Đặc điểm môi trường trầm tích tầng miocen sớm qua đường cong địa vật lý giếng khoan của cấu tạo a bồn trũng malay thổ chu - Pdf 23

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA ĐỊA CHẤT
  
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH : DẦU KHÍ
ĐẶC ĐIỂM MÔI TRƯỜNG TRẦM TÍCH
TẦNG MIOCENE SỚM QUA ĐƯỜNG
CONG ĐỊA VẬT LÍ GIẾNG KHOAN CỦA
CẤU TẠO A BỒN TRŨNG MÃ LAY - THỔ
CHU

GVHD : Cô TRẦN THỊ KIM PHƯNG
SVTH : NGUYỄN HỒNG LIÊN

TP. HCM, THÁNG 1 NĂM 2007.
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Hồng Liên

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
PHẦN I: SƠ LƯC VỀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT BỒN TRŨNG MÃ LAY–
THỔ CHU 4
I.1 : Vò trí đòa lí và lòch sử nghiên
cứu 4
I.2 : Đặc điểm đòa tầng 8
I.3 : Đặc điểm kiến tạo 13
I.4 : Lòch sử phát triển đòa chất 15
I.5 : Tiềm năng dầu khí 19
PHẦN II: ĐẶC ĐIỂM MÔI TRƯỜNG TRẦM TÍCH TẦNG MIOCENE
SỚM QUA ĐƯỜNG CONG ĐỊA VẬT LÍ GIẾNG KHOAN CỦA
CẤU TẠO A BỒN TRŨNG MÃ LAY – THỔ CHU


được độ chính xác cao cần kết hợp với các phương pháp khác như phân tích
mẫu lõi, thạch học, cổ sinh, đòa tầng… và phải được tiến hành ở nhiều giếng
khoan, nhiều khu vực khác nhau để nhận diện tướng đá.
Khoá luận này gồm hai phần. Phần một giới thiệu sơ lược về đặc điểm
đòa chất bồn trũng Mã Lay – Thổ Chu. Phần hai nghiên cứu về môi trường
trầm tích tầng Miocene sớm qua đường cong đòa vật lí giếng khoan của cấu
tạo A bồn trũng Mã Lay – Thổ Chu .
Do còn nhiều hạn chế về kiến thức và thời gian thực hiện khoá luận tốt
nghòêp có hạn, nên chắc chắn trong quá trình thực hiện không thể tránh khỏi
những thiếu sót, tôi mong sẽ nhận được những nhận xét góp ý chân thành để
đề tài được hoàn thiện hơn.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn thầy quý thầy cô trong khoa Đòa chất đã
trang bò vốn kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập và tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi thực hiện khoá luận này. Đặc biệt, tôi xin gởi lời cảm ơn
chân thành đến Cô Trần Thò Kim Phượng, người đã hướng dẫn tôi hoàn thành
luận văn này. Cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã quan tâm, giúp đỡ, hỗ
trợ cho tôi trong cuộc sống cũng như trong học tập.
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 1 năm 2007
Nguyễn Hồng Liên

Trang 4
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Hồng Liên

PHẦN I :
SƠ LƯC VỀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT
BỒN TRŨNG MÃ LAY - THỔ CHU
I.1. V Ị TRÍ ĐỊA LÍ VÀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VÙNG :
I.1.1. Vò trí đòa lí
Bồn trũng Mã Lay – Thổ Chu nằm trong vònh Thái Lan thuộc lãnh thổ

01 do công ty Esso thực hiện đã cho dòng dầu thương mại. Từ đây bắt đầu
một thời kì mới của công tác tìm kiếm thăm dò trong vùng, và kết quả là hàng
loạt các giếng khoan đã được phát hiện ra dầu khí như giếng khoan North
Larut - 01, Bunga - 01…
Cho tới nay công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí hầu như chiếm diện tích
chủ yếu của thềm lục đòa Tây Nam Việt Nam.
I.1.2.1. Công tác khảo sát đòa chất.
Khoảng trước năm 1979 các nhà thầu Liên Xô tiến hành khảo sát
khoảng 625km tuyến đòa chấn 2D, tài liệu thu được chỉ có giá trò tham khảo.
Năm 1990, công ty Fina đã kí hợp đồng khảo sát đòa chấn lựa chọn với
Petrovietnam gọi tắt là SO – PSC bao gồm các lô BN, BC, NM, NM1, NM3,
NM4 với tổng diện tích là 26.644km
2
với mạng lưới đòa chấn 4×4km, tài liệu
cho thấy một kết quả tốt, riêng các lô 46, 50, 51 chiếm khoảng 1.789km tuyến
đòa chấn.
Năm 1991, đã phủ được 11.076km tuyến đòa chấn 2D. Theo hợp đồng
SO - PSC, công ty Fina đã chọn lô BS, NM, NM1 với tổng diện tích

Trang 7
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Hồng Liên

11.934km
2
để tiến hành công tác thăm dò tiếp theo , tiếp tục phủ 3.990km đòa
chấn 2D với mạng 4×4km.
Năm 1992, Fina tiến hành thăm dò tỉ mỉ 3 lô 46, 50, 51. Trên cùng một
số có triển vọng, với tổng số tuyến đòa chấn 2D trên 500km với mạng lưới
khảo sát từ 4×4km lên đến 1×2km, đặc biệt là mạng 5×2km. Cùng năm 1992,
sau khi tiến hành những giếng khoan đầu tiên, Fina đã thực hiện chương trình

A.V.O (Amplitude Versus Offset: sự biến đổi biên độ theo khoảng cách) góp
phần dự báo khá chính xác các đới có khả năng chứa dầu khí.
Những tầng phản xạ chính như: fs165, fs120, fs100, fs70b, fs40, đáy sét
“K”, mặt móng đã được xác đònh, minh giải và vẽ bản đồ đẳng sâu với tỉ lệ
1/25.000 giúp khái quát cấu trúc toàn khu vực.
Bản đồ các tầng phản xạ được xác đònh và vẽ cho toàn bộ khối đòa
chấn 3D ở tỉ lệ 1/50.000 được minh giải chi tiết hơn (mạng lưới 5x10km) để
thiết lập bản đồ tương tự và chuyển đổi ra độ sâu ở tỉ lệ 1/25.000 làm cơ sở
tính toán tiềm năng dầu khí tại chỗ cũng như xác đònh vò trí giếng khoan.
I.2. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA TẦNG :
Trong phạm vi bồn trũng Mã Lay _ Thổ Chu đòa tầng được chia thành
hai phần cơ bản (hình I.2) :
- Thành tạo móng trước Đệ Tam
- Thành tạo trầm tích Đệ Tam
I.2.1. Thành tạo móng trước Đệ Tam
Đá móng trước Đệ Tam là phần nằm sâu của bồn trũng nên có rất ít
thông tin được biết. Theo tài liệu khoan của công ty Fina và Unocal thực hiện
ở các đới nâng thuộc rìa Bắc Đông Bắc, đá móng của bồn trũng chủ yếu là đá
trầm tích biến chất có tuổi Jura - Creta với một vài thể đá magma xâm nhập
và trầm tích biến chất có tuổi Paleozoic; ngoài ra, một ít đá cabonat cũng
được bắt gặp. Theo nghiên cứu ở giếng khoan Kim Quy – 1X, đá móng trước
Đệ Tam bao gồm sét, bột và một ít cát kết đã bò biến chất có tuổi Creta. Sự

Trang 9
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Hồng Liên

hiện diện của mặt bất chỉnh hợp góc lớn trên bề mặt móng cho thấy một thời
gian dài đá móng đã bò nâng lên và bò xói mòn mạnh mẽ.
I.2.2. Thành tạo trầm tích Đệ Tam
Các đơn vò đòa tầng trầm tích của khu vực nghiên cứu được sử dụng

Tập J
Trầm tích tập J phủ bất chỉnh hợp trên trầm tích tập K, tại một số giếng
khoan thuộc khối nâng Kim Long trầm tích tập J phủ bất chỉnh hợp trên bề
mặt móng. Tập J đại diện bởi các tướng trầm tích sông – đầm hồ lắng đọng
trong suốt giai đoạn cuối của pha lún võng cho đến giai đoạn đầu của pha sụt
lún nhiệt. Phần dưới tập J bao gồm các tập sét đầm hồ có bề dày lớn đại diện
cho giai đoạn cuối của pha lún võng. Phần trên là phần chủ yếu của tập J bao
gồm các trầm tích thô hạt tướng sông chủ yếu lắng đọng trong giai đoạn đầu
của pha lún võng nhiệt.
Bề dày trầm tích của tập thay đổi từ 680 - 1160m với thành phần chủ
yếu là sét kết màu đỏ xen kẹp với các lớp cát, bột kết, đôi chỗ hiện diện một
ít lớp than và sét giàu vật chất hữu cơ, có thể được tích tụ ở phía trên khu vực
đồng bằng ven biển. Càng về phía Đông, trầm tích tập J càng chòu ảnh hưởng
bởi yếu tố sông.
Tập I
Trầm tích tập I phủ trực tiếp trên tập J, tại một số giếng khoan thuộc
khối nâng Kim Long trầm tích tập I phủ bất chỉnh hợp trên mặt móng. Các tập
trầm tích được lắng đọng trong môi trường sông hồ cho đến tam giác châu (?)
thành tạo trong quá trình sụt lún nhiệt. Trầm tích tập I được đặc trưng bởi các
lớp cát mòn hạt và các lớp than, sét giàu vật chất hữu cơ là một trong những
tầng sinh của khu vực. Đánh dấu trong giai đoạn tập I là sự kiện mực nước

Trang 11
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Hồng Liên

biển xuống thấp sau đó là các giai đoạn biển tiến cho các tập trầm tích
Miocene giữa.
Phụ thống Miocene giữa
Các tập trầm tích đựơc đặc trưng bởi tướng sông – tam giác châu tạo
thành trong suốt quá trình sụt lún nhiệt. Giai đoạn này thành tạo các tập trầm

Khmer phía Đông Bắc, cung Khorat và cung Tengol phía Nam của bồn.
Được hình thành vào pha đầu tiên của quá trình tách giãn biển Đông
vào cuối Oligocene muộn, do sự quay của lục đòa cổ Sunda theo trục nằm gần
vò trí của vònh Thái lan hiện tại. Bể thuộc dạng rift và bò ảnh hưởng mạnh mẽ
bởi hoạt động trượt bằng và tách giãn trong vònh Thái Lan.
Trong bồn hình thành nhiều đòa hào hướng Tây Bắc – Đông Nam, tiếp
theo bể trải qua giai đoạn lún chìm vào Miocene sớm và nén ép từ Miocene
giữa đến Pliocene, Pliestocene.
Hệ thống đứt gãy thuận phương Tây Bắc – Đông Nam và Bắc Nam
khống chế các đặc điểm trầm tích, tạo cấu trúc kiểu sụt bậc nghiêng về phía
trung tâm bồn trũng và hình thành các đòa hào và bán đòa hào xen kẽ nhau.
Hệ thống đứt gãy này bắt đầu hình thành hoạt động vào cuối Eocene và tái
hoạt động vào cuối Miocene, nó đóng vai trò chính trong việc hình thành và
phát triển các nếp lồi theo hướng Tây Bắc – Đông Nam.
Ngoài ra còn xuất hiện hệ thống đứt gãy theo hướng Đông Bắc – Tây
Nam có biên độ nhỏ. Hệ thống này là quá trình tái hoạt động bất đồng nhất
giữa các đứt gãy và đóng vai trò tạo các nếp lồi theo hướng Tây Nam – Đông
Bắc.
Hầu hết các đứt gãy là đứt gãy thuận hoạt động sau trầm tích, tuổi các
đứt gãy này vẫn chưa được xác đònh một cách cụ thể, song có thể giả thuyết
là chúng hoạt động vào cuối Eocene và tái hoạt động vào cuối Miocene.

Trang 14
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Hồng Liên Hình I.3 : Các yếu tố kiến tạo bồn trũng Mã Lay – Thổ Chu

Trang 15
(Polachan và Sattayark, 1989)

Trang 16
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Hồng Liên

độ sụp lún tăng lên tạo ra không gian lắng đọng lớn hơn sự cung cấp vật liệu
trầm tích, các hồ phát triển ở các phụ bồn, nơi có cấu trúc khép kín và lượng
mưa dồi dào (khá phổ biến trong khu vực nhiệt đới của Sunda). Trầm tích
đầm hồ lắng đọng các lớp sét dày có khả năng sinh dầu ở đáy hồ và các tướng
hồ đi kèm như turbidit hồ, tam giác châu ven hồ, tướng ven hồ. Phần trên
cùng là lớp trầm tích đại diện cho đới chuyển tiếp từ đồng tạo rift sang giai
đoạn đầu của pha lún võng, đó là tập K. Tập này được phủ bởi một tập sét hồ
phân bố rộng trong toàn khu vực “K shale”.
Giai đoạn kế tiếp diễn ra ngược lại khi sự cung cấp vật liệu trầm tích
bắt đầu vượt quá không gian lắng đọng do sụp lún. Các hồ được lấp đầy và trở
nên nhỏ, nông dần. Các hồ này có thể tồn tại sau khi tách giãn đã ngừng hẳn
trong giai đoạn sau rift do phân cách đòa hình, nhưng sau đó sẽ được lấp đầy
hoàn toàn và biến mất bởi sự hiện diện của các trầm tích tướng sông ngòi và
châu thổ.
Các trầm tích sông ngòi tập J là đại diện cho giai đoạn đầu của sự sụp
lún do nhòêt sau tạo rift. Các trầm tích này chủ yếu là trầm tích lục đòa như cát
kết xen kẹp sét kết màu đỏ, rất ít than và sét giàu vật chất hữu cơ, hình thành
trong môi trường chủ yếu là phần trên của đồng bằng ven biển. Càng về phía
Đông trầm tích tập này càng chòu ảnh hưởng bởi sông.
pha cuối của sự sụp lún do nhòêt sau tạo rift, khi đó bề mặt đòa hình
khá bằng phẳng, ngay cả vùng biên của rift cũng đã được phủ kín. Lúc này
các trầm tích gần bờ bắt đầu phát triển với các tướng thay đổi phụ thuộc vào
sự nâng lên hay hạ xuống của mực nước biển. Tập I đến E đặc trưng bởi các
trầm tích hạt mòn. Theo từng giai đoạn nâng lên của mực biển (highstand) hay
hạ xuống của mực biển (lowstand), các tập cát chứa thay đổi hướng phân bố,
dạng hình học trong không gian ba chiều. Than và sét giàu vật chất hữu cơ
được thấy nhiều trong các nhóm đòa tầng I và H và là một trong các tầng sinh

* Sét kết sinh dầu tướng đầm hồ trong Oligocene
Thành tạo Oligocene phủ trên móng trước Đệ Tam đến nóc tầng K
được coi là tầng đá mẹ có tiềm năng và là tầng đá mẹ chính sinh dầu. Trầm
tích Oligocene có hàm lượng vật chất hữu cơ (TOC) cao, kerogen thuộc loại I,
II thuận lợi cho việc sinh dầu. Ở trung tâm và phía Bắc của bể, tầng đá mẹ
này bò chôn vùi nên đã đưa vào cửa sổ sinh khí condensat và khí khô.
Theo các kết quả đã phân tích thì dầu khí trong trầm tích Oligocene là
dầu tự sinh trong các trầm tích mòn hạt và di chuyển tới đá chứa. Vật chất hữu
cơ trong trầm tích Oligocene thuộc loại trung bình đến tốt và nằm trong đới
sinh dầu.
* Trầm tích Miocene:
Gồm các tập sét, bột có nguồn gốc đầm hồ, châu thổ và đồng bằng
ngập lụt. Trong Miocene sớm và Miocene giữa là các đá mẹ có khả năng sinh
dầu khí nhưng thiên về khí nhiều hơn. Kerogen thuộc loại II, III.
Tập trầm tích Miocene sớm – giữa là các tập sét than, tướng châu thổ,
vũng vònh và được cho là nguồn sinh khí cơ bản ở phía Bắc bể Mã Lay và
trũng Pattani, TOC dao động 2 – 5%.
Qua kết quả phân tích trên cho thấy: vật chất hữu cơ trầm tích Miocene
có hàm lượng vật chất hữu cơ trung bình, các tập đá mẹ nằm trong ngưỡng tạo
dầu khí thiên về khí hơn. Dầu khí được xem là dầu tại sinh trong trầm tích hạt
mòn và di chuyển đến tầng chứa.
Với các chỉ tiêu đánh giá tầng trầm tích sinh dầu khí cho thấy rằng
trầm tích dạng bột kết, sét kết được tích tụ trong môi trường đầm hồ, châu thổ,
đồng bằng ngập lụt và biển nông có tuổi Oligocene và Miocene sớm, giữa đạt
tiêu chuẩn cho tầng sinh dầu khí.

Trang 20
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Hồng Liên

I.5.2. Tầng chứa :

giếng khoan.
I.5.3 . Tầng chắn :
Các thành tạo chắn giữ dầu khí trong bồn Mã Lay – Thổ Chu được
phân thành hai loại chủ yếu :
* Các thành tạo chắn lục nguyên hạt mòn :
Các tập cát kết chứa dầu, khí trong khu vực lô 46, lô 51, và lô PM-3
đều được chắn giữ bởi các trầm tích lục nguyên hạt mòn. Các tập sét nằm
phân bố không đều, chúng chỉ đóng vai trò chắn điểm và hàm lượng sét dao
động từ 75 - 95%. Độ hạt nhỏ hơn 0,001mm do điều kiện lắng đọng trong môi
trường trầm tích châu thổ, các thân cát chứa sản phẩm không liên tục, bề dày
không ổn đònh nên việc phân chia và xác đònh các tập hợp có khả năng chắn
khu vực rất hạn chế.
* Yếu tố kiến chắn tạo:
Trong bình đồ cấu trúc cho cả khu vực, các hệ thống đứt gãy phát triển
khá sớm tới cuối Miocene, do đó yếu tố chắn kiến tạo ở đây phát triển khá
quan trọng.
I.5.4. Bẫy chứa :
Việc xác đònh các bẫy chứa dầu trong khu vực nghiên cứu chủ yếu dựa
trên bản đồ cấu trúc, nhưng do tính phức tạp của tầng chứa - không phải là tập
cát lớn liên tục mà bao gồm nhiều dải cát có bề dày nhỏ phân bố không liên
tục theo chiều sâu và chiều rộng, nên cho đến nay vẫn không thể xác đònh
được sự phân bố của các tập chứa dầu. Mô hình đòa chất cho các vỉa chứa cát
lòng sông này là những bẫy kết hợp đòa tầng và những đứt gãy khép kín cấu
trúc.

Trang 22
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Hồng Liên

PHẦN II :


Có thể nói tài liệu đòa vật lí giếng khoan là nguồn tài liệu quý giá đối
với hầu hết các nhà đòa chất dầu khí bởi :
- Là nguồn tài liệu duy nhất cung cấp thông tin chính xác về độ sâu, bề
dày biểu kiến cũng như bề dày thật của lớp.
- Cung cấp nguồn thông tin gần như liên tục mà những mẫu lõi hay
mẫu sườn không thể vì giá thành kinh tế quá cao.
- Cho thông tin về đặc tính của đá theo từng điều kiện độ sâu.
- Cho thông tin về chất lượng, số lượng cũng như tính liên tục của
những đối tượng đòa chất hòên diện trong mặt cắt giếng khoan.
- Tài liệu đòa vật lí giếng khoan dễ bảo quản cho công tác giải đoán và
nghiên cứu với những thiết bò mới, tham số mới và những ý kiến mới; trong
khi đó tài liệu mẫu rất dễ vỡ và hư hỏng trong quá trình lấy mẫu và phân tích
mẫu.
- Thông tin cung cấp gần như nhanh nhất so với các nguồn thông tin vì
được thực hiện trong suốt quá trình khoan thăm dò.
Nhìn chung tài liệu đòa vật lí giếng khoan cung cấp một lượng lớn
thông tin đòa chất không những chi tiết, chính xác mà còn mang tính liên tục.
Tuy nhiên, để hiểu rõ và giải đoán chính xác những thông tin này cần có một
nền tảng kiến thức và thiết bò minh giải hỗ trợ.
II.1.2. Phương pháp nghiên cứu trên tài liệu đòa vật lí giếng khoan
Phương pháp đòa vật lí giếng khoan sử dụng đường cong Gamma Ray
(GR) để minh giải tướng trầm tích.
Việc giải đoán GR cho thân cát được làm như sau : nhận diện thân cát
và sau đó minh giải các tướng của thân cát này bằng cách nghiên cứu các
dạng đường cong GR, các kiểu ranh giới dưới và trên (chuyển đổi từ từ hay
đột ngột của giá trò GR) và bề dày của lớp cát. Các kiểu đường cong liên quan

Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status