Vấn đề hôn nhân và gia đình ở Đưng K’Nớ Thực trạng và giải pháp - Pdf 23

MỤC LỤC
A - PHẦN MỞ ĐẦU
B - PHẦN NỘI DUNG
I/ Đặc điểm tình hình ở địa bàn xã Đưng K’Nớ
1. Đặc điểm về tình hình kinh tế – xã hội của xã Đưng K’Nớ
2. Một số thuận lợi và khó khăn
II/ Thực trạng vi phạm Pháp luật Hôn nhân và Gia đình ở xã Đưng K’Nớ –
Huyện Lạc Dương
1.Tình hình vi phạm và thủ tục đăng ký kết hôn
2. Tình hình vi phạm chế độ tuổi kết hôn
3. Vi phạm chế độ một vợ một chồng
4. Vi phạm quyền và nghĩa vụ đối với con cái
5. Vi phạm chế độ cấp dưỡng đối với cha mẹ và con cái
6. Kết quả
7. Hạn chế
8. Nguyên nhân vi phạm Pháp luật Hôn nhân và Gia đình trên điạ bàn xã Đưng
K’Nớ – Huyện Lạc Dương
a) Nguyên nhân khách quan
b) Nguyên nhân chủ quan
III/ Phương hướng, mục tiêu, giải pháp để ngăn chặn vi phạm Pháp luật Hôn
nhân và Gia đình trên điạ bàn xã Đưng K’Nớ – Huyện Lạc Dương
1. Phương hướng
2. Mục tiêu
3. Một số giải pháp để ngăn chặn vi phạm Pháp luật Hôn nhân và Gia đình ở xã
Đưng K’Nớ – Huyện Lạc Dương
C - PHẦN KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN
Trang
1
1. Kiến nghị
2. Kết luận
Trang

thúc đẩy tiến bộ xã hội.
2. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài:
a) Mục đích:
- Tăng tính thực thi của Luật hôn nhân và Gia đình ở điạ bàn để đề cao
nguyên tắc bình đẳng nam nữ, vợ chồng bình đẳng, cùng nhau nuôi dạy con cái,
xây dựng gia đình văn hoá mới.
- Nhằm ngăn chặn tình trạng tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối nhau trên
điạ bàn xã.
b) Nhiệm vụ:
- Tăng cường giáo dục nếp sống cho nhân dân: Sống và làm việc theo Hiến
pháp và pháp luật. Trong đó là Luật Hôn nhân và Gia đình, đồng thời chuẩn bị
kiến thức nhất định cho thanh thiếu niên trên điạ bàn bước vào cuộc sống gia
đình theo giá trị truyền thống tốt đẹp cuả chúng ta hiện nay.
- Thực trạng và giải pháp nhằm ngăn chặn vi phạp pháp luật Hôn nhân và
Gia đình ở xã Đưng K’Nớ từ đó đưa ra giải pháp hữu hiệu góp phần tăng tính
thực thi của pháp luật nói chung và Luật Hôn nhân và Gia đình nói riêng.
3. Ý nghĩa khóa luận đối với việc giải quyết tình hình ở điạ phương:
Giúp cho nhân dân trên điạ bàn hiểu rõ giá trị và đảm bảo tính thực
thi Luật hôn nhân và Gia đình, đồng thời đảm bảo quy định cuả Luật Hôn nhân
và Gia đình đi vào cuộc sống nhân dân, giúp cho nhân dân có cơ sở xây dựng gia
đình văn hoá mới.
Từ vấn đề được nhận thức sâu sắc Luật hôn nhân và Gia đình, cuộc sống
của đại đa số nhân dân từ đó xây dựng chế độ hôn nhân tiến bộ: vợ chồng bình
đẳng, cùng nhau nuôi dạy con cái, chung thủy một vợ, một chồng, tích cực hưởng
Trang
4
ứng phong trào xây dựng thôn, buôn, xã văn hoá, gia đình văn hóa, xã hội văn
minh và bền vững.
4. Phạm vi và kết cấu của khóa luận:
Lấy điạ bàn xã Đưng k’Nớ – Huyện Lạc Dương làm trọng tâm nghiên cứu.

265.5 hecta; còn lại 35.5 hecta là đất trồng lúa nước.
- Về Dân số:
+ Dân tộc Kinh có 06 hộ với 16 nhân khẩu
Trang
6
+ Còn lại là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trên điạ bàn.
- Về Tôn giáo:
+ Thiên Chúa giáo (137 hộ)
+ Tin Lành (37 hộ)
- Về trình độ văn hóa:
+ Cấp I (375 người)
+ Cấp II (450 người)
+ Cấp III (120 người)
+ Cao đẳng (43 người)
+ Đại học (11 người)
- Về lý luận chính trị
+ Trung cấp (21 người)
+ Sơ cấp (01 người)
- Về cơ cấu kinh tế: Trước đây với tập quán du canh du cư của bà con dân
tộc và những người dân kinh tế mới về đây lập nghiệp cùng với những sản xuất
lạc hậu, công cụ lao động thô sơ, từ đó dẫn đến kinh tế chậm phát triển, thời gian
lao động kéo dài, năng suất chất lượng thấp, đời sống nhân dân vô cùng khó
khăn.
- Được sự quan tâm, lãnh đạo của Đảng ủy xã và sự quản lý điều hành của
chính quyền đã vận động nhân dân sống định canh định cư, chăm lo đầu tư cho
phát triển kinh tế, áp dụng các phương thức sản xuất mới. Đồng thời được sự ưu
đãi của thiên nhiên, khí hậu thích hợp cho các loại cây trồng như cà phê, lúa, ngô,
khoai…, cùng với phong trào xoá đói giám nghèo. Đặc biệt là sự quan tâm cuả
Đảng và Nhà nước như đầu tư nhà tình thương, Chương trình 134, 127, từ đó, đời
sống nhân dân từng bước được cải thiện.

8
b) Khó khăn:
Đưng K’Nớ là một xã vùng sâu vùng xa còn nghèo, điạ bàn dân cư đất
rộng người thưa, giao thông đi lại khó khăn, trình độ dân trí thấp nên cuộc sống
đồng bào còn gặp nhiều khó khăn. Do đó cần sự hỗ trợ cuả nhà nước về đầu tư cơ
sở hạ tầng, đầu tư về sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là giống cà phê, bò lai sin,
dê, gà thả vườn, đầu tư về vốn: tạo điều kiện cho hộ nghèo vay, trong đó có các
tổ chức như Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân…
Vì vậy công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Luật Hôn nhân và Gia đình gặp
nhiều khó khăn. Cơ sở vật chất thiếu thốn, tài liệu tuyên truyền còn hạn hẹp dẫn
đến có nhiều trường hợp vi phạm pháp luật.
II. THỰC TRẠNG VI PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH Ở
XÃ ĐƯNG K’NỚ:
Luật Hôn nhân và Gia đình là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp
luật Việt Nam, là tổng thể các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các mối quan
hệ hôn nhân và gia đình, tức là quan hệ về nhân thân và các quan hệ tài sản giữa
vợ chồng, giữa cha mẹ và các con và những người thân thích ruột thịt khác, các
quan hệ xã hội phát sinh từ việc kết hôn, ly hôn, nuôi con nuôi, xác định mối
quan hệ cha mẹ, con cái… cũng như những quy định trách nhiệm của công dân,
nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình
Việt Nam, nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, bền vững và hạnh
phúc.
Luật Hôn nhân và Gia đình được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi
hành từ tháng 01/1986 và sửa đổi, bổ sung vào thàng 6/2000. Ngay từ khi sửa đổi
đã được các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội đặc biệt quan tâm tổ chức tuyên
truyền, vận động mọi tầng lớp nhân dân thực hiện. Tuy nhiên trong quá trình tổ
chức thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình trên điạ bàn xã Đưng K’Nớ – Huyện
Lạc Dương vẫn còn hạn chế gây ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục, nếp sống
Trang
9

+ Làm lễ kết hôn (lễ cưới)
Nếu có trường hợp nghi vấn phải xuất trình các lạoi giấy tờ khác
không mắc bệnh tâm thần, hoặc mất nhận thức.hoặc mất nhận thức.hoặc mất
nhận thức.
Người nào không thực hiện các quy định trên thì cuộc hôn nhân đó không
có giá trị pháp lý (dù có tổ chức lễ cưới hoặc đã có con …) Do đó muốn đăng ký
kết hôn phải được lột tả ý chí, nguyện vọng kết hôn cũng như điều kiện cần và đủ
do luật định. Giá trị pháp lý của hôn nhân phải được UBND xã công nhận và ghi
rõ vào sổ kết hôn. Quyền và nghĩa vụ vợ chồng chỉ thực sự phát sinh khi được
UBND xã cho phép đăng ký kết hôn, ghi tên vào sổ hộ tịch và trao giấy chứng
nhận kết hôn cho đôi nam nữ .
Theo quy định tại Điều 24, Nghị định số 83/1998/ND ngày 10/10/1998 của
Chính phủ về đăng ký hộ tịch, khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, UBND cấp xã phải tiến
hành xác minh điều kiện kết hôn và niêm yết công khai việc đăng ký xin kết hôn
tại trụ sở UBND trong thời hạn 7 ngày, nếu cần xác minh thêm thì thời hạn kéo
dài không quá 07 ngày .
Sau thời hạn nói trên, kể từ ngày thông báo, nếu hai bên nam, nữ không
đến đăng ký kết hôn mà không có lý do chính đáng thì UBND xã huỷ việc đăng
ký kết hôn và thông báo cho đương sự biết .
Nam nữ tự do tìm hiểu, đến với nhau, có ý nghĩa là để cho họ tự định đoạt
lấy tương lai hạnh phúc là bản chất của Luật Hôn nhân và Gia đình, cơ quan chức
năng làm thủ tục theo luật định thì không thể chấp nhận được. Hôn nhân tự do
tiến bộ phải phải được đảm bảo về mặt pháp lý, tuân thủ pháp lý, có như vậy mới
thể hiện đầy đủ sự tôn trọng và quyết tâm đến với nhau của lứa đôi, mặt khác nói
lên trách nhiệm của xã hội thông qua Nhà nước pháp quyền để bảo vệ hôn nhân
tiến bộ và những lợi ích chính đáng trong quan hệ gia đình .
2/Tình hình vi phạm độ tuổi kết hôn .
Trang
11
Tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 quy định “ Nam đủ 20

phúc. Bản chất của tình yêu là đòi hỏi hôn nhân tất yếu phải là hôn nhân cá thể,
xã hội Việt Nam cần thiết và có điều kiện để khắc phục ngoại tình và mại dâm để
hôn nhân một vợ một chồng được thực hiện trọn vẹn, trở thành một hiện thực.
Trong những năm qua, tình hình vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một
chồng trên địa bàn xã Đung K’Nớ – Lạc Dương vẫn còn xảy ra tuy không nhiều.
Trước thực trạng này người chịu thiệt thòi nhất vẫn là người phụ nữ .
Phương thức chủ yếu của việc xây dựng gia đình hạnh phúc là vợ chồng
bình đẳng và nề nếp, thương yêu và có trách nhiệm với nhau là nét đặc trưng
quan hệ vợ chồng trong gia đình, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ly hôn, gia đình
tan nát là do người đàn ông hành hạ, ngược đãi đối với vợ con, hắt hủi vợ con khi
có những mối tình vụng trộm mới .
Tính từ năm 2000 đến 2006 có 2 vụ vi phạm chế độ 1 vợ 1 chồng, 1 trường hợp
đã có vợ ,có chồng, nhưng lại quan hệ chung sống với người khác như vợ chồng.
Còn trường hợp tiếp theo là lấy vợ 2. trước thực trạng này người chịu thiệt
thòi vẫn là người phụ nữ.
Để có gia đình hoà thuận, hạnh phúc thì cả vợ lẫn chồng phải xác định vợ
chồng yêu thương chăm sóc giúp nhau cùng tiến bộ.
Chung thuỷ là nghĩa vụ vợ chồng vốn là nét bản chất của tình yêu sau hôn
nhân, đồng thời là hình thức hôn nhân mới. Đây không chỉ là nghĩa vụ pháp lý
quy định tại Điều 18 Luật Hôn nhân và Gia đình sửa đổi năm 2000 mà còn là đạo
lý của dân tộc Việt Nam .
Tình hình vi phạm chế độ một vợ một chồng chẳng những ảnh hưởng đến
hạnh phúc gia đình mà còn làm cho trật tự an toàn xã hội ở địa phương không
được đảm bảo .
4/Vi phạm quyền và nghĩa vụ đối với con cái :
Tại Điều 34 Luật Hôn nhân và Gia đình sửa đổi năm 2000 quy định :
Trang
13
“Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền thương yêu, trông nom nuôi dưỡng, chăm
sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con, tôn trọng ý kiến của con, chăm lo

con cái đối với cha mẹ. Đây là nghĩa vụ pháp luật đồng thời là nghĩa vụ đạo đức
mang tính nhân văn sâu sắc của truyền thống dân tộc Việt Nam .
6/ Kết quả :
Trước kia với phong tục tập quán du canh, du cư của đồng bào dân tộc và
những tập tục lạc hậu còn mang nặng những tàn dư của chế độ hôn nhân và gia
đình phong kiến. Từ khi xã được thành lập tháng 9/1999 cho đến nay các tập tục
lạc hậu hầu như đã xoá đi, Luật Hôn nhân và Gia đình đã có hiệu lực .
Qua việc triển khai tuyên truyền Luật Hôn nhân và Gia đình, dưới sự lãnh
đạo của Đảng Uỷ xã, sự quản lý điều hãnh của chính quyền xã, Ban tư pháp xã đã
phối hợp với ban, ngành, đoàn thể, nhất là Hội phụ nữ đã tổ chức triển khai tuyên
truyền giáo dục đến mọi đối tượng và các tầng lớp nhân dân trong xã. Được đồng
tình ủng hộ và tích cực tham gia tuyên truyền vận động nhân dân của cán bộ làm
công tác pháp luật . mà luật hôn nhân và gia đình đã từng bước thực hiện khá tốt .
Chính vì vậy mỗi gia đình đã có những thay đổi đáng kể đặc biệt là vai trò
của người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội được tôn trọng, vợ chồng bình
đẳng, hoà thuận nuôi dạy con cái trở thành công dân có ích cho xã hội được xem
là một trong những tiêu chí chung. Một số các phong tục tập quán lạc hậu đã từng
bước loại bỏ dần như trọng nam, khinh nữ, tình trạng tảo hôn …. Xã đang xây
dựng mô hình văn hoá mới. Vận động thanh niên nam nữ khi kết hôn phải đăng
ký kết hôn tại UBND xã, xây dựng các tổ hoà giải để thực hiện hoà giải, các mâu
thuẫn tranh chấp trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Do đó so với năm trước
tình trạng kết hôn không đăng ký đã đuợc giảm nhiều.
7/ Hạn chế:
Trang
15
Trong những năm qua, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn một số
hạn chế như sau:
Công tác tuyên truyền và phổ biến luật hôn nhân gia đình đã được thực
hiện nhưng chưa thường xuyên và chưa sâu. Bên cạnh đ1o trình độ cán bộ làm
công tác tuyên truyền còn có nhiều hạn chế, công tác tổ chức thiếu ổn định nên

Là xã với nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp nên đời sống kinh tế còn gặp khó
khăn .
Là một xã đất rộng người thưa, cơ sở hạ tầng thấp nên việc am hiểu và
chấp hành pháp luật còn nhiều hạn chế . Một số tập tục lạc hậu v.v
Trên đây là những nguyên nhân chủ yếu đẫn đến tình trạng vi phạm pháp
luật hôn nhân và gia đình ở xã Đưng K’nơk .
Để khắc phục tình trạng này cầm có nhưng biện pháp hữu hiệu để hạn chế
vi phạm đồng thời nâng cao trình độ, nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ
đảng viên, đoàn viên, hội viên và toàn thể nhân dân trong xã, nhất là thanh niên
nhằm xây dựng xã hội lành mạnh, văn minh, xây dựng gia đình no ấm hạnh
phúc .
III. PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU, GIẢI PHÁP ĐỂ NGĂN CHẶN
VI PHẠP PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN XÃ
ĐƯNG K’NƠK – HUYỆN LẠC DƯƠNG .
Xuất phát từ thực trạng vi pháp pháp luật hôn nhân và gia đình nói trên để
hạn chế tình trạng vi phạm thì phải tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật sâu
rộng cho nhân dân và thực sự đi vào đời sống của nhân dân, cần có những giải
pháp kế hoạch rõ ràng , hiệu quả để nhằm hạn chế giảm thiểu tình trạng vi phạm .
1. Phương hướng :
Trang
17
Tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước của UBND, đề cao vai trò các thành
viên Hội đồng nhân dân, UBND trong việc giáo dục tuyên truyền pháp luật nói
chung và Luật hôn nhân gia đình nói riêng . Nâng cao quyền hạn và ngĩa vụ của
Hội dồng nhân dân và UBND đối với các mối quan hệ gia đình, vai trò của
HĐND và UBND phải thể hiện rõ định hướng giúp nhân dân đễ dàng nhận thức
hiểu biết và thực hiện pháp luật . Đưa ra các chính sách, biện pháp tạo điều kiện
để nam nữ kết hôn nhân tự nguyện, tiến bộ giúp đỡ các gia đình thực hiện đầy đủ
các chức năng của mình . Tăng cường các biện pháp tuyên truyền, phổ biến pháp
luật về hôn nhân và gia đình, vận động nhân dân xoá bỏ phong tục tập quán lạc

truyền phổ biến pháp luật cho nhân dân . Đồng thời phát huy trách nhiệm trong
việc giáo dục vận động nhân dân xây dựng gia đình văn hoá .
Mọi hành vi hành hạ, ngược đãi ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cháu, anh
chị em và các thành viên khác trong gia đình phải xử lý kịp thời, nghiêm minh
đúng pháp luật . Đồng thời tăng cường phổ biến pháp luật trong đó chú trọng các
văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và UBND có thẩm quyền
ban hành các văn bản quy phạm pháp luật mới nhất là Luật hôn nhân và gia đình
sửa đổi năm 2000 nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân góp
phần ổn định trật tự kỷ cương và giảm sự vi phạm pháp luật .
Chính quyền tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân phát triển kinh tế, nâng
cao trình độ dân trí, cải tiến nâng cao chất lượng quản lý, điều hành, tăng cường
phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền, các ban ngành đoàn thể và các tổ chức xã
hội trong công tác tuyên truyền giáo dục và thực thi pháp luật tại địa phương, có
như vậy mới xây dựng được gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, đó là niềm hạnh
phúc nhỏ của mỗi người .
3. Một số giải pháp để ngăn chặn vi phạm Luật hôn nhân và gia đình
ở xã Đưng K’Nơk – huyện Lạc Dương .
Từ thực trạng và nguyên nhân hành vi vi phạm pháp luật đã phân tích
Trang
19
như trên vì vậy muốm quản lý tốt công tác để ngăn chặn hành vi vi phạm pháp
luật hôn nhân và gia đình nhằm góp phần phát triển kinh tế – xây dựng gia đình
tiến bộ bền vững, chúng tôi đưa ra một số giải pháp cơ bản sau :
a) Thông qua các mô hình câu lạc bộ gia đình văn hoá, tổ phụ nữ tiết kiệm
tổ phụ nữ không sinh con thứ 3, thường xuyên sinh hoạt định kỳ, sinh hoạt trong
các ngày lễ lớn trong năm để lồng ghép tuyên truyền các chỉ thị, Nghị quyết của
Đảng và Nhà nước và các nhiệm vụ của hội . Trong đó có luật hôn nhân và gia
đình tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân hiểu và xây dựng nếp sống gia đình văn
hoá mới. Giữ vững và phát huy phong tục tập quán, đạo đức tốt đẹp của dân tộc
địa phương, cán bộ phải hiểu dân, sát dân, từ đó mà lãnh đạo, thuyết phục dân

gia đình cho thế hệ trẻ .
Cần có hệ thống lồng ghép một số kiến thức pháp luật có tác dụng thiết
thực đối với cha mẹ và các em, có những chính sách biện pháp cụ thể, hữu hiệu
nhằm tạo những chuyển biến tích cực trong nhận thức của công dân, xác lập hôn
nhân tự nguyện, tiến bộ xây dựng gia đình hạnh phúc .
c) Xây dựng và củng cố tổ hoà giải :
Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam thật sự trong sạch vững mạnh
là mục tiêu phấn đấu của Đảng và Nhà nước ta . Khi sống chung trong cộng đồng
dân cư thì họ sẽ rất hiểu hoàn cảch của nhau, cũng như lúc buồn họ chia sẻ tâm
tình với nhau …
Để hạn chế vi phạm Luật hôn nhân gia đình đó là xây dựng và củng cố tổ
hoà giải vì đây là bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ đồng thời sẽ góp phần hạn
chế vi phạm pháp luật .
d) Vận động nhân dân phát triển kinh tế xây dựng gia đình ấm no bình
đẳng, tiến bộ và hạnh phúc, phát động phong trào thi đua phát triển kinh tế vươn
lên làm giàu chính đáng cải thiện đời sống gia đình, tăng cường vận động nhân
dân và xã hội hỗ trợ người nghèo, khó khăn , vùng dân tộc thiểu số .
Trang
21
Huy động nguồn lực tổ chức các hoạt động hỗ trợ vốn kiến thức kinh
nghiệm cho nhân dân thông qua các hình thức nhóm, tổ .
Chỉ tiêu phấn đấu đến hết năm 2011 có từ 30 – 40% theo hướng p[hát triển
ngành nghề tạo thêm việc làm tại địa phương như dệt thổ cẩm truyền thống của
dân tộc .
Tổ chức các hoạt động hỗ trợ phụ nữ có kiến thức, có kỹ năng, tổ chức
cuộc sống gia đình, tạo điều kiện cho cho chị em phụ nữ cũng như nhân dân để
xây dựng gia đình bình đẳng, tiến bộ hạnh phúc góp phần thực hiện phong trào
toàn dân đăng ký xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư .
Tiếp tục triển khai 4 chuẩn mực xây dựng gia đình no ấm bình đẳng tiến bộ
hạnh phúc đến cán bộ hội và vận động chị em đăng kly1 thực hiện chỉ tiêu phấn

Để nâng cao công tác hạn chế vi phạm pháp luật hôn nhân và gia đình trên
địa bàn xã Đưng K’Nớ – Huyện Lạc Dương, có thể hiện một số kiến nghị như
sau:
- Đảng và nước cần phải quan tâm, đào tạo, bồi dưỡng về mặt chuyên môn,
nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác tuyên truyền, bố trí cán bộ cho phù hợp và lâu
Trang
23
dài. Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước để nhằm hạn chế vi phạm pháp luật
hôn nhân và gia đình.
- UBND xã đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho việc giáo dục pháp luật
nói chung và Luật Hôn nhân và gia đình nói riêng, vì có như vậy công tác tuyên
truyền mới thu hút được đông đảo quần chúng nhân dân tham gia và việc giáo
dục, tuyên truyền mới đạt được hiệu quả tốt.
- UBND xã Đưng K’Nớ kiến nghị lên Phòng Tư pháp Huyện Lạc Dương,
Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng có những tài liệu giáo dục, hướng dẫn, cung cấp
xuống điạ phương , cơ sở, giúp cho công tác về giáo dục pháp luật hôn nhân và
gia đình được tốt hơn.
- UBND và các ngành chức năng cần tăng cường công tác kiểm tra, thanh
tra việc thực hiện va chấp hành pháp luật về Hôn nhân và gia đình, các quyền và
nghĩa vụ cuả công dân, quyền được chăm sóc bà mẹ và trẻ em.
- cần có những kế họch đào tạo đội ngũ cán bộ có chuyên môn sâu về pháp luật,
đảm bảo cho công tác quản lý nhà nước về vấn đề hôn nhân và gia đình trên điạ
bàn xã, xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp kế cận có thể kế thừa một cách có hiệu
quả, đáp ứng được với yêu cầu phát triển cuả xã hội
- Đề nghị huyện đoàn, huyện hội quan tâm đến hội viên phụ nữ và tạo mọi
điều kiện để ổn định phát triển kinh tế gia đình có nhu cầu xin vay vốn.
- Đề nghị các cấp lãnh đạo, các ban, ngành, đoàn thể và các ngành chức
năng quan tâm đến điều kiện học tập và hỗ trợ một phần kinh phí cho con em
đồng bào dân tộc, quan tâm đến điều kiện sinh hoạt vui chơi, giải trí cho thanh
niên. Đó là sự cần thiết đến nay.

nuôi dạy các thành viên trẻ trong gia đình dưới sự giúp đỡ của nhà nước và xã
hợ, nên trong quá trình hôn nhân và gia đình hiện nay ở nước ta phát sinh nhiều
quan hệ nhân thân và về tài sản giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ với con cái, giữa
các thành viên trong gia đình với nhau. Để điều chỉnh các quan hệ xã hội này,
Trang
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status