước hết là thơ Pháp)
không chối bỏ mà khéo hòa nhập với những thể thức đã có từ nền thơ truyền
thống, và ngược lại, những thể thơ truyền thống khi được sử dụng lại cũng đã
được cải biến để có một khuôn mặt khác trước.
Như vậy, mặc dù thơ mới từng có lúc bị giải thích một cách phiến diện,
khiến không ít người nghi ngờ tính hữu lý của nó, nhưng thơ mới không phải
là một khái niệm rỗng. Hoàn toàn có thể dùng nó để vạch ra sự khu biệt giữa
hai thời đại thi ca. Ngay từ năm 1942 trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh
đã chỉ ra cái mới cơ bản của thơ mới ở phần tinh thần. Ông cho rằng tinh thần
của thời đại thơ mới nằm ở chữ “tôi”. Với phong trào Thơ mới, quả là “Cái
tôi” cá nhân đã lên tiếng đòi quyền sống, sau nhiều thế kỷ bị “cái ta” đè nén.
Nhà phê bình đã viết: Xã hội Việt Nam từ xưa không có cá nhân. Chỉ có đoàn
thể: lớn thì quốc gia, nhỏ thì gia đình. Còn cá nhân, các bản sắc của cá nhân
chìm đắm trong gia đình, trong quốc gia như giọt nước trong biển cả”. Sự trỗi
dậy của “Cái tôi” cá nhân có một ý nghĩa văn hóa lớn lao trong đời sống của
nhân loại văn minh. Đối với văn học nói chung và thi ca nói riêng, nó có tác
dụng khích lệ các nhà thơ bày tỏ mình một cách thành thực, dám dùng quan
điểm cá nhân, lập trường cá nhân để giao tiếp với cuộc đời và đánh giá thế
giới, tạo ra tính đa thanh của cả một nền thơ. Nhìn chung vào thời điểm phong
trào thơ mới đang làm cuộc cách mạng thi ca, luận điểm nhấn mạnh vào cái
mới của thơ mới ở phương diện “tinh thần” như trên được xem là luận điểm
đáng kể nhất. Chính nó đã góp phần khẳng định ý nghĩa đích thực cần được
thừa nhận của danh hiệu thơ mới mà người đề xướng phong trào là Phan Khôi
lúc đầu chỉ định “tạm dùng”. Tuy vậy, cho đến nay, hai chữ thơ mới đã mang
một hàm nghĩa rộng lớn, chỉ một phong trào, một trào lưu thơ ca đã đi vào
lịch sử văn học như một cuộc cách mạng về thi pháp, đưa thơ Việt Nam bước
qua giai đoạn cổ điển để tiến vào quỹ đạo hiện đại. [2;5,6]
1.2. Hoàn cảnh ra đời của Thơ mới.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918), ở Việt Nam xuất hiện
lãng mạn Pháp đã dần dần đem đến cho thanh niên tiểu tư sản thành thị những
năm 30 của thế kỷ này, những tình cảm mới, những rung động mới. Họ yêu
thương mơ mộng, vui buồn khác các nhà thơ xưa. Trong buổi diễn thuyết ở
nhà hội Quy Nhơn tháng 6/1934, Lưu Trọng Lư đã nói: Các cụ ta ưa những
màu đỏ chót, ta lại ưa màu xanh nhạt, đứng trước một cô gái xinh đẹp, các cụ
xem như là một việc làm tội lỗi, còn đối với ta như đứng trước một cánh đồng
xanh mát mẽ ”.
Chính sự khác nhau sâu xa đó giữa hai thế hệ mà những câu thơ ngâm
hoa vịnh nguyệt sáo mòn và cũ rích trên Nam Phong, văn học tạp chí, tiếng
dân không còn hợp với tình cảm mới của họ. Trong trào thơ mới lãng mạn ra
đời năm 1932 chính là để đáp ứng nhu cầu tình cảm của một tầng lớp thanh
niên mới.
Một phong trào văn học ra đời bao giờ cũng phản ánh những đòi hỏi nhất
định của xã hội. Nó là tiếng nói của một tầng lớp người, của một giai cấp vừa
TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG ĐẤT NƯỚC TRONG THƠ MỚI
T
r
ần Thị Giang
–
Đ
HSP Văn S
ử
K50
http://www.violet.vn/conghau158
9
mới ra đời, đang lớn lên hoặc già cỗi trong xã hội. Thơ cũ trong Nam Phong,
văn học tạp chí là tiếng nói của một tầng lớp phong kiến đã thất bại và đầu
ần Thị Giang
–
Đ
HSP Văn S
ử
K50
http://www.violet.vn/conghau158
10
nhiều diễn đàn, từ Sài Gòn, Quy Nhơn ra Nam Định, Hà Nội người ta ra sức
phê phán thơ cũ.
1.3.1.1. Cuộc đấu tranh giữa thơ cũ và thơ mới:
Tháng 11/1917 trên Nam Phong tạp chí bàn về thơ Nôm, Phạm Quỳnh
viết: Thơ cũ là phiền phức, luật lệ ràng buộc, khắc nghiệt không khác luật
hình.
Năm 1928 trên báo Trung Bắc Tân Văn Nguyễn Văn Vĩnh dịch bài thơ
của La Phôngten:
“Con ve sầu kêu ve ve
Suốt mùa hè
Đến kỳ gió bấc thổi
Nguồn cơn thật bối rối ”
Đây là bài thơ dịch theo thể thơ tự do và được người đọc rất hâm mộ.
Đây chính là cơ sở cho một thể thơ mới ra đời.
Cuộc chiến bút này có hai phái: phái thơ cũ và phái thơ mới.
- Ý kiến của phái thơ mới:
Phụ Nữ Tân Văn số 29, ra ngày 21/11/1929 “ lối thơ Đường luật bó
buộc người làm thơ phải theo khuôn phép tỉ mỉ, mất cả hứng thú tự do, ý
tưởng dồi dào, nếu ngày nay ta cứ dùng theo lối thơ ấy mãi thì làng văn Nôm
Thơ thách họa các cụ đồ
Đối lời nhắn nhủ bạn làng nho
Thơ thẩn, thẩn thơ, khéo thẩn thờ
Con cóc Nghè Huỳnh đuôi cọc lóc
Nàng thơ Ấm Hiếu mũi thò lò
Chai to, chai nhỏ con cầy béo
Cầu thánh cầu thần đĩa mực khô
Nắn nón miễn sao lên bốn ghế
Chẳng thơ thì cũng cóc cần thơ
Nữ sĩ: Nguyễn Thị Kiêm đăng đàn diễn thuyết lên án thơ cũ: “Thơ
Đường luật một lối câu rất bó buộc về từng câu, từng chữ, chặt chịa về luật
bằng trắc, về phép đối câu chữ. Vì khuôn khổ luật pháp phiền phức nên người
làm thơ phải đứng một vị trí eo hẹp lúng túng ”. [2;9]
Hồ Văn Hảo: tuy không bút chiến khẩu chiến gay gắt với phái thơ cũ
nhưng ông có hai bài thơ góp vào tiếng nói của thơ mới đó là bài Con nhà thất
nghiệp và bài Tình thâm.
- Đối lập với các quan điểm trên là những ý kiến trái ngược, bênh vực
thơ cũ:
Trước sự tấn công của phái thơ mới, phái thơ cũ cũng phản kích lại một
cách quyết liệt. Các nhà thơ cũ cho rằng thơ mới không tao nhã. Bài thơ đăng
trên An Nam tạp chí số 6.
Ông Tản Đà nhắn bạn Phong hóa
TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG ĐẤT NƯỚC TRONG THƠ MỚI
T
r
ần Thị Giang
–
Đ
HSP Văn S
ử
- Lưu Trong Lư là người diễn thuyết hăng hái nhất bênh lực thơ mới và
là người có công khai sinh ra thơ mới. Bài thơ Đường đời và vắng khách, thơ
là những bài thơ mới của Lưu Trọng Lư xuất hiện sau bài Tình già của Phan
Khôi.
TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG ĐẤT NƯỚC TRONG THƠ MỚI
T
r
ần Thị Giang
–
Đ
HSP Văn S
ử
K50
http://www.violet.vn/conghau158
13
Thơ Lưu Trọng Lư là một lối thơ quen thuộc của dân tộc, một chút xưa
của thơ Đường. Lưu Trọng Lư đến với thơ bằng cả tâm hồn sâu mộng của
mình. Trong thơ ông, mọi hình ảnh, moi âm thanh của cuộc sống đều được
vào thế giới thơ mộng. Chỉ một làn nắng mai, một tiếng chim hót cũng đưa thì
sẽ trở về dĩ vẵng, thế giới của kỹ niệm buồn thương. Lưu Trọng Lư rất nhạy
cảm với những rung động mơ hồ của thiên nhiên, của nội tâm. Từ tiếng thổn
thức của trăng mờ “còn đâu ánh trăng mờ - Mờ trên làn tóc rối, đến con nai
vàng ngơ ngác trong rừng thu cũng đem lại một cảm giác buồn man mác
trong thơ ông. Hay đôi mắt buồn của người đẹp bên cửa sổ. Đôi mắt em lặng
buồn. Nhìn thôi mà chẳng nói tất cả đều chập chờn như trong mơ và bàng
bạc một mối sầu hoài cảm. Lưu Trọng Lư hầu hết đều diễn tả những nỗi buồn
bên trong. Tiếng thổn thức của mùa thu, cái rạo rực trong lòng người chinh
làm cho người ta tin cậy và tương lai của thơ mới. Thế Lữ xuất hiện được
Hoài Thanh đánh giá rất cao: “Độ ấy thơ mới vừa ra đời. Thế Lữ như vầng
sao đột hiện ánh sáng chói khắp cả trời thơ Việt Nam”. Thơ Thế Lữ tiêu biểu
cho tiếng nói của cái tôi, thơ mới trong thời kỳ đầu. Nó hăng hái tự khẳng
định, vẫn ít nhiều còn dè dặt, tình yêu còn mức độ chứ chưa buông tuồng, ích
kỷ trắng trợn như về sau. Thế Lữ nói đúng cái tôi trong thơ mới chỉ kêu gọi
yêu đi, yêu mãi bạn lòng ơi.
Thơ Thế Lữ thời kỳ đầu say sưa, thoát ly hiện thực, nhưng những sự kiện
lớn lao của lịch sử còn dư vang trong tâm trí. Thơ Thế Lữ có ấp ủ một tinh
thần dân tộc, một khát khao tự do. Thời kỳ đầu tinh thần dân tộc đó chính là
tiếng vọng lạc xa xôi của phong trào (1930-1931).
Thơ Thế Lữ diễn tả nỗi buồn, Thế Lữ đưa vào thơ Việt Nam cái buồn vô
cớ, cái buồn thi vị, lúc đó cái buồn đang là cái mốt. Cái buồn trở thành một
thứ trang sức của trí thức tiểu tư sản. Cái buồn bàn bạc khắp nơi, cả trong giấc
mộng, trong cảnh tiên:
Tiếng đưa hiu hắt bên sông
Buồn ơi xa vắng mênh mông là buồn
(Tiếng sáo Thiên thai).
Thơ mới nói chung là buồn, cái buồn nhiều khi lẫn lộn với cái bi quan
yếu đuối. Xưa nay những áng thơ hay trong quá khứ hầu hết là buồn: Thơ
Cung oán ngâm, Chính phụ ngâm, Truyện Kiều đều buồn. Nhà phê bình văn
học Bielinxki: “cái buồn chính là cái làm nên sự hấp dẫn của thơ ca ”
Cái buồn cũng có năm bảy đường, cái buồn của Thế Lữ là cái buồn mệt
mỏi bất lực. Cái buồn xa vắng mênh mông, nước lặng mây ngừng chưa phải
là cái buồn thê thảm hải hùng như sau này.
1.3.2. Thời kỳ 1936 - 1939.
“Bước sang năm 1936, sự toàn thắng của thơ mới đã rõ rệt” (Thi nhân
Việt Nam) cuộc tranh luận mới - cũ đến cây căn bản chấm dứt. Thơ mới
chiếm lĩnh trọn vẹn thi đàn. Đội ngũ những nhà thơ mới ngày càng đông đảo,
non lặng lẽ này”(Hoài Thanh).
Giữa lúc mọi người đang còn bàng hoàng trước sức chói lọi rực rỡ của
Xuân Diệu thì Huy Cận xuất hiện. Lửa thiêng ra đời gây sự ngạc nhiên cho
nhiều người. Lửa thiêng thấm đậm nỗi buồn mênh mang tê giá, mối sầu ảo
não từ vạn kỉ của một tâm hồn giàu suy nghĩ, hay chiêm nghiệm về thế cuộc,
người đời.Tình yêu trong tập thơ này là thứ tình buồn sầu, đậm nỗi nhớ
thương và hay ngậm ngùi chan chứa.
Trong giai đoạn này, Nguyễn Bính cũng là một thi sỹ ngày càng được
đông đảo công chúng mến mộ. Về sức phổ cập, tính đại chúng của thơ có lẽ
không ai bằng Nguyễn Bính. Con người Việt Nam ở mọi thời, mọi lứa tuổi,
nghề nghiệp khác nhau đều có thể đọc và thích thơ Nguyễn Bính bởi tiếng thơ
của ông làm sống dậy con người nhà quê, cái hồn quê, tình quê sâu thẳm
trong mình. Viết về những con người thôn quê, thơ Nguyễn Bính mang nỗi
TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG ĐẤT NƯỚC TRONG THƠ MỚI
T
r
ần Thị Giang
–
Đ
HSP Văn S
ử
K50
http://www.violet.vn/conghau158
16
buồn thầm kín mà ngấm dặm. Than về tình cảnh tha hương, lở dở của mình,
thơ Nguyễn Bính nhiều lúc ngậm ngùi day dứt, bi phẫn.
Sừng sững một phương trời để làm nên trường thơ Loạn là Hàn Mặc Tử,
–
Đ
HSP Văn S
ử
K50
http://www.violet.vn/conghau158
17
“Xếp bản ngã lại như giáo gươm ta xin đầu hàng tất cả”. Đầu tháng quy
luật biến thiên của trơi đất, vũ trụ, nhà thơ chán ngán trước sự vô nghĩa của
kiếp người, nhiều khi rơi vào trạng thái tâm thần mất thăng bằng, hoang mang
không hiểu nổi chính mình. Từ cõi âm và hỗn loạn, Chế Lan Viên lại trở lên
“lạc giữa sao trời”, ngày càng thoát xa hiện tại, ngày càng rơi vào những cơn
mộng mị huyền bí. Còn Vũ Hoàng Chương thì cất giọng than sướt mướt cho
kiếp sống lạc loài, tự cảm thấy mình sinh nhầm thế kỉ. Chán chường trước
tình yêu tan vỡ, công danh lở dở, Vũ Hoàng Chương đã tìm đường giải thoát
trong những cơn say. Nhà thơ thường triền miên trong những cơn say, bước
nhảy đê mê và điên loạn để hòng quên tất cả.
Trong thời kỳ này, Bích Khê, Đình Hùng với khát vọng cách tân thơ đã
tiến gần đến chủ nghĩa tượng trưng với lối thơ giàu biểu tượng, giàu chất
nhạc. Nhóm Xuân Thu nhã tập ra đời với lối thơ khó hiểu (hủ nút, tắc tị) gồm
Phạm Văn Hạnh, nguyễn Xuân Sanh, Đoàn Phú Tứ. Đến đây, cái tôi thơ mới
tuyệt giao với hiện thực, với lý trí mà trở về cùng cõi vô thức, đề cao sự linh
diệu của hành động sáng tạo thơ, chất nhạc huyền bí của thơ.
Vào giai đoạn này của thơ mới, đời sống dân tộc có những chuyển biến
đặc biệt cho sự quan tâm đến thơ của độc giả không còn như trước. Điều này
khiến cho người ta có cái ấn tượng rằng thơ mới đã cùng đường.
1.4. Một số đặc điểm chung của thơ mới
thống và hiện đại. Cuộc tổng hợp đó trước hết thể hiện trên bình diện hình
thức nghệ thuật.
* Về thể loại: Dù những xung đột giữa thơ mới và thơ cũ trước hết diễn
ra trên bình diện thể loại, nhưng có thể nói thơ mới là một bước kế thừa
những thể loại đã ổn định của thơ ca Việt Nam thời trung đại.
- So với thơ ca truyền thống, thơ mới nhìn chung tự do hơn, số câu trong
một bài thơ thường không hạn định, chịu ảnh hưởng của thơ phương Tây, một
bài thơ mới thường được chia thành khổ, số lượng khổ thơ thường không giới
hạn.
- Mặc dù hướng đến sự tự do hình thức nhưng thơ phá thể và thơ tự do
không phải là những hình thức phổ biến của thơ mới. Thơ mới thường hướng
đến sự ổn định về số âm tiết trong câu thơ, có thể từ hai đến trên 10 âm viết
nhưng phổ biến là thơ 7,8 và 8 chữ, nhìn từ gốc độ thể loại, thơ mới không
chống thơ Đường luật, thơ song thất lục bát bị giải thể, hát nói trở thành thơ 8
chữ và thơ lục bát được duy trì, có những nhà thơ gần như chuyên sáng tác
thơ lục bát (Nguyễn Bính).
- Các hình thức hiệp vần của thơ mới khá phong phú, mang dấu vết của
những lối gieo vần của thơ tuyền thống.
-
*. Một hiện tượng hình thức đáng lưu ý của thơ mới, đó là cái mà Hoài
Thanh gọi là “sự xâm nhập của văn xuôi vào địa hạt của thơ”. Hiện tượng này
được thể hiện như sau:
- Sự xuất hiện dày đặc của các dạng hư từ, đại từ trong câu thơ.
TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG ĐẤT NƯỚC TRONG THƠ MỚI
T
r
ần Thị Giang
–
Đ
1.4.2. Thơ mới - Một phương thức cảm thụ thế giới mới:
Thơ mới biểu hiện một cuộc cách mạng của thư duy thơ: đặt cái tôi cá
nhân ở trung tâm cảm thụ thế giới. Trong thơ mới, có một sự giao hòa giữa
thế giới nội cảm (cảm xúc, cảm giác, tâm trạng) của chủ thể trữ tình với thế
giới ngoại cảm, có sự nới rộng những biên độ của sự cảm thụ thể giới bằng
việc kết hợp các giác quan một cách kỳ lạ:
TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG ĐẤT NƯỚC TRONG THƠ MỚI
T
r
ần Thị Giang
–
Đ
HSP Văn S
ử
K50
http://www.violet.vn/conghau158
20
- Hiện tượng nhân hóa, nội cảm hóa ngoại cảnh làm cho ngoại cảnh
nhuốm màu cảm xúc con người.
Nắng chia nữa bãi, chiều rồi
Vườn hoang trinh nữ khép đôi lá sầu
Sợi buồn con nhện giăng mau
Em ơi hãy ngủ anh hầu quạt đây
(Ngậm ngùi - Huy Cận)
- Thiên nhiên trong thơ mới là thứ thiên nhiên rạo rực những cảm xúc
con người.
Vườn cười bằng bướm hót bằng chim
http://www.violet.vn/conghau158
21
Trăng nhập vào giây cung nguyệt lạnh
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần
Đàn buồn, đàn lạnh, ôi đàn chậm!
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân
(Nguyệt cầm - Xuân Diệu)
1.4.3. Thơ mới - Bản ghi chân thực hiện thực tinh thần của con người cá
nhân trước cách mạng.
Trong thời điểm khởi đầu của phong trào thơ mới, Thế Lữ viết tuyên
ngôn cho một cuộc cách mạng thơ ca:
Tôi là kẻ bộ hành phiêu lãng
Đường trần gian xuôi ngược để vui chơi
Tìm cảm giác hay trong tiếng khóc câu cười
Trong lúc gian lao trong giờ sung sướng
Khi phấn đấu cũng như hồi mơ tưởng
Tôi yêu đời cùng với cảnh lầm than
Cảnh thương tâm, ghê gớm hay dịu dàng
Cảnh rực rỡ ái ân hay dữ dội
(Cây đàn muôn điệu)
Thơ mới là tấm lòng của một tâm hồn dộng mở với thế giới, một tâm hồn
được cởi bỏ khỏi mọi ràng buộc, chính vì vậy, từ góc độ loại hình, thơ mới
thuộc loại thơ trữ tình thường lấy thiên nhiên và tình yêu làm đề tài phản ánh.
Chính vì vậy, yếu tố chi phối sự vận động của tác phẩm thơ là mạch cảm xúc,
là đời sống nội tâm của chủ thể trữ tình.
* Nỗi buồn, sắc thái thẩm mỹ chủ đạo của thơ mới.
Xuất phát từ những nguyên nhân có tính lịch sử văn hóa và xã hội (một
Và cũng có khi cái buồn nhuốm màu bi quan, bế tắc, rã rời suy sụp,
nhuốm màu sắc sa đọa như trong Vũ Hoàng Chương.
Ngoài ba mươi tuổi duyên còn hết
Một ván cờ thua ngã bóng chiều
(Ngoài ba mươi tuổi)
Tất nhiên, trong thơ mới cũng có những màu sắc trong sáng, êm nhẹ,
những khoảng sáng vui tươi khi con người cá nhân tìm về với thực tại, với thế
giới con người, với tuổi trẻ, với quê hương đất nước.
* Gắn liền với nỗi buồn là sự cảm quan về sự cô độc, sự lạc loài, sự bé
nhỏ và cả cảm giác bất bằng lòng, thậm chí đến mức đối lập gay gắt giữa con
người với thế giới hiện tại.
Cảm giác bao trùm Thơ mới là một sự bất bình sâu xa với thực tại. Có
một sắc thái bi quan ám ảnh cái nhìn về thế giới của nhiều tác giả Thơ mới.
Hiện thực hiện lên trong mắt họ là tầm thường, giả dối, đau khổ.
Quanh quẩn mãi với vài ba dáng điệu
TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG ĐẤT NƯỚC TRONG THƠ MỚI
T
r
ần Thị Giang
–
Đ
HSP Văn S
ử
K50
http://www.violet.vn/conghau158
23
Tới hay lui cũng chừng ấy mặt người
ần Thị Giang
–
Đ
HSP Văn S
ử
K50
http://www.violet.vn/conghau158
24
Mặc Tử) hoặc tiêu cực hơn cả, tìm đến với trụy lạc và lãng quên (Vũ Hoàng
Chương).
* Không thể phủ nhận trong thơ mới có một tình yêu thiết tha đối với
cuộc sống, một khát vọng thay đổi. Tình cảm đó được biểu hiện dưới hai hình
thức:
Nỗi khát khao đam mê tận hưởng tình yêu và hạnh phúc hiện tại (Vội
vàng - Xuân Diệu).
Hình ảnh người khách chinh phu, khát vọng lên đường (Tống biệt thành -
Thâm Tâm).
Nhìn chung đến thời kì Thơ mới “cái tôi” cá nhân trỗi dậy mạnh mẽ. Thơ
mới là tiếng nói của “cái tôi” cá nhân.Nhưng ẩn bên trong tiếng nói cá nhân
ấy là tình cảm yêu quê hương đất nước sâu sắc của các nhà Thơ mới. Đó
chính là cơ sở để chúng tôi tiến hành nghiên cứu chương hai của tiểu luận.
cách mạng mới thể hiện tình yêu quê hương trong những trang thơ mà tình
yêu ấy luôn thấp thoáng, luôn ẩn hiện trong các sáng tác về tình yêu, về nỗi
buồn của các nhà thơ mới. Họ gặp nhau ở một điểm: đó là tình cảm yêu nước
kín đáo.
2.1. Nỗi buồn của người dân mất nước
Sống trong hoàn cảnh nước mất nhà tan, các nhà thơ mới nhìn chung đều
mang tâm trạng buồn, chán nản. Đó là nỗi buồn của những cảnh đời nô lệ.
Suốt ngày quanh quẩn trong cuộc sống tù túng, tầm thường, giả dối. Họ đã lên
tiếng phản kháng lại, muốn thoát ra khỏi những cảnh “không đời nào thay
đổi”:
Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu
Ghét những cảnh không đời nào thay đổi
Những cảnh sửa sang, tầm thường giả dối
Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng.
(Thế Lữ)
Nhưng càng vùng vẫy để thoát ra khỏi cuộc sống tù túng đó thì như càng
bị bủa vây thêm, bị sa vào lưới:
Ta là con nai bị chiều đánh lưới
Không biết đi đâu, đứng sầu bóng tối
(Xuân Diệu)
Thơ mới nói chung là buồn. Đó là tiếng thở dài u uất, đau đớn và bế tắc
vì hoàn cảnh xã hội. Nhưng nỗi buồn đó không phải là tiêu cực. Nếu coi sự cô
đơn, nỗi buồn thường thấy trong văn chương lãng mạn nhiều nước và nó được