GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA CỦA HỆ THỐNG LỄ HỘI
TRÊN ðỊA BÀN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
Bùi Huy Toàn 1. Mở ñầu
Là một vùng ñất phát tích của dân tộc Việt Nam, Phú Thọ ñang sở hữu một hệ thống các
di sản văn hóa vật thể và phi vật thể nằm trong dòng chảy mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và
giữ nước của dân tộc ta. Trong ñó, hệ thống lễ hội dân gian là giá trị văn hóa truyền thống tiêu
biểu, chiếm vị trí hết sức quan trọng trong ñời sống văn hóa, tinh thần của người dân ðất Tổ từ
ngàn ñời nay. Việc gìn giữ hệ thống di sản văn hóa truyền thống chính là một cách ñể nền văn hóa
của dân tộc ta không bao giờ bị phai nhạt, lãng quên.
Luật Di sản văn hoá nêu rõ: “Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng ñồng
các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự
nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta”.
Tuy vậy, Di sản văn hóa của Phú Thọ nói chung, thành phố Việt Trì nói riêng hiện nay ñều
có thực trạng là ñang bị mai một và xuống cấp nghiêm trọng. Người dân thiếu ý thức tôn trọng,
thậm chí còn tàn phá di sản. Bên cạnh ñó, một vài ñịa phương có di sản văn hóa ñược xếp hạng thì
lại tự tu bổ, sửa chữa tùy hứng, thậm chí tùy tiện, ñiều ñó làm biến tướng di sản… Vấn ñề giáo
dục nhận diện di sản, tuyên truyền, quảng bá, nâng cao nhận thức về di sản trong cộng ñồng nói
chung, trong các trường học nói riêng cần ñược chúng ta quan tâm một cách nghiêm túc và toàn
diện. Vấn ñề là làm cách nào ñể nhận diện một cách chính xác những giá trị văn hóa, lịch sử khoa
học của di sản ñể có hướng bảo tồn, phát huy phù hợp là một trăn trở lớn của các nhà giáo dục và
văn hóa.
Thực hiện ñề tài này, chúng tôi hướng tới việc nhận diện và ñịnh vị giá trị cội nguồn của
các di sản văn hóa trong hệ thống lễ hội trên ñịa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; từ ñó,
chúng tôi có những khuyến nghị khoa học và ñề xuất các mô hình cụ thể nhằm gìn giữ và phát
huy hơn nữa những giá trị to lớn của di sản văn hóa trên quê hương ðất Tổ.
2. Nội dung
2.1. Khái quát về hệ thống lễ hội trên ñịa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
2.1.2. Thống kê, phân loại lễ hội ở thành phố Việt Trì
Lễ và hội là một thể thống nhất không thể chia tách. Lễ là phần tín ngưỡng, là phần thế
giới tâm linh của con người, là phần ñạo. Còn hội là phần tập hợp vui chơi giải trí, ñời sống văn
hoá thường nhật, phần ñời của mỗi con người, của cộng ñồng. Hội gắn liền với lễ và chịu sự quy
ñịnh nhất ñịnh của lễ, có lễ mới có hội.
Lễ hội truyền thống ở Việt Trì có những ñặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất: lễ hội truyền thống ở ñây ñều gắn với tín ngưỡng thờ cúng các vua Hùng, vợ
con và tướng lĩnh thời ñại các vua Hùng.
Thứ hai: lễ hội truyền thống ở Việt Trì tái hiện và gắn liền với sinh hoạt nông nghiệp của
cư dân.
Thứ ba: lễ hội truyền thống ở Việt Trì chủ yếu ñược tổ chức vào mùa xuân.
Thứ tư: các lễ hội truyền thống ở Việt Trì ñều gắn với di tích ñình, ñền, chùa. Có thể gọi các
di tích gắn với lễ hội như phần hồn và phần xác, di tích là phần xác còn lễ hội là phần hồn.
Trong số các ñặc trưng trên, ñặc trưng thứ nhất là căn bản. Các lễ hội liên quan ñến Hùng
Vương chính là trung tâm hội tụ, lan tỏa và chi phối các lễ hội khác trên ñịa bàn Việt Trì. Có thể
phân chia lễ hội truyền thống ở Việt Trì thành các nhóm cơ bản sau ñây:
Bảng 1. Lễ hội gắn với Hùng Vương
ST
T
Lễ hội
Biểu hiện
1
Lễ hội ðền Hùng, xã Hy
Cương
thờ vua Hùng và các nhân vật liên quan.
Lễ hội ñình Việt Trì,
phường Bến Gót
thờ các vua Hùng có công ñánh giặc giữ nước.
ST
T
Lễ hội
Biểu hiện
6
Lễ hội làng Triệu Phú,
xã Hy Cương
thờ các vua Hùng, Tản Viên, công chúa Ngọc
Hoa, Tiên Dung và 3 vị thần Núi.
7
Lễ hội làng Vân Luông,
xã Vân Phú
thờ các tướng nhà Hùng và Tản Viên.
4
Lễ hội ñình Phú Nông, phường Minh
Phương
chơi ñu, rước thuyền.
5
Lễ hội ñền Tam Giang, phường Bạch Hạc
cướp còn và nấu cơm thi.
6
Lễ hội ñình Phương Châu, phường Minh
Phương
chơi ñu.
7
Lễ hội ñi săn Thanh ðình, xã Thanh ðình
săn muông thú .Bảng 3. Lễ hội gắn với lịch sử
STT
Lễ hội làng Mộ Chu Hạ, phường
Bạch Hạc
gắn với thờ vua Lê ðại Hành.
Bảng 4. Lễ hội hát Xoan
STT
Lễ hội
Các phường xoan gốc
làng Phù ðức
làng Thét1Lễ hội hát Xoan xã Kim ðức
làng Kim ðái
2
với người Việt Nam thì chủ nghĩa yêu nước là nhân tố hàng ñầu trong bảng (hệ) giá trị dân tộc,
nhưng với người Nhật Bản hay một số dân tộc khác thì có thể chủ nghĩa yêu nước lại ñược xếp ở
các vị trí khác Thường thì nhiều dân tộc ñều có chung những giá trị, như yêu nước, cần cù, tính
cộng ñồng , tuy nhiên, trong từng hệ giá trị của mỗi dân tộc thì việc xếp ñặt thứ tự ưu tiên, ñộ
nhấn của từng yếu tố giá trị ấy trong bảng giá trị thì có thể khác nhau.
Có thể nói, bất cứ lễ hội nào cũng mang trong mình những giá trị văn hóa mang tính phổ
quát như: cố kết cộng ñồng – dân tộc, hướng vệ cội nguồn, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc hay
giá trị văn hóa tâm linh v.v… Tuy nhiên, tính chất của những giá trị ấy không giống nhau bởi vì
mỗi lễ hội ñều gắn với một ñịa bàn cư trú nhất ñịnh với các ñiều kiện tự nhiên và lịch sử hình
thành khác nhau, ñặc biệt là gắn với các chủ thể văn hóa khác nhau. Theo ñó, giá trị văn hóa của
hệ thống lễ hội trên ñịa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ sẽ mang ñầy ñủ những tính chất, sắc
thái cội nguồn, phát tích của dân tộc Việt Nam.
2.2.2. Tính chất cội nguồn của hệ thống lễ hội ở Việt Trì
Cố kết tinh thần cộng ñồng quốc gia – dân tộc, cộng ñồng làng xã:
Nếu lễ hội nào cũng có giá trị cố kết tinh thần cộng ñồng thì không ñâu có sức mạnh như ở
vùng ðất Tổ. Bởi hơn hết, sự cố kết tinh thần cộng ñồng ở ñây ñã vượt ra phạm vi của một làng,
một vài làng ñể vươn ra quy mô quốc gia – dân tộc.
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương khẳng ñịnh rằng, tất cả những con người Việt Nam ñều
thuộc một dòng máu Lạc – Hồng, ñã là người Việt Nam ai cũng phải có tổ tiên và tổ tiên chung ấy
chính là Hùng Vương. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương sở dĩ ñược công nhận là di sản văn hóa
ñại diện của nhân loại là bởi có tính cộng ñồng mạnh mẽ. Tín ngưỡng ấy có thể thu hút mọi người
từ khắp nơi trên ñất nước Việt Nam, kể cả những người xa xứ sống ở Pháp, Mĩ, Anh… cùng bái
vọng về lễ hội ðền Hùng với tấm lòng thành kính, biết ơn. Bởi vậy, lễ hội ðền Hùng nói riêng và
hệ thống lễ hội ở Việt Trì nói chung có sức thu hút, cố kết cộng ñồng mạnh hơn bất cứ lễ hội nào
khác.
Trong tâm thức của người Việt ñương ñại “tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ñã trở thành
một sợi chỉ ñỏ ñể liên kết cội nguồn, liên kết mọi người hướng về nguồn cội”. ðó chính là cơ sở
tạo nên sức mạnh ñại ñoàn kết dân tộc.
Giá trị cân bằng, làm ñiểm tựa cho ñời sống tâm linh dân tộc:
ðối với hệ thống lễ hội ở Việt Trì, ñặc biệt là lễ hội ðền Hùng còn tạo nên sự kết nối giữa
nước. Do ñó, lễ hội tự mang trong mình giá trị kinh tế ñặc biệt “kinh tế du lịch văn hoá tâm linh”.
Vấn ñề ở chỗ, khai thác giá trị văn hóa ấy như thế nào trong xã hội hiện nay.
2.3. Phương hướng bảo tồn, khai thác giá trị văn hóa của hệ thống lễ hội ở Việt Trì
2.3.1. Tính cấp thiết cần phải bảo tồn
Bên cạnh những thành tựu ñã ñạt ñược trong quá trình khai thác các giá trị lễ hội trên ñịa
bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ còn có những hạn chế sau:
Trong công tác tổ chức, chỉ ñạo phục dựng các lễ hội do chưa ñược nghiên cứu ñầy ñủ và
công tác chuẩn bị cho tổ chức lễ hội chưa ñược chu ñáo dẫn tới việc ở một số lễ hội ñược phục
dựng làm mất ñi một số nghi lễ và hình thức diễn xướng dân gian.
Công tác ñào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý di tích - lễ hội, cán bộ thuyết minh viên tại các
lễ hội chưa ñược tổ chức thường xuyên hàng năm.
Cơ sở hạ tầng phục vụ lễ hội, ñặc biệt là hệ thống nhà nghỉ, khách sạn còn thiếu vào nghèo
nàn nên việc bố trí nơi ăn nghỉ cho du khách ở ñiểm tổ chức lễ hội lớn, có ñông người dự hội như
Khu di tích lịch sử ðền Hùng còn nhiều khó khăn. Hơn nữa, chưa có sản phẩm ñặc trưng của ñịa
phương, ñặc thù của văn hóa cội nguồn ðất Tổ ñể bày bán. Trong hoạt ñộng dịch vụ du lịch, công
tác hướng dẫn khách tham quan vào những ngày hội tại các ñiểm di tích còn thiếu nên khách du
lịch ñến tham quan chủ yếu là tự tìm hiểu.
Các doanh nghiệp ñầu tư phát triển các dịch vụ, khai thác các chương trình du lịch lễ hội
còn rất hạn chế.
Chưa thực sự tạo dựng ñược môi trường du lịch tốt ở các ñiểm tổ chức lễ hội: vẫn còn có
hiện tượng chèo kéo khách, tăng giá bắt chẹt khách trong mùa lễ hội. Các tệ nạn mê tín dị ñoan cờ
bạc chưa ñược ngăn chặn triệt ñể.
2.3.2. Quan ñiểm bảo tồn, khai thác
Bảo tồn y nguyên:
Những người theo quan ñiểm này cho rằng, sản phẩm của quá khứ nên ñược bảo tồn nguyên
vẹn như nó vốn có ñể tránh tình trạng thế hệ hiện tại làm méo mó, biến dạng di sản. Mỗi di sản chứa
ñựng những giá trị văn hóa xã hội nhất ñịnh mà không phải lúc nào thế hệ hiện tại cũng có thể hiểu
biết một cách cụ thể ñể có thể phát huy những giá trị ấy một cách thích hợp.
Bảo tồn trên cơ sở kế thừa:
Quan ñiểm này dường như là một xu thế khá phổ biến trong giới học giả hiện nay khi bàn ñến
những mặt hạn chế của việc tổ chức và duy trì lễ hội hiện nay (lễ hội còn hay mất trước hết là do
nhận thức và hành ñộng của chính những người dân sở tại).
Cần ñẩy mạnh hoạt ñộng nghiên cứu khoa học về những giá trị văn hóa của lễ hội cổ truyền.
Quá trình ñô thị hóa, CNH, HðH nông nghiệp, nông thôn là một xu thế tất yếu. ðể tiến hành ñô
thị hóa, nhiều giá trị văn hóa làng xã sẽ bị xói mòn, thất truyền, mai một. Chính vì vậy, cẩn phải
khẩn trương tiến hành các nghiên cứu khoa học nhằm xây dựng ñược những hồ sơ về các giá trị di
sản văn hóa nói chung, di sản lễ hội nói riêng. Trên cơ sở ñó, kiến nghị với các cơ quan hữu quan
về những biện pháp bảo tồn phù hợp.
Mô hình bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa gắn kết với phát triển sinh kế cộng ñồng:
Thực chất của mô hình này là gắn giá trị di sản văn hóa của lễ hội với phát triển kinh tế - xã
hội ở Việt Trì. Trong phạm vi của ñề tài này, chúng tôi ñề xuất mô hình gắn giá trị văn hóa của lễ
hội với phát triển du dịch.
Trên cơ sở các ñiểm du lịch và hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn, lễ hội truyền thống và
các di tích ñã xác ñịnh, tuyến du lịch có thể xác ñịnh tuyến Quốc tế, tuyến liên tỉnh và nội tỉnh.
- Về tuyến quốc tế: Vân Nam - Lào Cai - Phú Thọ - Hà Nội - Quảng.
- Tuyến liên tỉnh xác ñịnh ðền Hùng là trung tâm:
+ Hà Nội - Vĩnh Phúc (Tam ðảo - Hồ ðại Lải - ðầm Vạc) - Việt Trì (ðền Hùng và các di
tích lễ hội khu vực ðền Hùng thành phố Việt Trì).
+ Hà Nội - Việt Trì - Sơn La - ðiện Biên - Lào Cai (Sapa), ñây là tuyến Tây Bắc, vừa kết
hợp du lịch lễ hội với các di tích lịch sử và tham quan ngắm cảnh thiên nhiên.
- Tuyến nội tỉnh, lấy Việt Trì và khu di tích ðền Hùng làm trung tâm:
+ Tuyến Việt Trì - Phù Ninh - ðoan Hùng
+ Tuyến Việt Trì - Lâm Thao - Tam Nông - Hạ Hoà
+ Tuyến Việt Trì - Lâm Thao - Thanh Sơn - Tân Sơn
+ Tuyến Việt Trì - Lâm Thao - Tam Nông - Thanh Thuỷ
Từ lợi thế của nền văn hoá cội nguồn và lễ hội vùng ðất Tổ có thể hoạch ñịnh chiến lược
nhằm phát triển kinh tế - xã hội, trước hết là gắn lễ hội với hoạt ñộng du lịch văn hóa có tính ñặc
trưng của thành phố Việt Trì. ðể phát huy ñược lợi thế và hoạt ñộng du lịch lễ hội có hiệu quả,
hoạt ñộng bảo tồn phát huy các giá trị của lễ hội cần phải ñặt trong mối quan hệ liên ngành, liên
vùng trong khu vực và cả nước ñể phát triển. Trong ñó, vấn ñề chính sách quy hoạch lễ hội phải
4. Bùi Thiết (2000), Từ ñiển lễ hội Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin.
5. Ngô ðức Thịnh (2007), Về tín ngưỡng và lễ hội cổ truyền, Nxb Văn hoá thông tin.
6. Lê Trung Vũ (1991), Lễ hội mùa xuân vùng ðất Tổ, Nxb Khoa học xã hội.
7. Trần Quốc Vượng (1986), Lễ hội, một cái nhìn tổng thể, Tạp chí văn hoá nghệ thuật, số 1.