Báo cáo thực tập sản xuất chuyên nghành tìm kiếm – thăm dò - Pdf 23

Báo cáo thực tập
MỞ ĐẦU
Thực tập sản xuất là đợt thực tập bắt buộc và rất cần thiết đối với sinh viên
chuyên nghành địa chất nói chung và sinh viên chuyên nghành tìm kiếm – thăm dò nói
riêng.
Kỳ thực tập nhằm cũng cố những hiểu biết lý thuyết đã học ở trường và rèn
luyện lỹ năng công tác địa chất ngoài thực địa của người kĩ sư địa chất. Không chỉ học
tập và củng cố lý thuyết, trong đợt thực tập này sinh viên phải trực tiếp tham gia lao
động sản xuất để rèn luyện kỹ năng tay nghề nhằm đạt được trình độ tương ứng với cán
bộ kỹ thuật trung cấp địa chất.
Căn cứ vào tình hình thực tế của bãi tập, đồng thời dựa vào mục đích, nhiệm vụ
và yêu cầu của đợt thực tập sản xuất, địa điểm thích hợp mà nhà trường lựa chọn cho
sinh viên địa chất chuyên nghành tìm kiếm – thăm dò thực tập sản xuất là khu vực
Thanh Sơn – Phú Thọ và Ba Vì – Hà Nội. Thời gian thực tập sản xuất kéo dài từ ngày
03/12/2012 đến ngày 14/01/2013 và được chia làm 3 giai đoạn
Giai đoạn I (3/12/2012 - 16/12/2012) Chuẩn bị tài liệu và thực hiện các bài tập của
giảng viên
Giai đoạn II (17/12/2012 - 31/12/2012) khảo sát thực địa khu Thạch Khoán - Phú Thọ
và khu vực Ba Vì –Hà Nội
Giai đoạn III (01/01/2013 - 14/01/2013) viết báo cáo và số hóa các tài liệu nguyên thủy
tại khu vực thực tập
Với những yêu cầu khắt khe và đòi hỏi của đợt thực tập sản xuất này, yêu cầu
đặt ra cho mỗi sinh viên là :
+ Học tập cách quan sát, nghiên cứu và ghi chép nhật ký địa chất, các loại tài
liệu ngyên thủy trên các lộ trình địa chất, vết lộ tự nhiên, công trình khai đào ( vỉa lộ,
hố, hào, lò, giếng ) và khoan ( khoan tay, khoan máy ).
+ Vừa học lý thuyết vừa thực tập phương pháp lấy mẫu các loại, phương pháp
gia công mẫu và phân tích thí nghiệm mẫu.
+ Vừa học lý thuyết vừa thực tập phương pháp lập các loại bản đồ địa chất tỉ lệ
lớn ( 1:50000 – 1:1000 ).
+ Học tập lý thuyết và thực tập các phương pháp đào và chống chèn các công

3. Sông suối
Hệ thống sông suối trong khu vực chủ yếu bắt nguồn từ thượng nguồn núi Ba Vì
và núi Viên Nam. Các suối lớn và dòng nhánh chảy theo hướng Bắc, Đông Bắc và đều
phụ lưu của sông Hồng. Ở phía Tây của khu vực, các suối ngắn và dốc hơn so với các
suối ở phía Bắc và phía Đông, đều là phụ lưu của sông Đà. Các suối này thường gây lũ
và mùa mưa. Về mùa khô các suối nhỏ thường cạn kiệt. Các suối chính trong khu vực
gồm có: Suối Cái, suối Mít, suối Ninh, suối Yên Cư, suối Bơn…
Nhóm 04 – Lớp Địa Chất B_K53 3
Báo cáo thực tập
Sông Đà chảy ở phía Nam núi Ba Vì, sông rộng cùng với hệ suối khá dày như
suối Ổi, suối Ca, suối Mít, suối Xoan thường xuyên cung cấp nước cho sản xuất và
sinh hoạt của người dân vùng đệm. Bên cạnh còn có các hồ chứa nước nhân tạo như hồ
suối Hai, hồ Đồng Mô và các hồ chứa nước khác vừa có nhiệm vụ dự trữ nước cung
cấp cho hàng chục nghìn ha đất sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt cho dân. Nguồn
nước ngầm trong khu vực tương đối dồi dào, ở sườn Đông cũng dồi dào hơn bên sườn
Tây do lượng mưa lớn hơn và địa hình đỡ dốc hơn.
4. Khí hậu
Đặc điểm chung của Ba Vì bị chi phối bởi các yếu tố vĩ độ Bắc, cơ chế gió mùa,
sự phối hợp giữa gió mùa và vĩ độ tạo nên khí hậu nhiệt đới ẩm với mùa đông lạnh và
khô. Nhiệt độ bình quân năm trong khu vực là 23,4
0
C. Ở vùng thấp, nhiệt độ tối thấp
xuống tới 2,7
0
C; nhiệt độ tối cao lên tới 42
0
C. Ở độ cao 400 m nhiệt độ trung bình năm
20,6
0
C; Từ độ cao 1000 m trở lên nhiệt độ chỉ còn 16

1. Vị trí địa lý
Khu vực La Phù thuộc huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ, có diên tích khoảng 50
km
2
và được giới hạn bởi tọa độ ô vuông:
X: 2338 – 2348
Y: 526 – 531
Khu vực La Phù này cách Hà Nội khoảng 70 km về phía Tây Bắc.
2. Địa hình
Khu La Phù nằm trong vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi, bao gồm
các dạng địa hình cơ bản sau:
+ Địa hình đồi núi thấp: địa hình này có độ cao dưới 200 m và được cấu thành
bởi những đá trầm tích, thường được đặc trưng bởi các dạng địa hình mềm mại và có
đặc điểm nổi bật là độ dốc sườn không lớn, đỉnh rộng và tròn, thường bị các thung lũng
rộng chia cắt. Đường chia nước kéo dài chủ yếu theo phương Tây Bắc – Đông Nam.
+Địa hình núi đá: địa hình này được cáu thành bởi đá carbonat lộ ra ở gần trung
tâm khu La Phù. Địa hình có hình thái đặc trưng là vách đá dốc đứng, đỉnh nhọn lởm
chởm dạng tai mèo.
Địa hình thung lũng ven sông: địa hình này phân bố chủ yếu ở phía Tây, phía
Nam khu vực nghiên cứu và được phát triển trên tầng đá móng không đồng nhất. Bề
mặt địa hình tương đối bằng phẳng, thường hơi dốc về phía Tây. Địa hình bị nhiều hệ
thống suối khúc quanh co chia cắt.
3. Sông suối
Khu vực La Phù có mạng sông suối phát triển tương đối mạnh mẽ với nguồn
nước rất dồi dào, bao gồm: sông Đà, hệ thống sông suối và các đầm nước.
+ Đoạn sông Đà chảy qua phía Tây khu vực với chiều dài khoảng 5 km, chiềm
rông trung bình khoảng 700 m. Sông Đà là nơi thu nhận phần lớn nước mặt ở vùng.
Nhóm 04 – Lớp Địa Chất B_K53 5
Báo cáo thực tập
+ Các hệ thống sông suối thường bắt nguồn từ các dãy đồi núi thấp ở phía Tây

Sông Đà là tuyến đường thủy tương đối quan trọng cho vận chuyển và lưu thông
hàng hóa giữa khu vực với các khu lân cận.
Nhóm 04 – Lớp Địa Chất B_K53 6
Báo cáo thực tập
6. Đặc điểm kinh tế xã hội khu vực
Khu vực La Phù nói riêng và huyện Thanh Thủy nói chung là địa bàn sinh sống
của các dân tộc như: Kinh, Mường,Tày, Hoa, Thái…
Đất đai ở đây thích hợp trồng các loại cây như: luá, chè, ngô, cây ăn quả, trồng
rừng nguyên liệu ( bạch đàn, keo, tre ). Chăn nuôi chủ yếu là bò, lợn, cá, gia cầm…
CHƯƠNG II
ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT KHU VỰC NGHIÊN CỨU
I. Đặc điểm địa chất khu vực Ba Vì
1. Địa tầng
Theo các kết quả khảo sát điều tra địa chất, cùng công tác thu thập các tài liệu
có trước về khu vực Sơn Tây – Ba Vì , khu vực có cấu trúc địa chất khá phức tạp và có
tuổi từ cổ đến trẻ theo trình tự dưới đây :
Nhóm 04 – Lớp Địa Chất B_K53 7
Báo cáo thực tập
+ Giới Proterozoi
Hệ tầng Núi Con Voi ( PR
1cv
)
Hệ tầng Ngòi Chi (PR
1nc
)
Phức hệ Sông Hồng
Hệ tầng Thạch Khoán (PR
tk
)
+ Giới Paleozoi

Hệ tầng này do Nguyễn Vĩnh và Phan Trường Thị xác lập năm 1973. Các đá của
hệ tầng Núi Con Voi lộ ra thành một dải kéo dài khoảng 8km theo phương Tây Bắc –
Đông Nam với diện tích khoảng 8km
2
ở phía Bắc – Đông Bắc vùng nghiên cứu.
Thành phần thạch học của hệ tầng gồm các đá biến chất cao đạt đến tướng
amadin – amphibolit, gồm các đá: gneis biotit, đá phiến thạch anh – silimalit, đá phiến
thạch anh – mica chứa grafit xen các thấu kính đá hoa, amphibolit, quarzit, manhetit. Bề
Nhóm 04 – Lớp Địa Chất B_K53 8
Báo cáo thực tập
dày của hệ tầng lộ ra trong khu vực lớn hơn 300m. Các đá thuộc hệ tầng phủ chỉnh hợp
dưới bằng hệ tầng Ngòi Chi.
1.1.2. Hệ tầng Ngòi Chi (PR
1nc
)
Hệ tầng Ngòi Chi được xác lập bởi Trần Xuyên (1988) trên cơ sở thành lập mặt
cắt dọc Ngòi Chi thuộc khu vực ranh giới giữa Yên Bái và Lào Cai. Trong vùng nghiên
cứu, các đá thuộc hệ tầng lộ ra ở phía Bắc – Đông Bắc tạo thành hai cánh nếp lồi với
nhân là các đá của hệ tầng Núi Con Voi với diện tích khoảng 32km
2
. Các đá của hệ tầng
này trong khu vực bị phong hóa mạnh mẽ nên gây khó khăn cho quá trình lập mặt cắt.
Thành phần thạch học của hệ tầng gồm các loại đá phiến thạch anh – mica chứa
felspat, đá phiến thạch anh – biotit có chứa silimanit – granat và phát triển các quá trình
micmatit hóa. Bề dày của hệ tầng khoảng 500 – 700m. Trong vùng nghiên cứu, hệ tầng
Ngòi Chi phủ chỉnh hợp trên hệ tầng Núi Con Voi và bị phủ chỉnh hợp bởi hệ tầng
Thạch Khoán (PR
tk
).
1.1.3. Hệ tầng Thạch Khoán (PR

owr khu vực
Xóm Quýt đến 10km
2
ở núi Chẹ. Dựa vào thành phần thạch học và sự phân bố trong
không gian theo các mặt cắt quan sát được cho phép phân chia hệ tầng thành 2 phân vị
địa tầng :
+ Phân hệ tầng dưới (C
3
- P
1bd1
) : Lộ ra xung quanh Xóm Bưởi, Xóm Ninh.
Thành phần thạch học bao gồm :
Đá silic màu xám sáng, cấu tạo phân dải, hạt min với bề dày khoảng 40 –
50m
Đá phiến màu xám đen, đôi khi xen lớp cát kết màu xám, hạt mịn, cấu tạo
phân phiến với bề dày từ 50 – 60m.
+ Phân hệ tầng trên (C
3
- P
1bd1
) : Chủ yếu lộ ra ở khu vực núi Chẹ và vùng lân
cận. Thành phần chủ yếu là các loại đá vôi màu xám, xám sáng, xám bẩn, đá vôi bị hoa
hóa Conodonta và đôi khi gặp các lớp mỏng đá vôi silic màu xám đen. Bề dày của hệ
tầng khoảng 100m.
Hệ tầng Bản Diệt bị phủ bất chỉnh hợp bởi phân hệ tầng Viên Nam. Còn các
vùng lân cận bị phủ bất chỉnh hợp bởi hệ tầng Yên Duyệt.
1.2.2. Hệ Pecmi – thống trên – Hệ tầng Yên Duyệt (P
2yd
)
Hệ tầng được xác lập bởi Phan Cự Tiến năm 1997. Trong vùng nghiên cứu, hệ

) : Chủ yếu lộ ra các diện tích nhỏ của các loại tuf
agomerat, aglomerat, dăm kết dung nham xen phun trào daxit porphyr hoặc trachit
porphyr thạch anh. Bề dày của phân hệ tầng trên khoảng 200m.
Trong vùng nghiên cứu, hệ tầng phủ bất chỉnh hợp lên hệ tầng chứa than Yên
Duyệt. Phân hệ tầng trên của hệ tầng bị phủ bất chỉnh hợp bởi trầm tích của hệ tầng Cò
Nòi
Nhóm 04 – Lớp Địa Chất B_K53 11
Báo cáo thực tập

Hình 1 :Đá tuf aglomerat,các hạt cuôi có độ mài tròn cao( vết lộ 24026)
1.3.2. Hệ Triat – thống dưới – hệ tầng Cò Nòi (T
1cn
)
Hệ tầng do Dovjicov xác lập năm 1965. Các đá của hệ tầng lộ ra không đáng kể
ở phía nam – đông nam khu vực nghiên cứu. Thành phần thạch học của hệ tầng bao
gồm : cát bột kết, bột kết, sét kết màu xám tím, xám vàng. Bề dày của hệ tầng khoảng
50 – 120m. Các đá bị phong hóa mạnh mẽ. Ở các vùng lân cận, hệ tầng Cò Nòi phủ bất
chỉnh hợp lên hệ tầng Viên Nam, bị phủ bất chỉnh hợp lên hệ tầng Sông Bôi.
1.3.3. Hệ Triat – thống giữa – trên - Hệ tầng Sông Bôi (T
2-3sb
)
Nhóm 04 – Lớp Địa Chất B_K53 12
Báo cáo thực tập
Hệ tầng Sông Bôi do A.E. Dovjicov xác lập năm 1965. Theo các kết quả nghiên
cứu các mặt cắt dựa vào thành phần thạch học, mối quan hệ giữa các đá trong hệ tầng,
cho phép ta chia thành hai phân vị địa tầng sau :
+ Phân hệ tầng dưới : Thành phần thạch học gồm : đá phiến sét đen đôi chỗ xen
đá phiến sét than, cát bột kết, thấu kính đá vôi, thấu kính phun trào ( trachit – đaxit và
tuf của chúng).
+ Phân hệ tầng trên : được chia thành hai phần :

tạo Đệ Tứ bao gồm các trầm tích : đá vụn núi lửa, sỏi.
2. Magma
Trong vùng nghiên cứu chỉ có một phức hệ magma xâm nhập là phức hệ Ba Vì,
gồm các thể xâm nhập nhỏ với thành phần của đá từ peridotit, gabro – diaba đến
ddiorrit. Các đá này được Phan Viết Kỷ xếp vào phức hệ Ba Vì tuổi Pecmi muộn. Phức
hệ Ba Vì bao gồm các thể xâm nhập dạng thấu kính elip, mạch với kích thước nhỏ,
phân bố dọc theo đứt gãy sông Đà và đứt gãy khu Đồng Quýt, chúng xuyên theo
phương ép, mặt lớp của các địa tầng vây quanh Bản Diệt (C
3
- P
1bd
) đến Viên Nam
( T
1vn
). Mức độ biến đổi của các đá xâm nhập và địa tầng trong vùng là tương đồng.
Thành phần thạch học của phức hệ Ba Vì gồm 3 kiểu đá chính : siêu mafic
(đunit, veclit. Leczolit), mafic (gabro – điaba, điaba) và trung tính (diorit). Chúng thuộc
loại nghèo kiềm với Na lớn K, nghèo Si, Al, giàu Ca, Mg.
Khoáng sản liên quan với đá siêu mafic là atbet, với gabro – điaba, điaba, diorit
là đồng (Cu), đồng – vàng (Cu – Au). Phức hệ Ba Vì có tuổi Triat sớm (σ, υ-δT
1bv
).
II. Đặc điểm địa chất khu vực La Phù - Thanh Sơn – Phú Thọ
1.Địa tầng
Trong khu vực nghiên cứu, có mặt các thành tạo trầm tích với thành phần thạch
học, mức độ biến chất, nguồn gốc thành tạo và tuổi khác nhau thuộc Proterozoi,
Paleozoi và Kainozoi.
1.1. Giới Paleozoi – phụ giới Proteozoi trên – Hệ Cambri, thống dưới – Hệ
tầng Thạch Khoán (PR – Є
1tk

+ Phân hệ tầng trên gồm : cát kết dạng quarzit màu xám, phân lớp vừa và dày,
xen kẽ cát kết lẫn sét màu xám đen.
Hệ tầng Bản Nguồn phủ không chỉnh hợp lên hệ tầng Thạch Khoán. Chiều dày
của hệ tầng khoảng 800m.
1.3. Giới Kainozoi – Hệ Đệ Tứ (Q)
Trầm tích Đệ Tứ phân bố rộng khắp ở xã Phú Lương, La Phù, Bảo Yên và các
thung lũng giữa núi. Thành phần gồm cuội, sỏi, cát, bột, sét. Trầm tích Đệ Tứ phủ trực
tiếp lên bề mặt đá gốc có thành phần và tuổi khác nhau. Chiều dày của hệ Đệ Tứ
khoảng 0.5 – 20m.
2.Magma
Nhóm 04 – Lớp Địa Chất B_K53 15
Báo cáo thực tập
Trong khu vực La Phù, các thành tạo magma lộ ra chủ yếu ở khu đông bắc, bao
gồm phức hệ Tân Phương và phức hệ Thạch Khoán.
2.1Phức hệ Tân Phương
Phức hệ Tân Phương lộ ra dưới dạng một khối có hình dạng méo mó với chiều
dài khoảng 3km, chiều rộng trung bình khoảng 1km. Phức hệ này gồm 2 pha :
+ Pha xâm nhập chính gồm : chủ yếu đá granit dạng gơnai màu xám đến xám,
cấu tạo phân dải. Dải sáng màu gồm thạch anh và feslpat xen các dải sẫm màu chủ yếu
gồm biotit.
+ Pha xâm nhập phụ gồm : đá mạch aplit màu trắng đến trắng xám.
Các đá của phức hệ có chứa các nguyên tố Ti, Ga, Zr , cường độ phóng xạ của
đá granit dạng gonai thường cao hơn hẳn với đá xung quanh. Phức hệ Tân Phương được
xếp vào tuổi Proterozoi sớm.
2.2Phức hệ Thạch Khoán (γJ – P
tk
)
Phức hệ này lộ ra ở phía đông bắc khu La Phù với các thể nhỏ kéo dài theo
phương tây bắc – đông nam. Thành phần thạch học của phức hệ thay đổi từ
granit đến pegmatit. Các thể này xuyên cắt đá của phụ hệ tầng Thạch Khoán

.
+ Hệ thống đứt gãy phương tây bắc – đông nam : có đứt gãy nằm ở phía tây
bắc La Phù, là phần kéo dài của đứt gãy Xóm Chân – tây bắc Phú Xuân. Đây là đứt gãy
phương tây bắc – đông nam và phá hủy nếp lồi Đèo Giài.
CHƯƠNG III
PHƯƠNG PHÁP TÌM KIẾM THĂM DÒ
Có rất nhiều các phương pháp tìm kiếm thăm dò khoáng sản, từ các phương pháp cổ
điển nhưng vẫn có hiệu quả và được sử dụng rộng rãi như phương pháp khoáng vật,
trọng sa, địa chất đến những phương pháp hiện đại như địa hóa, phương pháp hàng
không vũ trụ,phương pháp hạt nhân,…Tùy thuộc vào điều kiện thành tạo, loại hình
khoáng sản, kiểu khoáng…mà áp dụng các phương pháp cũng như tổ hợp các phương
pháp thích hợp nhất cho từng nhóm hay từng loại hình khoáng sản để mang lại kết quả
chính xác nhất có thể. Để đạt được mục đích và hoàn thành nhiệm vụ đề ra trong đợt
thực tập sản xuất vừa qua, nhóm chúng tôi đã sử dụng các phương pháp tìm kiếm thăm
dò như:
1. Phương pháp đo vẽ bản đồ địa chất
a. Ý nghĩa của bản đồ địa chất :
Bản đồ địa chất là cơ sở cho các phương pháp tìm kiếm, đồng thời đo vẽ bản đồ
địa chất cũng là một phương pháp tìm kiếm . Ngoài việc phát hiện và nghiên cứu đặc
điểm về địa tầng, tướng đá, các hoạt động magma, cũng như đặc điểm về cấu tạo và lịch
sử phát triển của chúng trong khu vực còn phát hiện các tiền đề và dấu hiệu tìm kiếm
hay các biểu hiện khoáng hóa, các điểm quặng hay mỏ khoáng sản. Các loại bản đồ địa
chất thường dùng như bản đồ địa chất, bản đồ địa chất thạch học, bản đồ địa chất cấu
tạo, bản đồ địa mạo, bản đồ trầm tích đệ tứ.
b. Phương pháp vẽ bản đồ địa chất :
Số lượng điểm quan sát và hành trình vẽ bản đồ địa chất phụ thuộc vào mức độ
phức tạp của cấu trúc địa chất (đơn giản, trung bình, phức tạp ) của vùng nghiên cứu.
- Phương pháp đo vẽ bản đồ địa chất được tiên hành như sau:
Nhóm 04 – Lớp Địa Chất B_K53 18
Báo cáo thực tập

2. Phương pháp nghiên cứu vết lộ
Phương pháp nghiên cứu vết lộ được sử dụng phổ biến trong suốt quá trình thực
tập.Khi vẽ bản đồ địa chất và tìm kiếm mắt thường, nghiên cứu vết lộ có ý nghĩa quan
trọng nó giúp các nhà địa chất quan sát một cách trực tiếp thân quặng, biết được thành
phần khoáng vật, hóa học, hình dáng và vị trí của thân quặng trong câu trúc địa chất
chung, sự biến đổi thân quặng, đá vây quanh và trong nhiều trường hợp có thể suy đoán
được nguồn gốc và triển vọng của khoáng sản.
Nhóm 04 – Lớp Địa Chất B_K53 20
Báo cáo thực tập
Hình 4: sinh viên nghiên cứu vết lộ
3.Thu thập tài liệu thăm dò, khai thác cũ
a. Theo lộ trình địa chất :
Trong quá trình thực tập sản xuất chúng tôi tiến hành khảo sát các lộ trình địa
chất theo các tuyến tìm kiếm thăm dò đã được bố trí sẵn. Mỗi lộ trình chọn một điểm
mốc xuất phát để tiến hành đo vẽ bản đồ địa chất tỷ lệ lớn, chọn điểm mốc tương đối
vĩnh cữu, dễ tìm dễ xác định. Sau đó đưa điểm mốc lên bản đồ địa chất khoáng sản theo
tỷ lệ nghiên cứu bằng phương pháp giao hội hoặc phương pháp tùy thuộc tình hình cụ
thể, bên cạnh đó cần ghi chép cẩn thận vào nhật ký địa chất.
Các tuyến lộ trình địa chất thường bố trí theo suối, đường mòn, theo tuyến,
phương của các tuyến lộ trình có thể song song, tỏa tia hay đuổi vỉa. Sử dụng địa bàn và
thước dây để đo khoảng cách, phương vị và góc dốc của đoạn thước dây bằng địa bản
địa chất và ghi chép các giá trị vào nhật ký địa chất.
Quan sát các đặc điểm địa hình, địa mạo, địa chất, đặc điểm biến đổi, biểu hiện
quặng hóa gặp trong đoạn thước dây đó và ghi chép chúng vào nhật ký địa chất.
Nếu gặp các vết lộ đá gốc hay vết lộ quặng cần tiến hành công tác nghiên cứu
chi tiết vết lộ như vẽ thiết đồ, chụp ảnh minh họa, lấy mẫu nghiên cứu.
b. Trong các công trình khai đào :
Nhóm 04 – Lớp Địa Chất B_K53 21
Báo cáo thực tập
Các công trình khai đào bao gồm: Hào, vỉa lộ, giếng và lò.

chất vật lý, đôi khi để xác định thành phần hóa học của quặng. Mẫu cục không lấy có hệ
thống mà chỉ dùng để xác định tính chất đặc trưng lớn của đá và quặng để kiểm tra
đánh giá bằng mắt thường.
Tại mỗi công trình hay vết lộ tự nhiên lấy 1-3 mẫu đặc trưng cho các loại quặng và
đá vây quanh. Mẫu lấy có kích thước 3×6×9, trọng lượng từ 0,2 – 0,5kg.sau đó xác định
chúng lên thiết đồ công trình.
5.Tổng hợp, xử lý số liệu
Nhóm 04 – Lớp Địa Chất B_K53 23
Báo cáo thực tập
Các tài liệu thu thập trong phòng, ngoài trời được tiến hành tổng hợp và xử lý để
thành lập các sơ đồ, bình đồ, thiết đồ phục vụ công tác nghiên cứu.
6. Khối lượng công việc đạt được trong đợt thực tập
Trong đợt thực tập sản xuất này, chúng tôi đã nghiên cứu một cách đầy đủ và chi
tiết các lộ trình địa chất đã được định sẵn, tiến hành khảo sát 4 lộ trình ở khu vực Thanh
Sơn – Phú Thọ, 3 lộ trình khu vực Ba Vì – Hà Nội. Đồng thời tiến hành đo vẽ chi tiết 1
moong ở Thanh Sơn và 1 moong ở Ba Vì. Các lộ trình bao gồm:
1.Khu vực Thanh Sơn – Phú Thọ
1. Lộ trình Ngã 3 Nhang Khuê–Đồi Chiềng
2. Lộ trình Ngã 3 Nhang Khuê – bệnh viện La Phù
3. Lộ trình Ngã 3 Nhang khuê- Mỏ Đồi Dao
4. Lộ trình Ngã 3 Nhang Khuê- Mỏ Hữu khánh
Lộ trình 1.Ngã 3 Nhang Khuê- Đồi Chiềng ta gặp chủ yếu đá phiến thạch anh 2
mica của hệ tầng thạch khoán,ở lộ trình này ta bắt gặp các lò khai thác của dân ở vết lộ
241.16và giếng khai thác của dân ở vết lộ 241.12 hiện nay các công trình này đã ngừng
khai thác.
Lộ trình 2. Nhang Khuê – bệnh viện La Phù.ở lộ trình này đá lộ ra chủ yếu đá
phiến thạch anh 2mica cảu hệ tầng thạch khoán,đá bị phong hóa mạnh có màu nâu vàng
đến nâu xám,đá bị xuyên cắt bởi các mạch thạch anh có kích thước khác nhau và đôi
chỗ bị xen kẹp các lớp quaczit cũng thuộc hệ tầng thạch khoán.Đặc biệt ở vết lộ 24109
ta gặp các tinh thể granat kết tinh hoàn hảo,bên ngoài bị phog hóa màu xám đen

Sông Bôi gặp đá bagian của hệ tầng Viên Nam,kết thúc lộ trình ta gặp mỏ đá vôi của
hệ tầng Bản Diệt,ở mỏ đá vôi ta nhìn thấy các đới dập vỡ,rất có thể đây là 1 đứt gãy

Tóm lại với 7 lộ trình ở cả 2 khu vực, chúng tôi đã tiến hành khảo sát tất cả 80
điểm lộ, trong đó có 20 điểm lộ được tiến hành khảo sát tại khu vực Thanh Sơn và 40
điểm lộ được tiến hành khảo sát tại khu vực Ba Vì.
+ Tại khu vực Thanh Sơn – Phú Thọ, ta gặp chủ yếu đá phiến thạch anh 2 mica
của hệ tầng Thạch Khoán. Đá phiến thạch anh 2 mica có granat, disten và xen lớp
mỏng quaczit. Các thành tạo magma chủ yếu lộ ra tại khu vực này đó là granit của phức
hệ Tân Phương ( Proterozoi sớm) và các mạch pegmatit của phức hệ Thạch Khoán ( γJ
– P
tk
).
+ Tại khu vực Ba Vì – Hà Nội, các thành tạo trầm tích và magma phun trào bao
gồm: bột kết, cát kết của hệ tầng Cò Nòi, đá phiến của hệ tầng Thạch Khoán, đá vôi của
hệ tầng Bản Diệt, bazan của hệ tầng Viên Nam.
Trong quá trình thực tập, với ở cả 2 khu vực, phương pháp tìm kiếm thăm dò mà
chúng tôi sử dụng là phương pháp đo vẽ bản đồ địa chất, phương pháp nghiên cứu vết
Nhóm 04 – Lớp Địa Chất B_K53 25

Trích đoạn khoáng sản khu vực La Phù 1.Điểm Quặng Sắt Đá Đùng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status