TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM QUẢNG NINH
KHOA: TỰ NHIÊN
LỚP: HÓA-KTNN K31
o0o
Quảng Ninh, tháng 11 năm 2011
o0o
BÁO CÁO THỰC HÀNH
MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC LOÀI SINH VẬT
TRONG HỆ SINH THÁI ĐỒNG LÚA
Người thực hiện: Nhóm 6
1. Đinh Thị Trại
2. Đinh Thị Đoan Trang
3. Lương Thị Lệ Trang
4. Nguyễn Thị Tuyết
5. Vũ Thị Ánh Tuyết
6. Đào Thị Vân – Trưởng nhóm
Địa điểm: Cánh đồng đường mương, thôn 4, phường Nam Khê thành phố
Uông Bí
NỘI DUNG BÁO CÁO
I.Khái niệm hệ sinh thái đồng ruộng
Hệ sinh thái đồng ruộng là hệ sinh thái do con người tạo ra và duy trì dựa
trên các quy luật khách quan của tự nhiên, với mục đích thỏa mãn những nhu
cầu trên nhiều mặt và ngày càng tăng của mình.
II.Những thành phần chính của hệ sinh thái đồng ruộng
-Yếu tố phi sinh vật: Bao gồm ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, gió, đất, nước
Đây là những yếu tố cần thiết cho sự sống của cây lúa, chúng thay đổi theo
ngày, tháng, năm, mùa vụ, tác động mạnh đến yếu tố sinh vật.
-Yếu tố sinh vật: Bao gồm cây kí chủ, dich hại và thiên địch
+Cây lúa: Cây lúa tạo nên tiểu vùng khí hậu, là nguồn thức ăn và nơi cư
trú cho các loài dịch hại khác nhau và thiên địch của chúng.
+Dịch hại: Gồm sâu hại, cỏ dại, chuột, ốc bưu vàng, nhện hại, nấm, vi
a.Lưới thức ăn
Lúa → Châu chấu → Ếch → Rắn
Lúa → Sâu đục thân → Chuồn chuồn → Chim → Người
Lúa → Bọ xít đen → Ong đen → Thạch sùng → Rắn → Người
Lúa → Sâu cuốn lá → Nhện ăn thịt → Cá → Rắn → Chim bắt rắn
Lúa → Rầy nâu →Bọ rùa → Ong mát đỏ
Lúa → Sâu đục thân 2 chấm → Hổ trùng → Thạch sùng → Rắn
Lúa → Sâu đục thân → Đuôi kìm → Chim → Người
b.Chuỗi thức ăn
*Lưới thức ăn 1
*Lưới thức ăn 2
Chim bắt rắn
↑
Lúa → Sâu đục thân → Nhện ăn thịt → Cá ← Rắn → Người
↑
Lúa→Sâu đục thân 2 chấm→Hổ trùng→Thạch sùng→Chuột→Đại bàng
↓
Nấm bạch dương → Nấm penicillium
VI. Mối quan hệ sinh vật với sinh vật
1.Quan hệ khác loài
* Quan hệ cạnh tranh
- Khái niệm: Là quan hệ giữa hai hay nhiều loài cạnh tranh với nhau về
nguồn thức ăn và không gian sống có thể dẫn tới việc loài này tiêu diệt loài
kia.
- Trong hệ sinh thái đồng ruộng, lúa và thực vật khác (cỏ dại) có mối quan
hệ cạnh tranh với nhau do:
+ Cùng nhu cầu về thức ăn (hút chất dinh dưỡng, phân bón từ đất, lấy
ánh sáng mặt trời để tổng hợp chất hữu cơ đi nuôi cơ thể)
+Cùng nhu cầu về nơi ở: diện tích đất trên một cánh đồng lúa
Do vậy, nếu cỏ dại phát triển mạnh sẽ làm giảm khả năng hút nước và
-Khi sâu, châu chấu phát triển mạnh là nguồn thức ăn dồi dào cho các
loài như chim sâu, rắn, ếch, ong mắt đỏ phát triển.
→ Vai trò của thiên địch (ký sinh, bắt mồi ăn thịt và các bệnh gây hại côn
trùng) trong ruộng lúa là hết sức quan trọng, trong điều kiện tự nhiên thì thiên
địch luôn kìm hãm được quần thể sâu hại; do vậy khi người nông dân tác
động sai làm phá vỡ hệ sinh thái đồng ruộng, tạo ra sự mất cân bằng về sinh
học thì sâu hại có thể gây ra sự tái phát và gây hại nặng nề cho ruộng lúa. Ở
một số trường hợp như thời tiết phù hợp cho côn trùng gây hại phát triển mà
không phù hợp cho thiên địch, giống cây trồng là giống nhiễm thì sự bộc phát
của sâu hại rất nhanh chóng. Trong trường hợp này, vai trò thiên địch không
thể hiện rõ nét và đỉnh cao của mật số thiên địch thường đi theo sau đỉnh cao
của mật số sâu hại. Nhìn chung, sự góp phần của thiên địch vào việc "Quản lý
dịch hại tổng hợp" rất có ý nghĩa, góp phần vào việc giảm số lần sử dụng
thuốc không cần thiết và bảo vệ được cho môi trường cũng như sức khỏe con
người. Bảo tồn thiên địch ngoài việc hạn chế đến mức thấp nhất của việc sử
dụng thuốc, sử dụng thuốc chọn lọc khi thật cần thiết mà còn tạo nơi trú ngụ
(cắt chừa cỏ bờ) và trồng hoa dại làm thức ăn (đa dạng hóa cây trồng) cho
thiên địch là những kỹ thuật sinh thái.
2. Quan hệ cùng loài
*Quan hệ cạnh tranh
-Giữa những cây lúa với nhau cũng có sự cạnh tranh nhau về chất dinh
dưỡng, nguồn sáng do vậy có hiện tượng tự tỉa thưa.
-Khi canh tác con người cần chú ý mật độ giữa các cây với nhau, nếu quá
dày thì phải tỉa bớt để đảm bảo cho sự phát triển của cây, đồng thời giảm bớt
được sâu bệnh hại.
*Quan hệ hỗ trợ
-Mối quan hệ này thể hiện khi gặp điều kiện bất lợi từ môi trường, chúng
sẽ tăng khả năng chống chịu lên. Chẳng hạn khi gặp hạn, chúng sẽ giữ độ ẩm
tốt hơn, còn khi gặp bão, lũ, gió chúng sẽ giúp nhau đứng mà không bị đổ.
-Dựa vào mối quan hệ này, con người cần chăm sóc cho lúa tốt để lúa
mưa nắng xen kẽ thường phát sinh nặng.
-Phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ
+Vệ sinh đồng ruộng, diệt trừ cỏ dại là nơi trú ngụ qua đông.
+Cấy dày vừa phải. Chăm sóc bón phân hợp lý.
+Bẫy đèn diệt bướm. Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng. Khi sâu non có
mật độ 9-12 con/m2 (giai đoạn lúa đẻ nhánh), 6-9 con/m2 (lúa làm đòng) cần
phun thuốc. Dùng các loại thuốc Padan 95SP, Regent 800WP, Sumithion
50EC, Karate 2.5EC phun khi sâu còn tuổi 1-2, sâu đã lớn cần phá bao lá
trước khi phun mới có hiệu quả.
2.Sâu đục thân bướm hai chấm
- Gây hại trong suốt tời kỳ sinh trưởng của lúa (kể cả giai mạ). Thích hợp
trong điều kiện ấm, nóng và ẩm độ cao nên ở miền Nam và miền Trung sâu
có thể gây hại trong tất cả các vụ lúa. Tại các tỉnh phía Bắc, những năm mùa
đông rét đậm kéo dài, vụ mùa khô hạn thường phát sịnh nặng. Một năm có 6
-7 lứa, quan trọng nhất là lứa 2 (tháng 5) và lứa 5 (tháng 9) gây bông bạc.
Lúa xuân muộn và mùa chính vụ bị hại nặng hơn cả.
-Phòng trừ sâu đục thân bướm hai chấm
+Dùng giống chống chịu
+Bố trí cơ cấu mùa vụ thích hợp
+Cày lật gốc rạ phơi ải hoặc làm dầm (ngâm nước) sau thu hoạch diệt
nhộng.
+Ngắt dảnh héo, ngắt ổ trứng, bẫy đèn đồng loạt bắt bướm.
+Mật độ trứng từ 0,5-0,7 ổ/m
2
(lúa đẻ nhánh) hoặc 0,2-0,3 ổ/m
2
(lúa sắp
trỗ) cần phòng trừ bằng thuốc hóa học. Phun các loại thuốc Padan 95SP,
Regent 800WP sau khi bướm độ 5-7 ngày, Basudin 10G, Diaphos 10G trộn
với đất bột, rắc khi có dảnh héo hoặc lúa sắp trỗ. Khi rắc thuốc chú ý ruộng
giai đoạn của cây lúa. Bệnh thường tấn công trên lá, đốt thân, cổ lá và cổ gié.
- Phòng trừ bệnh cháy lá
+Thăm đồng thường xuyên để phát hiện bệnh kịp thời.
+Sử dụng thuốc hóa học Tricyclazole hay Probenazole để phun khi thấy
bệnh xuất hiện.
5. Bệnh bạc lá
- Do vi khuẩn Xanthomonas oryzae gây ra, bệnh thường phát triển và gây
hại nặng trong giai đoạn 40 NSG trở đi. Bệnh lây lan qua con đường hạt
giống.
-Phòng trừ bệnh bạc lá
+ Chủ yếu sử dụng giống kháng kết hợp với xử lý hạt giống
+ Phun thuốc hóa học như Staner; Kasumin; Batuxit…khi thật sự cần thiết
*Quản lý thuốc bảo vệ thực vật trên lúa
Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là một thành phần quan trọng trong "Quản lý
dịch hại tổng hợp trên lúa". Thuốc BVTV là một khí cụ chiến lược cần thiết
trong quản lý dịch hại khi quần thể dịch hại tiến đến mật số quá cao. Tuy
nhiên, sử dụng thuốc hóa học thường xuyên và liên tục mà không dựa trên
một chiến lược nào sẽ dẫn đến việc phát triển tính kháng thuốc của dịch hại,
sẽ bất thần có những dịch hại chủ yếu hoặc thứ yếu bộc phát vì phá vỡ sự
cân bằng trong hệ sinh thái tự nhiên, tiêu diệt nguồn thiên địch. Sử dụng quá
nhiều thuốc hóa học sẽ làm ảnh hưởng đến môi trường, con người và gia
súc.
Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cũng có những mặt thuận lợi và không
thuận lợi như sau:
-Về mặt thuận lợi:
+Chỉ có thuốc hóa học mới tiêu diệt nhanh khi mà sâu bệnh hại có một mật
số quá cao.
+Sử dụng thuốc đúng sẽ giữ được năng suất, tránh được suất mát do sâu
bệnh hại gây ra.
+Tính đa dạng về chủng loại và dạng của thuốc hóa học dễ dàng lựa chọn
Sâu cuốn lá nhỏ Rầy nâu Rầy trắng
Bệnh vàng lùn Bệnh đạo ôn Sâu đục thân
Ốc bưu vàng Bọ xít Châu chấu
2. Một số thiên địch
Bọ dừa Cóc Chim chiền chiện
Rắn Nhện Diều hâu
Ong mắt đỏ Bọ ngựa
class="bi xb yd5 w2 hc"