phong cách nghệ thuật Tô Hoài - Pdf 23


MAI THỊ NHUNG
phong cách nghệ thuật
TÔ HOÀI

NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC - 2006

2
LỜI GIỚI THIỆU

Trong số các tên tuổi hàng đầu của văn xuôi hiện đại Việt Nam, Tô Hoài là nhà
văn có sức sáng tạo dồi dào, bền bỉ và đa dạng vào bậc nhất. Ông chiêm kỷ lục về số
đầu sách - đến nay ông đã cho in trên 160 cuốn. Tô Hoài là cây bút rất đa dạng về đề

thế giới nghệ thuật của nhà văn ấy. Nhưng khám phá phong cách nghệ thuật của nhà
văn, nhất là với những tác giả mà sự nghiệp sáng tác hết sức đa dạng, phong phú như
Tô Hoài không phải là công việc dễ dàng. Trên cơ sở kê thừa và phát triển nhiều nhận
định chính xác của các nhà văn, nhà nghiên cứu, công trình của Mai Thị Nhung đã
khái quát được một hệ
thống những đặc điểm của phong cách nghệ thuật Tô Hoài, từ
hạt nhân cơ bản là cảm quan hiện thực đời thường đến thê giới nhân vật đa dạng bình
dị, giọng điệu dí dỏm và ngôn ngữ dung dị tự nhiên đậm tính khẩu ngữ. Có thể còn có
những đặc điểm khác nữa của phong cách nghệ thuật Tô Hoài cần được tìm hiểu
thêm, ví như những đặc
điểm trong nghệ thuật trần thuật, kết cấu. Cũng có thể có
những cách khái quát khác về đặc điểm phong cách nghệ thuật Tô Hoài. Nhưng sự

3
khái quát và phân tích về phong cách nghệ thuật Tô Hoài của tác giả công trình này là
những cố gắng rất đáng ghi nhận, góp phần nghiên cứu sâu hơn về Tô Hoài và khẳng
định tài năng cũng cá tính sáng tạo độc đáo của nhà văn. Xin trân trọng giới thiệu
chuyên luận Phong cách nghệ thuật Tô Hoài với bạn đọc, đặc biệt là với những người
quan tâm và mến mộ nhà văn Tô Hoài.
Hà Nội, ngày 15 tháng 8 năm 2006
PGS. Nguyễn Văn Long
TRƯỜNG ĐẠI H
ỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI


nào đó ho
ặc trong một tác phẩm, hoặc trong sự nghiệp sáng tác của tác giả. Chúng tôi
nghĩ rằng với một tác giả có vị trí và sự cống hiên đặc biệt cho nền văn học dân tộc
như Tô Hoài, không thể chỉ dừng lại ở đó. Với suy nghĩ như thế, chúng tôi mạnh dạn
nghiên cứu vấn đề Phong cách nghệ thuật Tô Hoài.
Nghiên cứu phong cách nghệ thuật của một tác giả văn học quả
là một việc làm
không dễ dàng, đặc biệt là với Tô Hoài, khi ông đã có hơn 65 năm lao động nghệ thuật
nghiêm túc với hơn 160 đầu sách được sáng tác trong nhiều giai đoạn, nhiều thể loại,
nhiều đề tài. Tuy vậy, chúng tôi vẫn mong muốn tìm hiểu vấn đề này - một vân đề gai
góc mà lại thật lý thú.
Để nghiên cứu vấn đề đặt ra, chúng tôi đã cố gắng đi tìm hạt nhân phong cách
nghệ thuật Tô Hoài. Hạt nhân đ
ó sẽ chi phối toàn bộ thê giới nghệ thuật của tác giả.
Tất cả sẽ được quy tụ vào một bình diện đặc sắc làm nên phong cách nghệ thuật nhà
văn.
Với hướng đi và cách tiếp cận vấn đề như thế, bước đầu chúng tôi đã hoàn thành
nhiệm vụ đặt ra. Mặc dù rất cố gắng, song việc nghiên cứu chắc chắn không tránh
khỏi khiếm khuyết. Tác giả xin chân thành đ
ón nhận mọi ý kiên phê bình, góp ý của
bạn đọc và kính mong bạn đọc lượng thứ.
Tác giả
văn học trong và ngoài nước.
Trước năm 1945, Tô Hoài đã có một số lượng đầu sách đáng kể tiểu thuyết
Quê
người, Giăng thề, tập truyện ngắn O Chuột, hồi ký Cỏ dại, tập truyện ngắn Nhà
nghèo ), nhưng số lượng công trình nghiên cứu về tác giả chưa nhiều. Người đầu tiên
nghiên cứu văn chương Tô Hoài là nhà nghiên cứu phê bình Vũ Ngọc Phan. Trong
Nhà văn hiện đại (1943 ) Vũ Ngọc Phan đã xếp: "Tiểu thuyết của Tô Hoài thuộc loại
tả chân, có khuynh hướng về
xã hội". Ngay từ những tác phẩm giai đoạn này, Tô Hoài
đã bộc lộ nét riêng độc đáo trong cách nhìn và giọng điệu văn chương. Từ tiểu thuyết
Quê người, ông tỏ ra là một nhà tiểu thuyết có con mắt quan sát sâu sắc, phát hiện "cả
những cách sống cùng cực, rất đáng thương của người dân quê”, cả "những màu tươi
tắn ở cái tính rất nhẹ nhàng, ở cái tính chất phác và không lo xa của người dân quê
nữ
a". Tô Hoài là một nhà văn có tài quan sát nên "từ ngôn ngữ, cử chỉ, thói tục cho
đến những cảnh sinh hoạt của những người dân quê Tô Hoài đều đã tả với nghệ thuật
chân xác". Không những thế, ngay từ tập truyện ngắn O Chuột.( 1942), Tô Hoài đã "tỏ

6
ra không giống một nhà văn nào trước ông và cũng không giống một nhà văn nào mới
nhập tịch làng văn như ông". Ông có một "lối văn" đặc biệt, "một lối văn dí dỏm, tinh
quái đầy những phong vị và màu sắc của thôn quê".
Sau năm 1945, những công trình nghiên cứu về văn chương Tô Hoài khá nhiều.
Các tác giả tâm huyết với văn chương Tô Hoài tiêu biểu là Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức,
Nguyễn Đăng Mạnh, Phong Lê, Vân Thanh, Trần Hữ
u Tá, Nguyễn Văn Long, Vương
Trí Nhàn, Đoàn Trọng Huy, Nguyễn Đăng Điệp Nhìn chung, các tác giả đều thống
nhất nhận thấy, Tô Hoài có năng khiếu quan sát nổi trội. Ông quan sát vừa có diện,
vừa có điểm. Cái nhìn tinh tế sắc sảo mang tính ổn định và in đậm dấu ấn riêng. Phan
Cự Đệ đã nhận thấy "Tô Hoài có một khả năng quan sát đặc biệt, rất thông minh hóm

thác "toàn chuyện đời tư, đời thường". Ngay cả "nhân vật cách mạng, nhân vật anh
hùng của ông thường ít
được lý tưởng hoá. Tô Hoài không thích che đậy phương diện
người thường, đời thường của những chiến sỹ cách mạng. Ngay cả thế giới loài vật của

7
Tô Hoài cũng vậy thôi, chẳng có những phượng hoàng, kỳ lân, chẳng có hổ, báo, sư tử
ghê gớm gì, chỉ toàn những con vật tầm thường vẫn sinh sống hằng ngày quanh ta".
Đặc điểm riêng này khiến thế giới nhân vật Tô Hoài phong phú, đa dạng và gần gũi
với mỗi chúng ta.
Đặc biệt là văn phong, giọng điệu, ngôn ngữ Tô Hoài, những phương diện đã được
nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nhận diệ
n. Vân Thanh khẳng định: "Ngôn ngữ Tô
Hoài thường ngắn gọn và rất gần với khẩu ngữ của nhân dân lao động". Ý kiến đó
được phân Cự Đệ tiếp tục khẳng định và nhấn mạnh: "Tô Hoài đã chú ý học tập ngôn
ngữ nghề nghiệp và ngôn ngữ địa phương". "Trong tác phẩm của Tô Hoài nhìn chung
ngôn ngữ của quần chúng đã được nâng cao, nghệ thuật hoá". Cùng với Phan Cự Đệ,
Bùi Hiển thấy rằng: "V
ăn phong Tô Hoài chủ yếu làm bằng những nét nhẹ, mảnh,
nhuần nhị, tinh tế, đôi khi hơi mờ ảo nữa".
Nhất trí với nhận định ấy, Hà Minh Đức, Trần Hữu Tá, Nguyễn Văn Long, Vũ
Quần Phương, Trần Đình Nam, Lê Phòng, Nguyễn Đăng Điệp, trong các công trình
nghiên cứu của mình tiếp tục có những nhận xét sắc sảo: "Khi miêu tả thiên nhiên
cũng là lúc văn của Tô Hoài đậm màu s
ắc trữ tình và giàu chất thơ" (Hà Minh Đức);
"Tô Hoài có khả năng quan sát tinh tế và nghệ thuật miêu tả sinh động. Người, vật,
thiên nhiên, cảnh sinh hoạt tất cả đều hiện lên lung linh, sống động, nổi rõ cái "thán"
của đối tượng và thường bàng bạc một chất thơ" (Trần Hữu Tá); "Tô Hoài có biệt tài
miêu tả sinh hoạt và phong cảnh miền xuôi cũng như miền núi và có một lối kể truyện
rất tự nhiên, dí dỏm, có khi tinh quái, (Nguy

o sát của chúng tôi là
toàn bộ sáng tác của tác giả. Tuy nhiên, số lượng tác phẩm của Tô Hoài rất phong phú,
cho nên, khi nghiên cứu chúng tôi sẽ tập trung nhiều hơn vào những tác phẩm tiêu biểu
của nhà văn trong mỗi thể loại qua từng chặng đường sáng tác. Để tìm hiểu phong
cách Tô Hoài, chúng tôi còn đặt tác giả trong sự tương quan với các nhà văn có phong
cách khác để thấy rõ những yếu tố làm nên nét đặc trưng riêng trong sáng tác của ông.
Phong cách là một thuật ngữ không chỉ được dùng trong lĩnh v
ực văn học nghệ
thuật, mà còn được dùng trong nhiều ngành khoa học và đời sống xã hội. Trong sáng
tác và nghiên cứu văn học, thuật ngữ phong cách được sử dụng rộng rãi và ngày càng
có ý thức. Xung quanh thuật ngữ này, lâu nay có rất nhiều định nghĩa, quan niệm
phong phú, đa dạng.
Ở phương Tây, ngay từ thời cổ đại, với các đại biểu xuất sắc như Platon, Aristote,
khái niệm phong cách đã được nghiên cứu vận dụng. B
ước sang thế kỷ XIX, đặc biệt
là thế kỷ XX, khái niệm phong cách ngày càng được quan tâm sâu sắc. Chỉ ngay ở
Liên Xô, viện sỹ M.B. Khrapchenkô trong cuốn Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự
phát triển văn học đã thống kê tới gần 20 cách hiểu khác nhau về phong cách [121,
129- 152]. Ngoài ra còn phải kể đến công trình của V.V.Vinôgrađôp [198], của
D.X.Likhatsep [134], các công trình của M.B. Khrapchenkô [121], [122], [123]
Ở nước ta, tuy muộn màng hơn, nhưng những năm gần đây, các nhà lý luận nghiên
cứu v
ăn học đã dành nhiều công sức tìm hiểu vấn đề phong cách. Từ những sách công
cụ như: Từ điển văn học do Đỗ Đức Hiểu chủ biên [54], Từ điển thuật ngữ văn học do
Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi chủ biên [46], 150 thuật ngữ văn học
do Lại Nguyên Ân biên soạn [2], Lý luận văn học do Hà Minh Đức chủ biên[36], Lý
luận văn học - ván đề và suy nghĩ của Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương [48], Lý
luận văn học của Phương Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà, La
Khắc Hoà, Thành Thế Thái Bình [143]; Các công trình khoa học: Dẫn luận phong
cách học [56], Những vấn đề thi pháp của truyện của Nguyễn Thái Hoà [57], Dẫn luận

kết hợp hài hoà giữa hai yếu tố nội dung và hình thức của tác phẩm nghệ thuật. Trong
khi đó V. Đnepôp lại cho rằng phong cách được coi như là hình thức toàn vẹn có lính
nội dung. ông phát biểu: "phong cách là mối liên hệ của những hình thức, mối liên hệ
đó bộc lộ sự thống nhất của nội dung nghệ thuật".
Viện sỹ M.B. Khrapchenkô sau khi thống kê một số định nghĩa xung quanh phạm
trù phong cách cá nhân, đã đưa ra ý kiến của riêng mình: "Phong cách cần phải được
định nghĩa như thủ pháp biểu hiện cách khai thác hình tượng đội với cuộc sống, như
thủ pháp thuyết phục và thu hút độc giả" [121, 152]. Như vậy, cùng với việc quan tâm
đến yếu tố hình thức có tính nội dung, tác giả còn đặc biệt coi trọng sự thu hút độc giả.
ông cho rằng mỗi một nhà văn có tài đều đi tìm những biện pháp và những ph
ương
tiện độc đáo để thể hiện những tư tưởng và hình tượng của mình, những biện pháp và
những phương tiện cho phép nhà văn đó làm cho những tư tưởng và những hình tượng
ấy trở thành hấp dẫn, dễ lôi cuốn, gần gũi với công chúng độc giả. Và điều đó cũng có
nghĩa là nhà văn tạo ra được phong cách. Trên cơ sở phân tích như vậy, Viện sỹ r
ất
nhất trí với nhận xét của Gôlxuôrxy. "Phong cách - đó là khả năng các nhà văn khắc
phục những chướng ngại vật giữa mình và độc giả, còn sự thành công cao nhất của
phong cách là ở sơ giao tiếp chặt chẽ với độc giả".
Như vậy, xung quanh khái niệm phong cách còn có những quan điểm khác nhau.
Tựu trung lại có hai ý kiến cơ bản: một nhấn mạnh sự thống nhất của những y
ếu tố nội
dung và những yếu tố tạo hình thức của tác phẩm; một cho rằng phong cách được coi
như là hình thức toàn vẹn có tính nội dung. Mặc dù tách bạch như váy nhưng trong đó
có sự thống nhất bởi các tác giả đều quan tâm đặc biệt đến hai yếu tố bộc lộ tài năng
độc đáo của người nghệ sỹ - nội dung và hình thức nghệ thuật của tác phẩm v
ăn
chương.

10

chân chính" là "sự sáng tạo duy nhất của một tinh thần không lấy những tài liệu và
chắp vá tài liệu gồm từng mảnh ở bên ngoài. Trái lại, nó tạo nên một th
ể hoàn chỉnh
nhất phiến gắn liền với nhau chặt chẽ, nói lên một điều duy nhất và được phát triển
thông qua bản thân phù hợp với cách chính đối tượng được hợp nhất ở trong chủ thể".
Nhìn chung các nhà lý luận và nghiên cứu văn học đều nhấn mạnh cá tính sáng tạo,
độc đáo mang tính thẩm Mỵ của nhà văn. Cụ thể hoá các yếu tố tạo phong cách nghệ
thuật tác giả, các nhà nghiên cứ
u đều thống nhất nhà văn muốn có phong cách riêng,
trước hết phải có tư tưởng độc đáo, có cách cảm nhận thế giới độc đáo, có cảm hứng
độc đáo, có hệ thống phương thức riêng độc đáo lẽ dĩ nhiên phải là tính chất độc đáo
chân chính" (Hê ghen). Xung quanh khái niệm phong cách tác giả, vấn đề còn đặt ra là
phong cách tác giả có quan hệ với phong cách thời đại, phong cách trào lưu văn học
nh
ư thế nào? Giữa phong cách với thi pháp liên quan với nhau ra sao?
Nghiên cứu phong cách, ngoài phong cách tác giả, người ta còn nghiên cứu phong
cách thời đại, phong cách trào lưu, nghĩa là cái chung, cái tạo nên sự gần gũi nhau của

11
những phong cách cá nhân. Quan tâm đến mối quan hệ này, A.Xôkôlôv viết: "Hình
thức chủ yếu của sự thống nhất phong cách là khuynh hướng nghệ thuật - phạm trù cơ
bản của quá trình nghệ thuật. Phong cách của khuynh hướng- đó là tính cộng đồng của
những đặc điểm phong cách khiến cho sáng tác của những nghệ sỹ thuộc một khuynh
hướng nhất định gần gũi nhau phong cách riêng lẻ không thể tồn tại n
ếu thiếu cái
chung, thiếu phong cách của khuynh hướng. Phong cách bao giờ cũng bắt nguồn từ cái
chung". Đành rằng phong cách khuynh hướng có ảnh hưởng, tác động trực tiếp tới
phong cách cá nhân nhưng không thể đề cao một cách tuyệt đối phong cách của
khuynh hướng khi mà tác giả cho rằng "phong cách riêng lẻ không thể tồn tại nếu thiếu
cái chung, thiếu phong cách của khuynh hướng. Phong cách bao giờ cũng bắt nguồn từ

hình tượng. Do vậy "việc nghiên cứu các phong cách cũng được bao gồm vào đây trên
bình diện chung".
"Chẳng có căn cứ chặt chẽ
nào để đồng nhất thi pháp học và phong cách học, hoặc
để chia tách dứt khoát chúng với nhau [123, 236]. Theo M.B. Khrapchenkô, phong

12
cách học và thi pháp học có "tính độc lập tương đối", có "sự liên hệ năng động". Vì
vậy chúng có quan hệ rất mật thiết với nhau. Nghiên cứu phong cách không thể không
nghiên cứu những yếu tố thuộc phạm trù thi pháp và ngược lại, thi pháp là cơ sở khoa
học, là bằng chứng đầy sức thuyết phục để làm nên phong cách tác giả. Mối liên quan
ấy được viện sỹ M.B.Khrapchenkô tiếp tục khẳng định: "Thi pháp và phong cách là
những hiện t
ượng liên quan mật thiết với nhau, tuy nhiên những nguyên tắc của thi
pháp có tính chất chung hơn so với những đặc điểm của phong cách".
Trở lại khái niệm phong cách, chúng tôi nhất trí với quan niệm cho rằng: "Nói đến
phong cách là nói đến những biểu hiện độc đáo của tài năng sáng tạo nghệ thuật, có
tính thống nhất và tương đối ổn định, được "lặp đi lặp lại" trong nhiều tác phẩm của
nhà v
ăn, thể hiện cái nhìn và sự chiếm lĩnh nghệ thuật độc đáo của nhà văn đối với thế
giới và con người" [24, 16].
Như vậy, căn cứ duy nhất để khẳng định phong cách tác giả là những đặc điểm nổi
bật (về nội dung và hình thức) trên từng tác phẩm văn học tạo nên tính độc đáo và giá
trị của một nhà văn, một hiện tượ
ng văn học. Theo chúng tôi, những biểu hiện độc đáo
và giá trị thể hiện tài năng sáng tạo nghệ thuật ấy, đều được chi phối từ tư tưởng nghệ
thuật của tác giả. Tư tưởng nghệ thuật ấy lại được cụ thể hoá trong cảm quan hiện
thực, cảm hứng sáng tác chủ đạo, thế giới nhân vật, giọng điệu và ngôn ngữ
Trong
đó cảm quan hiện thực là yếu tố hàng đầu có vị trí quan trọng. Nhà văn Nguyên Tuân

đề này, Gót đã chỉ rõ: "Nghệ thuật không cố gắng đua với tự nhiên trong toàn bộ bề
rộng và chiều sâu của tự nhiên, nó bám vào mặt ngoài các hiện tượng của tự nhiên,
nhưng nó có cái chiều sâu riêng củ
a nó, cái sức mạnh riêng của nó, nó ghi lại những
khoảnh khắc sâu sắc nhất của các hiện tượng bên ngoài ấy, làm phát lộ những gì có
tính quy luật ở chúng, sự hoàn thiện của những cân đối hợp lý, đỉnh cao của cái đẹp,
giá trị của ý nghĩ tư tưởng, độ mạnh của say mê.
Vậy để tỏ lòng biết ơn tự nhiên đã sản sinh ra cả bản thân mình, người nghệ sỹ
dâng trả
lại cho tự nhiên một tự nhiên thứ hại nào đó. Song đây là một tự nhiên được
sinh ra từ tình cảm và tư tưởng, một tự nhiên được hoàn thiện bởi con người".
Như vậy, mỗi nghệ sỹ có sự cảm nhận về thế giới hiện thực khách quan khác nhau
nên sự tái hiện, "dâng trả" cho hiện thực khách quan cũng khác nhau. Sự "dâng trả" ấy
thể hiện trong từng tác phẩm nghệ thu
ật, trong cả gia tài nghệ thuật của họ. Căn cứ duy
nhất để khảo sát, nhận diện bức tranh hiện thực của người nghệ sỹ là tác phẩm nghệ
thuật.
Các tác giả A.Ja Gurevich khi bàn về Các phạm trù Văn hoá Trung cổ, Mai
Nauđôp - tác giả cuốn Tâm lý học sáng tạo văn học đều chú ý đến sự cảm thụ và nhận
thức thế giới. Mai Nauđôp cho rằng, ngườ
i nghệ sỹ là người "cực kỳ nhạy cảm", nên
"anh ta nhanh chóng nhận xét, tóm bắt trúng được tất cả những gì thu hút sự chú ý của
mình, để lại những dấu ấn khống gì xoá nổi trong tâm khảm".
Chu Văn Sơn khi nghiên cứu cảm quan nghệ thuật Xuân Diệu đã có ý kiến xác
đáng: "Có thể hiểu cảm quan như là lối cảm nhận riêng trong đó chứa đựng quan niệm
và cách cắt nghĩa riêng về thế
giới của người nghệ sỹ. Trong những trường hợp thật
điển hình, cảm quan ấy thường đọng lại trong những hình mẫu tổng quát nào đó. Nó
khiến cho cảnh quan thế giới đi vào tâm hồn người nghệ sỹ được khúc xạ qua hình
mẫu ấy. Do đó, khi hiện hình trong sáng tạo thế giới xung quanh sẽ hiện ra như những

ng của gia đình lúc phong lưu cũng như khi sa sút, túng quẫn. Tô
Hoài cũng đã cảm nhận được niềm vui sum họp và nỗi buồn trong cảnh chia ly. Người
cha vô cùng yêu quý, rất cưng chiều anh em "thằng cu" sớm phải từ giã quê hương vào
đồng đất Sài Gòn kiếm sống, vì đã đi tìm việc nhiều nơi ở Hà Nội nhưng không được.
Người mẹ hiền lành, tần tảo, suốt một đời cam chịu số phậ
n nhọc nhằn là mảnh đời
sống động ảnh hưởng sâu sắc đến đôi mắt thơ ngây của nhà văn. Hình ảnh người mẹ
"có buổi chiều ( ) rối rít cuống queo xua con chó vện của nhà cứ lăn xả vào cắn", bởi
"bữa ấy u tôi chỉ thử cái áo vải gốc rồi mai đem nấu nâu" [90, 23-24] ám ảnh day dứt
mãi trong nỗi niềm thương cảm của Tô Hoài. Cái nghèo, cái đói cứ bám ri
ết lấy gia
đình, cho dù quanh năm, suốt tháng "mẹ làm đến khuya lắm. Nhiều lúc thức giấc, nhìn
ra vách hãy còn ánh đèn lung linh" [90, l08], thế mà cuộc sống vẫn hoàn túng thiếu.
Nhưng nỗi gian truân về vật chất của người mẹ chưa thấm thía bằng nỗi đau về linh
thần. Bởi đứa con gái xấu số đã chết vì bệnh sởi, lại "có tới mấy năm rồi, không tin tức
bố tôi", "người làng đồ
n bố tôi đã lấy vợ ở bên Sài gòn" [90, 168], để lại nỗi buồn
trống trải trong tâm hồn người mẹ đáng thương.
Tuổi thơ Tô Hoài rất gần gũi với ông bà ngoại và các dì. Ông ngoại "nghiện rượu
ngữ", khi thì ông sinh sự, đay nghiến chửi bà rằng "chỉ vì con mẹ trời đánh kia mà ông
không có con trai" [90, 15], để rồi cuối cùng ông tìm gậy vừa hét vừa đập tất cả ; khi
lại r
ất hiền lành âu yếm kể biết bao nhiêu là chuyện ngày xưa
Bà ngoại vừa cam chịu, cũng vừa lắm điều nhiều lời "không bao giờ im được" nên
những cuộc xô xát thường xuyên xảy ra. Mặc dù vậy, với "thằng cu" bà lại là người

15
mát tính và chiều chuộng hết lòng. Nhớ những ngày đầu đi học, bà dỗ dành đưa cháu
đến tận trường, thậm chí còn phải vào lớp ngồi cạnh cháu đến khi trống tan, bà lại dắt
cháu về nhà

cuộc chiến tranh và khủng hoảng: chiến tranh thế giới thứ Nhất (1914- 1918); cuộc
khủng hoảng kinh tế (1929- 1933) và cuộc đại chiến thế giới lần thứ Hai (1939- 1945).
Để phục vụ chiến tranh, thực dân Pháp ra sức bóc lột nhân dân ta, khiến đời sống
người dân vô cùng điêu đứng Rồi Pháp đầu hàng Đức rồ
i mở cửa Đông Dương cho
Nhật nhảy vào nước ta, từ đó, dân ta một cổ hai tròng. Hai tên đế quốc Pháp, Nhật với
những chính sách tàn bạo khốc liệt đã trở thành nguyên nhân trực tiếp gây ra nạn đói
vô cùng khủng khiếp trong lịch sử dân tộc - hơn hai triệu người dân chết đói.
Những năm này, không khí ngột ngạt bao trùm cả xã hội và lan dần vào từng ngõ
xóm. Làng quê Tô Hoài chưa bao giờ lại "tiêu điề
u khốn khổ đến như thế. Nghề dệt
lụa đã lụi bại chết hẳn. Khung cửi người ta đem chẻ củi, bán làm củi. Người đi tha
hương bơ vơ những đâu, vãn cả làng. Trông trước thấy cái đói, cái chết mà không biết

16
làm thế nào" [90, 311]. Từ đó, những mối quan hệ xã hội, những nét đẹp văn hoá làng
quê bị xáo trộn, tàn phá dữ dội. "Người ta chơi chắn cạ, xóc đa, thò lò suốt ngày, suốt
đêm. Sát phạt nhau từ một xu trở lên, và cái sự mất trộm vặt thì thường xảy ra. Con
chó, con gà đi tha thẩn ngoài ngõ, vô ý không ai trông mất ngoan ngay. Cái váy, cái
quần phơi ngoài sân, biến là thường. Thậm chí, ngoài vườn có mấy quả đu đủ xanh
cũng bị vặt tr
ụi. Không hôm nào là không có người vác gậy, cầm mõ đi dong ra dong
vào để chửi nhưng đứa ăn cắp vặt" [61, 220]. Xã hội, làng quê ngày càng xơ xác tiêu
điều. "Trên chợ Bưởi, người lang thang ở đâu đến càng nhiều. Buổi tối lăn vào ngủ
trong các cầu chợ, sáng ra nhiều người nằm lại, không còn sức bò đi kiếm được nữa"
[90, 317]. Cảnh đau lòng ấy không chỉ ở một nơi nào, một vùng nào, mà "ở đâu bây
giờ
cũng như ở chợ Bưởi, những chức việc trong làng cả đêm phải đi rình đuổi không
cho người đói đứng lại ở địa phận mình. Sợ đêm nó chết. Và hễ gặp cái xác nào, lập
tức kẻo vứt sang làng kia. Người ta sợ phải chôn. Chôn xác trần trụi không có cả chiếu

bằng nhiều nghề: thợ cửi, bán hàng, phụ kế toán, coi kho cho hiệu buôn giày, dạy học

17
và còn sống qua những ngày thất nghiệp tủi nhục không một đồng xu dính túi. Tô Hoài
đến với nghề văn hết sức tự nhiên và bắt đầu bằng một số bài thơ lãng mạn. Ông sớm
nhận ra rằng đây không phải là mảnh đất "canh tác" của mình và nhanh chóng chuyển
sang "cánh đồng" văn xuôi. Ở mảnh đất này, ông đã chuyển tải mọi chuyện vui - buồn,
hay - dở lên trang sách để trở thành một nhà văn yêu quý của con ngườ
i và cuộc sống
đời thường.
Tô Hoài sớm giác ngộ cách mạng. Trước Cách mạng tháng Tám, ông đã tích cực
tham gia phong trào ái hữu thợ dệt, Thanh niên Dân chủ, vào tổ Văn hoá cứu quốc.
Sau cách mạng, ông đến với đồng bào Tây Bắc và đắm mình trong cuộc sống của các
dân tộc miền núi. Ông cùng ăn, cùng ở, cùng sinh hoạt với họ. Cũng "ăn thịt ngựa, thịt
chó nhạt, ăn rêu đá nướng và bọ hung xào như bà con, cùng vác cửi, thổ
i sáo, bắt
chuột, bắt con túi và đêm trăng sáng theo thanh niên Hmông đi "cướp vợ" [124, 22].
Không những thế, Tô Hoài còn rất quý trọng những người "bạn" nơi núi rừng này. Tô
Hoài tâm sự: "Tôi thích những người ấy lắm. Cô thì nhận là em. Cô thì nhận là con.
Qua họ, mình biết được người thật, việc thật, người bình thường, việc bình thường. Vì
thế, trước kia tôi có biết tý gì về miền núi đâu. Nhưng bây giờ tôi dám viết về miền
núi. Tôi đ
ã viết say sưa về miền núi. Tôi đã để công phu vào việc học tiếng miền núi,
và đã tha thiết yêu người miền núi, coi miền núi như quê hương mình vậy" [132, 532].
Từ đó, ông rất dễ thông cảm với các phong tục và những tình cảm riêng của các dân
tộc. Thế là con mắt quan sát tinh tế thấm đượm tình đời lại có dịp thể hiện trên một
mảnh đất mới. Từ đây, hai mảnh đất máu thị
t trong cuộc đời sáng tạo nghệ thuật được
nhà văn cảm nhận theo một lăng kính hoàn toàn nhất quán. ông cứ bám riết lấy cuộc
sống trong một cảm quan hiện thực đời thường để tung hoành ngòi bút.

hành Hội hữu nghị Việt Xô, ngoài ra ông còn tham gia hoạt động tại phố phường, sinh
hoạt tổ dân phố Các hoạt động không bi
ết mệt mỏi ấy đã giúp nhà văn bắt rễ sâu hơn
vào cuộc sống thường nhật muôn màu muôn vẻ.
2. Quan niệm về văn chương của Tô Hoài
Yếu tố cất lõi tạo cơ sở hình thành cảm quan hiện thực của Tô Hoài không chỉ là
hoàn cảnh gia đình, xã hội và bản thân mà còn là quan niệm về văn chương của tác
giả. Ngay từ những ngày đầu cầm bút, Tô Hoài đã có một quan niệm văn ch
ương
riêng. Dù quan niệm về văn chương của ông chưa được thể hiện một cách có hệ thống
và chiều sâu như Nam Cao, nhưng trong nhiều tác phẩm của mình, nhà văn đã bộc lộ
một cách khá rạch ròi. Từ khi mới cầm bút, Tô Hoài đã nhận thấy: "Chưa bao giờ tôi
bắt chước viết theo truyện của Khái Hưng, Nhất Linh. Mặc dù tôi cũng thích đọc
những truyện ấy. Bởi lẽ gi
ản dị: viết truyện viển vông giang hồ kỳ hiệp, ai cũng có thể
tưởng tượng, nhưng viết giống cái thật thì đời và người trong truyện của mấy ông nhà
giàu con quan và có đồn điền như thế, tôi không biết những kiểu người ấy, không bắt
chước được" [90, 285]. Ý thức sâu sắc về ngòi bút của mình, về cái "tạng" của riêng
mình, Tô Hoài đã sớm nhận ra con đường sáng tạo riêng. Ông tâm sự: những ngày đầ
u
cầm bút, "đời sống xã hội quanh tôi, tư tưởng và hoàn cảnh của chính tôi đã vào cả
trong những sáng tác của tôi. Ý nghĩ tự nhiên của tôi bấy giờ là viết những sự xảy ra
trong nhà, trong làng quanh mình" [90, 236]. Vậy là, viết những chuyện viển vông
giang hồ kỳ hiệp không phải là sở trường của nhà văn, mà cuộc sống bình dị của mình,
quanh mình mới là mảnh đất để nhà văn khai phá. Chính một "gã" văn sĩ nghèo trong
truyệ
n ngắn. Hết một buổi chiều của Tô Hoài đã nghĩ rằng: "mỗi khi cấm bút lên mà
kể chuyện một dòng nước, một cánh hoa, một làn mây trắng, thì gã thấy như mình
đương làm một việc gì trào phúng quá. Gã ngượng với bút. Gã ngượng với chính cái
mặt gã soi thấy ở trong gương" [tr. 195]. Thế là, viết về cái của mình, quanh mình đã

ụi chân ai,
ông phát biểu thật rành rõ: "người ta ra người ta thì phải là người ta đã chứ". Vậy là
theo Tô Hoài, con người trước hết phải là chính mình, phải là tất cả những gì thuộc
quyền sở hữu riêng mà "thượng đế" đã ban phát trao tặng: phải có phẩm chất, cọ thói
tật; có hay, có dở; có tốt, có xấu; có ý thức và vô thức; có bản năng và không bản năng
trong sự thăng bằng tự nhiên để làm nên sự trọn vẹn trong m
ột con người bình thường.
ông cho rằng con người không phải là thánh nhân, càng không thể siêu phàm. Con
người không thể hoàn toàn được gạn lọc bởi những tinh tuý trong suốt như pha lê, mà
ở họ còn tiềm ẩn cái xấu, cái dở, thậm chí cả cái phần đen tối lẩn khuất trong tâm hồn.
Thế nhưng, từ sâu thẳm mỗi con người, cái tốt, cái hay vẫn là cơ bản làm nền tảng đạo
đức bền vững.
Trong sự nghiệp sáng lác củ
a mình, Tô Hoài viết trên nhiều thể loại. Thể loại in
đậm dấu ấn cảm quan con người của nhà văn là thể hồi ký. Trong khi nhiều người viết
hồi ký mong muốn "dựng lên dấu ấn muôn đời của bản thân vượt qua thời gian và ký
ức cá nhân", thì Tô Hoài lại quan niệm hết sức bình thường - có sao viết vậy cả chuyện
mình lẫn chuyện người, cả phẩm chất, cá tính và thói tật. ông sống đến đâu viết
đến
đấy, "không đặt vào sách quá nhiều ý nghĩa như những người khác" (Vương Trí
Nhàn). Vì thế, từ Cỏ dại (1944), Tự truyện (1978), Cát bụi chân ai (1992), đến Chiều
chiều (1999), người ta thấy một Tô Hoài những ngày thơ ấu như dám cỏ dại "nó leo
hoang trong đám cỏ bên lề đường đi. Cái giống cỏ dại, cỏ không tên rườm rà, ken khít
bò ngẩn ngơ trong mấy khoảng đất rác rưởi", qua nhữ
ng năm tháng bước vào trường
đời vật vã kiếm sống, tìm việc làm, tìm miếng ăn và đến với cách mạng trong những
năm đấu của cuộc kháng chiến, để mở ra một giai đoạn mới với tư cách một anh cán
bộ kháng chiến, một nhà báo, một nhà văn

20

đau đớn. Hơ
n thế, Nam Cao không dừng lại ở một số phận, một con người mà đây là
cả một vấn đề nhức nhối trong xã hội cũ (Chí Phèo, Lang Rận, Binh Chức, lão Hạc ).
Tô Hoàn không đẩy con người tới tận cùng sự bi thảm tuyệt vọng như thế. Trong cảm
quan của ông, con người có khổ đau, có bất hạnh, có tha hoá, nhưng họ vẫn còn giữ
được chính mình. Anh Duyên (Nhà nghèo) phải tận mắt chứng kiế
n cảnh đứa con gái
chẳng may bị rắn độc cần chết vào một buổi chiều đi bắt nhái; "mụ Hối" (ông cúm bà
co) bỏ lại hai đứa con thơ vì bệnh nặng nhà nghèo "không có lấy một đồng xu nhỏ"
chữa bệnh; "lão lái Khẽ (Khách nợ) chết vì bị chó dại cắn, "nằm còng queo" trong bốn
ngày Tết; anh Thoại (Quê người) trong cảnh nhà nghèo tiền hết, gạo hết, đứa con nhỏ
lại ốm nhách, "hai mắt cam dịp hẳn lại", "trong nhà không có cái gì đáng giá được một
hào". Chiều ba mươi Tết, anh đi đòi nợ ông cả Thóc có năm hào tám tiền công dệt
lĩnh, vậy mà chỉ được "thanh toán" công nợ bằng một trận đánh nhau kịch liệt. Trông
vào gia cảnh nhà anh sao mà xót xa đến vậy! "Ngày mai mùng một Tết, chẳng có xôi,

21
chẳng có thịt, chẳng có hương, chẳng có nến, nghĩa là chẳng có một thứ gì để cúng.
Vợ chồng đều ăn cơm gạo đỏ với sung muối như thường ngày". Bức bí vì tiền không,
gạo hết, người vợ lại cứ "nhai nhải day dứt mãi", không ghìm nén được, anh vừa đánh,
vừa chửi vợ:
"Mày muốn kêu giời phỏng?"
"Bom Bốp! Huỵch! Huỵch! Huỵch!"
"- Mày cứ kêu, ông c
ứ đánh xem đằng nào được".
Nhưng rồi anh lại xót xa, thương cảm cho cái thân phận của mình, của vợ, của con.
"Anh nằm ngửa mặt, im lặng, vắt hai tay lên sau gáy, mà ngẫm nghĩ về cái nghèo, cái
đói, cái rắc rối, cái khổ sở trong cuộc đời cơ cực của mình". Cực chẳng đã, anh đành
đánh liều ra đồng bắt trộm chó. Việc không thành khiến vợ chồng anh không còn mặt
mũi nào ở lại làng quê, mùng m

niềm vui trọn vẹn. Khi anh đang nghĩ đến "bữa nhắm thú vị chiều nay" thì là lúc anh
phải đi tìm cái Gái. Rồi chỉ trong khoảnh khắc, anh nhìn thấy đứa con gái lớn "nằm
gục trên cỏ, hai tay ôm khư khư giỏ nhái. Lưng nó trần xám ngắt. Chân tay nó co queo

22
lại", khiến người cha "rú lên một tiếng quái gở" trước sự đau đớn đến tột cùng. Đúng
là lúc giận con, anh có thể đánh chửi, thậm chí còn nạt nộ: "Bắt được đứa nào thì ông
giết tươi". Còn lúc này, bao nhiêu tình yêu thương của người cha nghèo trỗi dậy trong
lòng. Anh thương con và vô cùng hối hận. Anh nhận ra rằng: "bấy lâu nó vào cửa vợ
chồng anh, cực khổ trăm đường. Trong người nó có bao nhiêu xương sườn, giơ ra hế
t
cả ( ). Bây giờ nó bỏ nó đi". Bất lực trước sự thật tàn nhẫn quá đột ngột, anh chỉ còn
biết cúi ẵm xác con hai hàng nước mắt rỏ ròng ròng. Đến đây, chúng ta không thể
không nhớ tới người cha trong Trẻ con không được ăn thịt chó của Nam Cao. Miếng
ăn đáng nguyền rủa kia đã làm huỷ hoại nhân cách một người cha và đang tàn phá
băng hoại đạo đức của một con người. N
ếu người cha trong Nhà nghèo của Tô Hoài
còn giữ được lương tâm và tình thương của một tấm lòng phụ tử, thì người cha trong
Trẻ con không được ăn thịt chó của Nam Cao đã đánh rơi mất những đứa con của
mình vì miếng ăn - miếng nhục, vì những dục vọng khoái khẩu tầm thường, thành thử
giữa cái cao thượng và cái thấp hèn, cái nhân tính và phi nhân tính nhiều khi chỉ còn
trong gang tấc và thật quá mong manh. Trong cảm quan của Tô Hoài, m
ọi quy luật của
tình cảm luôn được giữ ở mức thăng bằng, tự nhiên vốn có. Từng cuộc đời, từng số
phận dẫu có muôn ngàn cung bậc vui - buồn, nhưng tất cả đều được Tô Hoài tìm thấy
trong quy luật của tạo hoá và trong khung cảnh giản dị đơn sơ rất đỗi Việt Nam. Ở đó,
những con người bình dị, nhỏ bé, chất phác lúc khổ đau, khi vui sướng họ
ít nghĩ đến
bản thân mà muốn dành tất cả cho những người thân yêu ruột thịt. Sau cách mạng,
trong gia tài đồ sộ của mình viết về đề tài miền núi, Tô Hoài có những thành công

những vui buồn được thể hiện qua tập truyện và ký Ngườ
i ven thành (1972), tiểu
thuyết Quê nhà (1980), Những ngõ phố người đường phố (1982), Kẻ cướp bên Bãi
(1996), tập truyện ngắn Người một mình (1998), tập ký sự Chuyện cũ Hà Nội (1998)
Cuộc đời có muôn vàn éo le trắc trở, biết bao số phận con người còn bất hạnh bởi
tạo hoá bất công. Cái nhìn nhân bản của Tô Hoài trước khổ đau nhọc nhằn của đời
người khiế
n độc giả phải động lòng trắc ẩn. Cuộc sống của mẹ con Mái ( Nước mắt)
rồi sẽ ra sao khi mà cô vừa câm, vừa điếc, vừa có tới sáu mặt con mà vẫn chẳng biết bố
chúng là ai? Sống trong một túp lều tồi tàn ngoài bụi tre đầu làng làm thuê, làm mướn
nuôi con quả là một thử thách nhọc nhằn đè nặng lên đôi vai người đàn bà bất hạnh ấy.
Thế nhưng trong nỗ
i lo âu khắc khoải, cô vẫn được tận hưởng niềm vui được làm mẹ,
được nuôi con và được hy vọng vào con
Biết bao chuyện vui buồn của đời người được nhà văn cảm nhận trong cảm quan
nhân bản đời thường như thế, Một "cô Hậu (Hoa bìm biển), một "cô Tứ" (Tình buồn)
cô đơn khắc khoải chờ "người xưa" cho đến tận cuối đời. Một cán bộ Tần
(Cối! Cối
ơi!) khi "lên voi" khi "xuống chó" để cuối cùng phải lĩnh trọn hai mươi năm tù. Một
"thằng Ếp - tiến sỹ Trần Hùng" (Con ngựa) vênh vang, háo danh, háo lợi, ham địa vị
tiếng tăm, sống buông thả để rồi phải từ giã cõi đời trong một căn bệnh vô phương cứu
chữa. Một nỗi đau đớn chia lìa của những đứa trẻ bất hạnh trong một hoàn c
ảnh éo le
(Hai đứa trẻ đợi đi)
Dù sáng tác của Tô Hoài có giai đoạn còn bị áp lực bởi thời đại, nhưng cảm quan
về con người của nhà văn luôn được thể hiện nhất quán. Đây là hạt nhân cơ bản làm
nên phong cách nghệ thuật Tô Hoài.
2. Cảm quan về xã hội trong dòng chảy tự nhiên của đời sống sinh hoạt,
phong tục
a. Cảm quan về xã hội qua cảnh sinh hoạt đời thường

thường: c
ảnh chửi bới nhau (của bà Ba với những ai bêu xấu cháu bà, của bà Thủ Dân
với bà Ba, của ông ba Cần với ông Nhượng, của ông Nhượng với ông ba Cần ); cảnh
bêu xấu nhau ("thằng Khói" bêu xấu cô Ngây, anh Thìn nói xấu "thằng Toàn" ); cảnh
tan tác chia lìa (anh trưởng Khiếu bỏ làng đi phu cao su, vợ chồng anh Thoại ra đi vào
ngày mùng một Tết ); cảnh trai gái yêu nhau, hẹn hò (Hời - Ngây, Thoại - Bướm);
cảnh những thanh niên làng vui vẻ rủ nhau đi xem hội ; cảnh "vào chập t
ối, những
ngày phiên chợ, thợ tơ thợ cửi đi chơi dong nhan nhản ngoài đường, đứng họp chuyện
ở những ngã ba ngã tư, vui vẻ đông đủ như hội"; cảnh "buổi chiều những người trong
làng lũ lượt đi chợ về. Tay ai cũng xách các thức ăn. Người này một xâu cá mè, người
kia một dây những miếng thịt trâu bạc nhạc, hoặc vài ba miếng mỡ lợn. Có người l
ại
đựng lên trên nón một ôm rau muống, một gói đậu, mấy cái bánh đa, mấy bánh đậu
phụ"; cảnh "làng vắng tanh, những khung cửi, guồng tơ xếp cả lại. Nhiều nhà túng,
bán cả đi, không hòng sinh nhai gì về nghề nữa". Từ đó sinh ra trộm cắp, tệ nạn xã hội
hoành hành: "Người ta chơi chắn cạ, xóc (ra, thò lò suốt ngày suốt đêm. Sát phạt nhau
từ một xu trở lên. Và cái sự mất trộm vặt thì thườ
ng xảy ra luôn không hôm nào là
không có người vác gậy cầm mõ đi dong ra dong vào để chửi những đứa ăn cắp vặt".
Bức tranh xã hội trong cảm quan của Tô Hoài bắt đầu từ bao cảnh sinh hoạt đời
thường như thế. Mỗi bước thăng trầm trong mưu kế sinh nhai cùng niềm vui, nỗi buồn
trong cuộc sống sinh hoạt của người dân là minh chứng đầy thuyết phục phản ánh cuộc
sống nghèo đói lạ
c hậu, bấp bênh của người dân nghèo trước cách mạng.
Sau cách mạng, Tô Hoài phản ánh cuộc sống trong một giai đoạn lịch sử xã hội
mới, nhưng cảm quan hiện thực của nhà văn vẫn hoàn toàn nhất quán. Những tác
phẩm viết về đề tài cách mạng, phản ánh cuộc sống mà cách mạng đem đến cho người
dân của Tô Hoài vẫn bắt đầu từ cái nền của cuộc sống sinh hoạt.
Ở đó, người đọc ít

hội. Bám sát từng bước đi của đời sống dân tộc, Tô Hoài không chạy theo sự kiện,
biến cố, mà nhà văn ghi lại dấu ấn qua cảnh sinh hoạt ngày chợ. Mấy ai quên được hậu
quả khủng khiếp của cuộc khủng hoảng kinh tế, của cuộc Chiến tranh thế giới thứ Hai,
của tội ác mà Pháp - Nhật gieo rắc cho đồng bào ta. Cuộc s
ống ấy được nhà văn tập
trung khắc hoạ qua cảnh chợ quê:
"Bói không thấy một hàng gạo. Chỉ có vài mẹt cám là thức ăn sống người nhất
chợ. Người mua tranh nhau húc vào. Mẹt cám hết ngay. Còn lại toàn là hàng củ chuối.
Từng động củ chuối cao ú ụ bằng cây rơm, chỉ một lúc đã vợi. Có những củ chuối thái
mỏng, trộn muối bỏ vào chậu, rắc rau húng lên trên, mỗi bát bán một hào. Nh
ưng
khách mua cũng chẳng mấy, toàn người vêu vao, lượn lờ như gà quanh thúng thóc.
Đám đông quằn quại, lúc nhúc, rách rưới, tanh hôi từ đống bùn rãnh ao ngoi lên, đông
là thế mà chỉ lào xào, phờ phạc, đều đều như sóng đánh, tịnh không một tiếng quát
tháo, cười giòn, mặc cả, chửi bới, say rượu, bò rống, lợn éc" [68, 240- 241]. Đau
thương hơn, nhà nhà còn đem ra chợ từ cái khung cửi, cột nhà, khán thờ bài vị, hòm
sơn then, ống quyể
n đựng bằng sắc gia phả Nhưng nào có ai mua. Người bán, người
xem đờ đẫn không một ai cất nhời hỏi một câu, rồi dần dần lảng cả. Chỉ ở một đống
rác cạnh đấy thì bâu nhâu người ra bới tìm kiếm miếng ăn. Đặc tả cảnh chợ quê trong
những năm nạn đói hoành hành, Tô Hoài đi vào những hình ảnh, những chi tiết cụ thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status