GVGD: Trần Thị Thiên Ý Nghiệp vụ ngoại thương _ Nhóm 1A
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU
1.1. Lý do chọn đề tài
Nền kinh tế toàn cầu mở ra cơ hội to lớn hơn bao giờ hết để doanh nghiệp tiếp
cận tới các thị trường khắp nơi trên thế giới. Hàng hoá được bán ra ở nhiều nước
hơn, với số lượng ngày càng lớn và chủng loại đa dạng hơn. Giao dịch mua bán
quốc tế ngày càng nhiều và phức tạp. Do vậy, nếu hợp đồng mua bán hàng hoá
không được soạn thảo một cách kỹ lưỡng sẽ có nhiều khả năng dẫn đến sự hiểu
nhầm và những vụ tranh chấp tốn kém tiền bạc.
Incoterms, quy tắc chính thức của Phòng Thương Mại Quốc tế về giải thích
các điều kiện thương mại, tạo điều kiện cho giao dịch thương mại quốc tế diễn ra
một cách trôi chảy. Việc dẫn chiếu đến Incoterms 2000 trong một hợp đồng mua bán
hàng hoá sẽ phân định rõ ràng nghĩa vụ tương ứng của các bên và làm giảm nguy cơ
rắc rối về mặt pháp lý. Kể từ khi Incoterms được Phòng Thương mại Quốc tế soạn
thảo năm 1936, chuẩn mực về hợp đồng mang tính toàn cầu này thương xuyên được
cập nhật để bắt kịp với nhịp độ phát triển của thương mại quốc tế.
Incoterms 2000 có cân nhắc tới sự xuất hiện nhiều khu vực miễn thủ tục hải
quan trong thời gian và qua, việc sử dụng thông tin liên lạc điện tử ngày càng thông
dụng, về cả những thay đổi về tập quán vận tải. Incoterms 2000 đã sửa đổi và
thể hiện nội dung của 13 điều kiện thương mại một cáchđơn giản hơn và rõ ràng
hơn.
Nhằm kịp thời cập nhật các quy định mới, nâng cao nhận thức và khả năng vận
dụng linh hoạt, Incoterms 2010 là phiên bản mới nhất đã được hoàn chỉnh vào tháng
9/2010, và được ban hành áp dụng từ 1/1/2011. Incoterms 2010 có nhiều điều chỉnh
mới như: Giảm số điều kiện mẫu xuống còn 11 điều kiện theo hướng phù hợp hơn
với các phương thức vận tải thực tế, dễ lựa chọn, đề cập thêm thông tin liên quan
đến an ninh lô hàng, lời khuyên cho việc sử dụng Incoterms trong thương mại trong
nước.Vì thế, nó có tác động rất lớn đến hoạt động thương mại quốc tế.
Với vai trò quan trọng và những điều kiện được hoàn thiện, rõ ràng hơn,
Incoterm ngày càng được áp dụng rộng rãi trong các hoạt động thương mại quốc tế.
Đề tài sử dụng thông tin thứ cấp được lấy từ sách, báo, tạp chí hoặc các báo
cáo điện tử có liên quan đến Incoterms và việc ứng dụng Incoterms ở Việt Nam.
Trang 2
GVGD: Trần Thị Thiên Ý Nghiệp vụ ngoại thương _ Nhóm 1A
Chương 2
TỔNG QUAN VỀ INCOTERMS
2.1. Khái niệm và sự ra đời của Incoterms
2.1.1. Khái niệm về Incoterms
Incoterms (viết tắt của International Commerce Terms - Các điều khoản
thương mại quốc tế) là một bộ các quy tắc thương mại quốc tế được công nhận và sử
dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Incoterm quy định những quy tắc có liên quan đến
giá cả và trách nhiệm của các bên (bên bán và bên mua) trong một hoạt động thương
mại quốc tế.
Incoterm quy định các điều khoản về giao nhận hàng hoá, trách nhiệm của các
bên: Ai sẽ trả tiền vận tải, ai sẽ đảm trách các chi phí về thủ tục hải quan, bảo hiểm
hàng hoá, ai chịu trách nhiệm về những tổn thất và rủi ro của hàng hoá trong quá
trình vận chuyển , thời điểm chuyển giao trách nhiệm về hàng hoá.
2.1.2. Sự ra đời của Incoterms
Bộ Incoterms đầu tiên được ICC ban hành vào năm 1936 dưới tên gọi là
Incoterms 1936. Để phù hợp với thực tế thương mại Incoterms đã được sửa đổi bổ
sung vào các năm 1953, 1967, 1976, 1980, 1990 và lần gần nhất là vào cuối năm
1999 đã cho ra đời bộ Incoterms năm 2000.
Incoterms 1980: Gồm 14 điều kiện, Ex Works; Free Carrier; Free on
Rail/Free on Truck; Fob Airport; Free alongside Ship; Free on Board; Cost and
Freight; Cost, insurance and freight; Freight Carriage paid to; Freight Carriage and
insurance paid to; Ex Ship; Ex Quay; Delivered at frontier; Delivered Duty paid.
Incoterms 1990: Gồm 13 điều kiện, EXW; FCA; FAS; FOB; CFR; CIF;
CPT; CIP; DAF; DES; DEQ; DDU; DDP.
Incoterms 2000: Gồm 13 điều kiện, EXW; FCA; FAS; FOB; CFR; CIF;
CPT; CIP; DAF; DES; DEQ; DDU; DDP và được chia làm 4 nhóm (E, F, C, D)
Trang 4
GVGD: Trần Thị Thiên Ý Nghiệp vụ ngoại thương _ Nhóm 1A
Nhưng tốt hơn, vì mục đích rõ ràng, khi sử dụng điều kiện này nên viết theo các văn
bản chính thức.
Trong một số trường hợp các bên có thể lựa chọn một cách diễn đạt không
thống nhất với bất kỳ điều kiện nào được trình bày trong Incoterms. Một ví dụ:
FOB+I. ở đây rõ ràng là các bên cố ý cộng thêm nghĩa vụ mua bảo hiểm cho người
bán. Nhưng không rõ ràng đây có phải là loại nghĩa vụ tương tự mà người ta có thể
tìm thấy trong điều kiện CIF hay CIP không. Hậu quả là tranh chấp có thể phát sinh
khi thêm nghĩa vụ mua bảo hiểm cho người bán khi nó xuất hiện trong một điều
kiện khác.
Trong phần lời nói đầu của ấn phẩm Incoterms khác nhau luôn có thêm phần
chú ý được nhấn mạnh rằng, các thương nhân có thể giải thích một cách chính xác
nếu có thể được, họ muốn gì khi họ sử dụng một điều kiện khác hay thêm một điều
kiện nào đó vào một điều kiện thương mại quốc tế.
2.3. Các điều khoản chủ yếu của Incoterms
2.3.1. Các điều khoản
a. Mục đích và phạm vi áp dụng Incoterms
Mục đích của Incoterms là cung cấp một bộ quy tắc quốc tế để giải thích những
điều kiện thương mại thông dụng nhất trong ngoại thương. Từ đó có thể tránh được
hoặc ít nhất là giảm được đáng kể sự không chắc chắn do cách giải thích khác nhau
về những điều kiện đó tại các nước khác nhau.
Nhiều khi các bên ký kết hợp đồng không biết rõ những tập quán thương mại
của nước từ đó có thể gây ra những sự hiểu lầm, những vụ tranh chấp và kiện tụng
gây ra sự lãng phí thì giờ và tiền bạc. Để giải quyết vấn đề này, Phòng Thương mại
Quốc tế đã xuất bản lần đầu tiên năm 1936 một bộ quy tắc quốc tế để giải thích các
điều kiện thương mại mang tên Incoterms 1936. Việc sửa đổi và bổ sung những quy
Trang 5
GVGD: Trần Thị Thiên Ý Nghiệp vụ ngoại thương _ Nhóm 1A
tắc đó vào các năm 1953, 1967, 1976, 1980, 1990, 2000 và 2010 nhằm làm cho
người mua hoặc chuyển giao hàng cho người chuyên chở hoặc giao hàng tới địa
điểm quy định- và cùng với các nghĩa vụ là sự phân chia rủi ro giữa các bên trong
từng trường hợp.
Hơn nữa, các điều kiện của Incoterms quy định nghĩa vụ làm các thủ tục thông
quan cho hànghoá xuất khẩu và nhập khẩu, bao bì đóng gói hàng hoá, nghĩa vụ của
người mua về chấp nhận việc giao hàng cũng như nghĩa vụ cung cấp bằng chứng
chứng tỏ rằng các nghĩa vụ tương ứng của bên kia đã được thực hiện đầy đủ. Mặc dù
Incoterms cực kỳ quan trọng cho việc thực hiện các hợp đồng mua bán hàng, song
còn nhiều vấn đề có thể xảy ra trong hợp đồng đó không được Incoterms điều chỉnh,
như việc chuyển giao quyền sở hữu và các quyền về tài sản khác, sự vi phạm hợp
đồng và các hậu quả của sự vi phạm hợp đồng cũng như những miễn trừ về nghĩa vụ
trong những hoàn cảnh nhất định. Cần nhấn mạnh rằng Incoterms không có ý định
thay thế các điều khoản và điều kiện cần phải có đối với một hợp đồng mua bán
hàng hoàn chỉnh bằng việc đưa vào các điều kiện chuẩn hoặc các điều kiện được
thoả thuận riêng biệt.
Nhìn chung, Incoterms không điều chỉnh hậu quả của sự vi phạm hợp đồng và
bất kỳ sự miễn trừ nghĩa vụ nào do nhiều trở ngại gây ra. Các vấn đề này phải được
giải quyết bằng những quy định khác trong hợp đồng mua bán hàng và luật điều
chỉnh hợp đồng đó.
Incoterms luôn luôn và chủ yếu được sử dụng khi hàng hoá được bán và giao
qua biên giới quốc gia. Do vậy, Incoterms là các điều kiện thương mại quốc tế. Tuy
nhiên, trong thực tế cũng có khi Incoterms được đưa vào hợp đồng mua bán hàng
trong thị trường nội địa thuần tuý. Trong trường hợp Incoterms được sử dụng như
vậy, các điều kiện A2 và B2 và các quy định khác trong các điều khoản về xuất nhập
khẩu trở nên thừa.
b. Dẫn chiếu Incoterms vào hợp đồng mua bán hàng
Trang 7
GVGD: Trần Thị Thiên Ý Nghiệp vụ ngoại thương _ Nhóm 1A
Do những sự sửa đổi với Incoterms trong từng thời kỳ khác nhau, nên một
điều quan trọng cần lưu ý là khi các bên muốn đưa Incoterms vào hợp đồng mua bán
CFR Tiền hàng và cước ( …cảnh đến quy định)
CPT Cước phí trả tới ( nơi đến quy định )
CIP Cước phí và bảo hiểm trả tới ( nơi đến quy định )
Nhóm D: Nơi đến
DAF Giao tại biên giới ( địa điểm quy định )
DES Giao tại tàu ( cảng đến quy định )
DEQ Giao tại cầu cảng ( cảng đến quy định )
DDU Giao chưa nộp thuế ( Nơi đến quy định )
DDP Giao đã nộp thuế ( Nơi đến quy định )
Ngoài ra trong tất cả các điều kiện, giống như trình bày ở Incoterms 1990, nghĩa vụ
tương ứng của các bên được tập hợp dưới 10 tiêu đề, mỗi tiêu đề đều nêu nghĩa vụ
của người bán và nghĩa vụ tương ứng của người mua.
Trang 9
GVGD: Trần Thị Thiên Ý Nghiệp vụ ngoại thương _ Nhóm 1A
2.3.2. Giải thích cụ thể các điều khoản
EXW: GIAO TẠI XƯỞNG
Điều kiện EXW (viết tắt của thuật ngữ tiếng Anh "Ex Works" dịch ra tiếng
Việt là "Giao tại xưởng" có nghĩa là người bán giao hàng khi đặt hàng hoá dưới
quyền định đoạt của người mua tại cơ sở của người bán hoặc tại một địa điểm quy
định (ví dụ xưởng, nhà máy, kho tàng, v.v ), hàng hoá chưa được làm thủ tục thông
quan xuất khẩu và chưa được bốc lên phương tiện tiếp nhận.
Điều kiện này, thể hiện nghĩa vụ của người bán ở phạm vi tối thiểu, và người
mua phải chịu mọi phí tổn và rủi ro từ khi nhận hàng tại cơ sở của người bán.
Tuy nhiên nếu các bên muốn người bán chịu trách nhiệm bốc hàng lên phương
tiện chuyên chở tại điểm đi và chịu rủi ro và các phí tổn về việc bốc hàng đó, thì
điều
này phải được quy định rõ ràng bằng cách bổ sung thêm từ ngữ cụ thể trong
hợp đồng mua bán. Không nên sử dụng điều kiện này khi người mua không thể trực
tiếp hoặc gián tiếp làm các thủ tục xuất khẩu. Trong trường hợp như vậy, nên sử
dụng điều kiện FCA, với điều kiện người bán đồng ý sẽ bốc hàng và chịu chi phí và
Ðiều kiện FOB (viết tắt của thuật ngữ tiếng Anh "Free On Board" dịch ra tiếng
Việt là "Giao lên tàu") có nghĩa là người bán giao hàng khi hàng hoá đã qua lan can
tàu tại cảng bốc hàng quy định . Ðiều này có nghĩa rằng người mua phải chịu tất cả
chi phí và rủi ro về mất mát hoặc hư hại đối với hàng hoá kể từ sau điểm ranh giới
đó. Ðiều kiện FOB đòi hỏi người bán làm thủ tục thông quan xuất khẩu cho hàng
hoá. Ðiều kiện này chỉ sử dụng cho vận tải đường biển hay đường thuỷ nội địa. Nếu
các bên không có ý định giao hàng qua lan can tàu, thì nên sử dụng điều kiện FCA.
Trang 11
GVGD: Trần Thị Thiên Ý Nghiệp vụ ngoại thương _ Nhóm 1A
CFR: TIỀN HÀNG VÀ CƯỚC
Điều kiện CFR (viết tắt của thuật ngữ tiếng Anh "Cost and Freight" dịch ra
tiếng Việt là "Tiền hàng và cước") có nghĩa là người bán giao hàng khi hàng hoá đã
qua lan can tàu tại cảng gửi hàng.
Người bán phải trả các phí tổn và cước vận tải cần thiết để đưa hàng tới cảng
đến quy định NHƯNG rủi ro về mất mát và hư hại đối với hàng hoá cũng như mọi
chi phí phát sinh thêm do các tình huống xảy ra sau thời điểm giao hàng được
chuyển từ người bán sang người mua khi hàng qua lan can tàu tại cảng gửi hàng.
Điều kiện CFR đòi hỏi người bán phải thông quan xuất khẩu cho hàng hoá .
Điều kiện này chỉ sử dụng cho vận tải đường biển và đường thuỷ nội địa. Nếu
các bên không có ý định giao hàng qua lan can tàu thì nên sử dụng điều kiện CPT.
CIF: TIỀN HÀNG, BẢO HIỂM VÀ CƯỚC
Điều kiện CIF (viết tắt của thuật ngữ tiếng Anh "Cost, Insurance and Freight"
dịch ra tiếng Việt là "Tiền hàng, bảo hiểm và cước") được hiểu là người bán giao
hàng khi hàng hoá đã qua lan can tàu tại cảng gửi hàng.
Người bán phải trả các phí tổn và cước vận tải cần thiết để đưa hàng tới cảng
đến quy định NHƯNG rủi ro về mất mát và hư hại đối với hàng hoá cũng như mọi
chi phí phát sinh thêm do các tình huống xảy ra sau thời điểm giao hàng được
chuyển từ người bán sang người mua. Tuy nhiên theo điều kiện CIF người bán còn
phải mua bảo hiểm hàng hải để bảo vệ cho người mua trước những rủi ro về mất mát
hoặc hư hại đối với hàng hoá trong quá trình chuyên chở.
chi phí vận tải cần thiết để đưa hàng hoá tới nơi đến quy định. Điều này có nghĩa là
người mua chịu mọi rủi ro và các phí tổn phát sinh thêm sau khi hàng hoá đã được
Trang 13
GVGD: Trần Thị Thiên Ý Nghiệp vụ ngoại thương _ Nhóm 1A
giao như trên. Tuy nhiên, theo điều kiện CIP người bán còn phải mua bảo hiểm để
bảo vệ cho người mua trước những rủi ro về mất mát hoặc hư hại đối với hàng hoá
trong quá trình chuyên chở.
Do vậy, người bán sẽ ký hợp đồng bảo hiểm và trả phí bảo hiểm. Người mua
cần lưu ý rằng theo điều kiện CIP người bán chỉ phải mua bảo hiểm với phạm vi tối
thiểu. Nếu người mua muốn được bảo hiểm với phạm vi lớn hơn, người mua cần
thoả thuận rõ ràng với người bán hoặc tự mình mua bảo hiểm thêm.
"Người chuyên chở" là bất kỳ người nào, mà theo một hợp đồng vận tải, cam
kết tự mình thực hiện hoặc đảm trách việc chuyên chở bằng đường sắt, đường bộ,
hàng không, đường biển, đường thuỷ nội địa hoặc kết hợp các phương thức vận tải
đó. Nếu có những người chuyên chở kế tiếp được sử dụng để vận chuyển hàng hoá
tới nơi đến thoả thuận, thì rủi ro chuyển giao khi hàng hoá đã được giao cho người
chuyên chở đầu tiên. Điều kiện CIF đòi hỏi người bán phải thông quan xuất khẩu
cho hàng hoá . Điều kiện này chỉ sử dụng cho mọi phương thức vận tải, kể cả vận tải
đa phương thức.
DAF: GIAO TẠI BIÊN GIỚI
Điều kiện DAF (viết tắt của thuật ngữ tiếng Anh "Delivered At Frontier" dịch
ra tiếng Việt là "Giao tại biên giới") có nghĩa là người bán giao hàng hoá được đặt
dưới quyền định đoạt của người mua trên phương tiện vận tải chở đến, chưa dỡ ra,
đã hoàn thành thủ tục thông quan xuất khẩu, nhưng chưa làm thủ tục thông quan
nhập khẩu ở địa điểm và nơi quy định tại biên giới, nhưng chưa qua biên giới hải
quan của nước liền kề. Thuật ngữ "biên giới" có thể được sử dụng cho bất kỳ đường
biên giới nào kể cả biên giới của nước xuất khẩu. Do đó, điều đặc biệt quan trọng là
đường biên giới cần phải được xác định một cách chính xác bằng cách luôn luôn
phải quy định điểm đến và nơi đến trong điều kiện này.
Tuy nhiên, nếu các bên muốn người bán chịu trách nhiệm về việc dỡ hàng hoá
GVGD: Trần Thị Thiên Ý Nghiệp vụ ngoại thương _ Nhóm 1A
một phần phí tổn phải trả khi nhập khẩu hàng hoá, điều này nên được quy định rõ
ràng bằng cách bổ sung thêm từ ngữ cụ thể trong hợp đồng mua bán.
Điều kiện này chỉ có thể được sử dụng khi hàng hoá được giao hàng bằng
đường biển, hoặc đường thuỷ nội địa hoặc vận tải đa phương thức khi dỡ khỏi tàu
lên cầu tàu ở cảng đến quy định. Tuy nhiên nếu các bên muốn quy định cho người
bán nghĩa vụ phải chịu phí tổn và rủi ro trong việc dịch chuyển hàng hoá từ cầu tàu
tới một nơi khác (nhà kho, nhà ga, bến đỗ, phương tiện vận tải v.v ) ở bên trong
hoặc bên ngoài cảng, thì nên sử dụng điều kiện DDU hoặc DDP.
DDU: GIAO HÀNG TẠI ĐIỂM QUY ĐỊNH
DDU viết tắt tiếng Anh là Delivered Duty Unpaid tiếng Việt dịch là giao hàng
chưa nộp thuế. Theo điều kiện này thì, người bán phải chịu rủi ro, phí tổn để thuê
phương tiện chở hàng tới nơi quy định để giao cho người mua, nhưng người bán
không có nghĩaa vụ làm thủ tục thông quan nhập khẩu và nộp thuế nhập khẩu cho lô
hàng.
DDP: GIAO HÀNG TẠI ĐIỂM QUY ĐỊNH
DDP ( Delivered Duty Paid ) Giao hàng đã nộp thuế. Đây là điêu kiện mở rộng của
DDU, theo đó không những phải đưa hàng đến nơi quy định để giao cho người mua
mà còn phải chịu cả rủi ro và chi phí để hoàn thành thủ tục thông quan nhập khẩu
hàng hóa cũng như các khoản thuế nếu có
Trang 16
GVGD: Trần Thị Thiên Ý Nghiệp vụ ngoại thương _ Nhóm 1A
CHƯƠNG 3
TÌNH HÌNH ÁP DỤNG INCOTERM TẠI VIỆT NAM
3.1. Tình hình áp dụng Incoterms ở Việt Nam
3.1.1. Incoterms và việc sử dụng các điều kiện cơ sở giao hàng
Incoterm bao gồm nhiều điều kiện như đã nói, sử dụng điều kiện nào là do hai
bên thỏa thuận và phụ thuộc vào hành trình, phương thức vận tải, công cụ vận tải…
Theo xu hướng chung của thị trường mua bán quốc tế, các doanh nghiệp nước ngoài
phần lớn đã cập nhật phiên bản Incoterms 2000 với những điều kiện người bán
nận được vận đơn PAL phải thanh toán ngay cho UNM-TB thế nhưng PAL vẫn nói
rằng tuy họ đã nhận được vận đơn song hàng vẫn trên đường vận chuyển, chưa
chuyển quyền sở hữu vì vậy không thanh toán tiền hàng và cho rằng kiện người
vận tải là nghĩa vụ của người bán. UNM-TB đã thuyết phục PAL nhiều lần nhưng
không có nghĩa.
Xét trong nghiệp vụ trên thì việc vận chuyển rủi ro từ người bán sang người
mua không căn cứ vào lỗi của người vận tải, nếu người vận chuyển có lỗi thì người
mua phải kiện người vận chuyển đòi bồi thường chứ không thể viện lý do người vận
chuyển có lổi mà chuyển rủi ro cho người bán.
Việc phân chia rủi ro trong việc mua bán hàng hóa quốc tế theo quy dịnh của
các điều kiện trong thương mại quốc tế - Icomterms 1990 ( hiện nay đã sửa đổi, bổ
sung là Incoterms 2000 ) đang được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới thì người
mua phải chịu rủi ro với hàng hóa kể từ nơi xuất hàng ( đối với các điều kiện gian
hàng ExW, FCA, FAS, FOB, CIF, CPT ) hoặc từ nơi hận hàng ( đối với các điều
kiện DES, DEQ, DAF, DDP, DDU )
Trang 18
GVGD: Trần Thị Thiên Ý Nghiệp vụ ngoại thương _ Nhóm 1A
3.1.3. Vấn đề thuê phương tiện vận tải và mua bảo hiểm hàng hóa
Trong việc buôn bán quốc tế, người xuất khẩu cũng như người nhập khẩu đều
mong muốn dành được “ về quyền vận tải và bảo hiểm hàng hóa” nhất là “quyền
thuê tàu “. Trên thực tế đã xảy ra nhiều trường hợp các doanh nghiệp Việt Nam nhập
khẩu theo điều kiện CIF, theo đó người bán nước ngoài thuê tàu và họ đã thuê
những con tàu già, tàu “ma”(tàu không chủ) hay chủ tàu đã phá sản ,tau không có
bảo hiểm trách nhiệm. Hậu quả là tàu bị tai nạn hoặc không được hàng và người
mua Việt Nam phải chịu vì rủi ro mất mát, hư hỏng của hàng hóa trong quá trình
vận chuyển đã chuyển sang người mua khi hàng được giao tại cảng đi, ngay cả khi
theo điều kiện CIF, CIP.
Các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là CIF và bán FOP, không đàm phán ký
kết hợp đồng thuê tàu vì vậy khi xuất nhập khẩu các doanh nghiệp cần phải qui định
chi tiết trong hợp đồng mua bán những yêu cầu về con tàu mà người bán phải thuê
hoá và thuê tầu (container) trong nước, chắc chắn sẽ làm tăng doanh số cho các
doanh nghiệp này, giải quyết thêm việc làm cho cộng đồng của chúng ta, hơn là để
các công ty nước ngoài thu được phí bảo hiểm và cước tầu.
+ Lợi ích với các cán bộ nghiệp vụ trong các doanh nghiệp xuất nhập khẩu:
Theo thông lệ của các công ty bảo hiểm và hãng tầu, luôn luôn trích lại một tỷ
lệ gọi là “tiền hoa hồng - commission” cho những người giao dịch trực tiếp với họ.
Số tiền này không hề ảnh hưởng đến tiền hàng (cost) của doanh nghiệp. Thay vì phí
bảo hiểm và cước tầu nước ngoài được hưởng, nếu các cán bộ nghiệp vụ trình Giám
đốc phương án xuất khẩu theo điều kiện CIF, thì họ rất xứng đáng được nhận khoản
Trang 20
GVGD: Trần Thị Thiên Ý Nghiệp vụ ngoại thương _ Nhóm 1A
hoa hồng trên, chúng ta không nên coi đó là tiền hối lộ, như lâu nay nhiều người
thường quan niệm.
Lợi ích khi nhập bằng giá FOB:
+ Lợi ích cho quốc gia: Nếu tất cả các doanh nghiệp trong nước nhập khẩu theo
điều kiện FOB, thuê tầu và mua bảo hiểm trong nước, trả phí bằng đồng Việt Nam,
khi đó chúng ta chỉ phải thanh toán cho phần NK là 58,32 tỷ USD, thay vì 62,70 tỷ
USD như hiện nay. Số ngoại tệ nhập khẩu giảm (-) 4,38 tỷ USD, do chúng ta tiết
kiệm được tiền bảo hiểm và cước tầu phải trả cho nước ngoài.
+ Lợi ích đối với doanh nghiệp trực tiếp nhập khẩu: Các doanh nghiệp trả tiền
ký quỹ để mở L/C ít hơn nếu nhập khẩu theo điều kiện CIF. Nếu nhập khẩu theo
điều kiện CIF, khi khách nước ngoài giao hàng, sau 3 ngày họ đã điện đòi tiền. Nếu
nhập khẩu theo điều kiện FOB, khi hàng cập cảng, doanh nghiệp nhập khẩu mới
phải trả tiền cước tầu, doanh nghiệp không bị tồn vốn, hoặc không phải trả lãi vay
ngân hàng cho khoản tiền cước tầu, giảm được giá thành hàng nhập khẩu.
3.2.2. Thách thức
Incoterms là tập quán thương mại, không có tính chất bắt buộc. Chỉ khi nào
các bên tham gia hợp đồng quy định sử dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa thì
nó mới trở thành điều kiện bắt buộc, ràng buộc nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên
tham gia hợp đồng
khẩu, thường đề nghị khách nước ngoài chào hàng theo điều kiện CIF, hoặc CFR
(giá hàng và cước phí)
Trang 22
GVGD: Trần Thị Thiên Ý Nghiệp vụ ngoại thương _ Nhóm 1A
Những bất lợi khi doanh nghiệp xuất khẩu bằng điều kiện FOB:
+ Bản thân doanh nghiệp không chủ động được về tất cả các thủ tục giao hàng,
bị lệ thuộc bên kia.
+ Doanh nghiệp sẽ không có quan hệ rộng với người bảo hiểm và người vận tải
vì thế sẽ gây nhiều bất lợi cho doanh nghiệp trong quá trình nếu có xảy ra rủi ro.
Trang 23
GVGD: Trần Thị Thiên Ý Nghiệp vụ ngoại thương _ Nhóm 1A
CHƯƠNG 4
CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG INCOTERMS
Chủ động quyền thuê phương tiện vận tải và mua bảo hiểm cho hàng hóa.
Ở Việt Nam, nghiệp vụ xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp còn yếu, như
không biết cách thuê tàu, mua bảo hiểm cho hàng hóa.
Nhà kinh doanh không am hiểu về nghiệp vụ ngoại thương lại cho rằng: Nếu
xuất khẩu theo FOB hàng đã lên tàu thì người xuất khẩu hết nghĩa vụ có thể thanh
toán được tiền hàng ngay, và hiểu lầm rằng : Nếu nhập khẩu theo điều kiện CFR,
CIF thì tại cảng Việt Nam giảm bớt rủi ro trong quá trình chuyên chở hàng hóa.
Ngoài ra còn nguyên nhân là cả 3 điều kiện FOB, CFR, CIF đều áp dụng
phương tiện vận tải thủy, trong khi ở Việt Nam khoảng 90% lượng hàng hóa được
vận chuyển bằng phương tiện vận tải thủy, nên các điều kiện khác của incoterms ít
được sử dụng. Chính vì vậy nhập CIF bán FOB đã trở thành thông lệ thói quen của
các doanh nghiệp Việt Nam.
Giải pháp đưa ra cho các doanh nghiệp ở đây là các doanh nghiệp cần phải thay
đổi tập quán mua bán không có lợi này, nên lựa chọn điều kiện thương mại sao cho
bên doanh nghiệp Việt Nam được quyền thuê phương tiện vận tải và mua bảo hiểm
cho hàng hóa, bởi đó là một lợi thế lớn trong kinh doanh ngoại thương.
Nâng cao trình độ về các nghiệp vụ xuất nhập khẩu (nắm rõ incoterms)
Trang 25