thục trạng năng lực tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở việt nam - Pdf 23

1
Chương 2
THỤC TRẠNG NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP
NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM
2.1. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT
NAM 2.1
ế
l. Quá trình phát triển DNNVV ỏ Việt Nam
Một điềm mốc nổi bật trong lịch sử phát triển doanh nghiệp nói chung,
đặc biệt là DNNVV ở Việt Nam là thời điểm năm 2001, khi Chính phủ ban
hành Nghị định số 90/2001/NĐ-CP vào ngày 23-11-2001 về trợ giúp phát
triển DNNVV, đây là văn bản pháp lý chính thức đầu tiên dành toàn bộ nội
dung để quy định trực tiếp đối với các DNNVV. Ngày 30-6-2009, Chính phủ
ban hành Nghị định 56 về trợ giúp phát triển DNNVV thav thế Nghị định 90
ế
Chính vì vậy, khi nghiên cún về quá trình phát triển DNNVV ở Việt Nam
thông thường người nghiên cứu đi vào ba giai đoạn:
2.LLl.Giaỉ đoạn trước năm 2001
* Giai đoạn trước năm ỉ 986
Trước năm 1975, đất nước vẫn đang còn chiến tranh nhưng đã bắt đầu
thời kỳ xây dựng và phát triển nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Thòi kỳ
này, các cloanh nghiệp chủ yếu tồn tại dưới hình thức xí nghiệp quốc doanh
và các hợp tác xã và các xí nghiệp công tư họp doanh. Tuy nhiên, trong đó
chỉ có các doanh nghiệp nhà nưó’c và các họp tác xã là được khuyến khích
phát triển, còn các doanh nghiệp thuộc ỉoại hình khác phát triển cầm chừng.
Năm 1975, đất nước được thống nhất. Tại thời điểm này, cả nước có khoảng
1.913 xí nghiệp quốc doanh và công ty hợp doanh, trong đó phần lớn là các
doanh nghiệp có số vốn nhỏ và lượng lao động ít hầu hết các doanh nghiệp
hoạt động kém hiệu quả. Nền kinh tế tập trung tỏ ra thích hợp trong thời
chiến bắt đầu bộc lộ rât nhiều điêm yếu trong thời bình. Trước thực tế đó,
năm 1979, Hội nghị Trung ương lần thứ 6 khoá IV đã đề xuất một số định

Xuất khẩu Nhập khẩu (1992), Luật Thương mại, Bộ Luật lao động, Luật
Doanh nghiệp Nhà nước (1995), Luật Phá sản (1994), Luật Khuyến khích
đầu tư trong nước (1994), Luật thuế Doanh thu (1993), Luật Công ty Sửa đổi
(1994), Luật DN tư nhân sửa đổi (1994), Nghị định số 66/HĐBT ngày
2/3/1992 về Hộ kinh doanh cá thể
Nhờ những cải cách kinh tế và pháp lý, đặc biệt là việc cơ cấu lại cấu
trúc của nền kinh tế, nên đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ: sự mất
cân đối nghiêm trọng trong cơ cấu các thành phần kinh tế phát sinh
trong những năm 1980 đã giảm bớt; tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế đã
đạt trên 7% từ năm 1990; tỷ lệ lạm phát đã giảm từ gần 70% năm 1990
xuống dưới 5% vào năm 1997; tỷ lệ tiết kiệm trong nước trong nước đã
tăng đáng kể từ 7,4% năm 1990 lên 17% năm 1996. Và hệ quả của những
thay đổi trên là số lượng doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã giảm mạnh,
song tính chung jho toàn bộ nền kinh tế thì DNNVV lại có bước tăng
trưởng đáng kế về số lượng và chất lượng, chiếm tỷ lệ áp đảo trong tất cả
các DN Việt Nam. Theo số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số
lượng và tỷ trọng các DNNVV giai đoạn này được thể hiện qua hai bảng
dưới đây (tiêu chí phân loại DNNVV là lao động bình quân dưới 200 người
và vốn dưới 5 tỷ đồng- theo Công văn số 681-CP/KTN của Văn phòng
Chính phủ, ngày 22 tháng 6 năm 1998):
Bảng 2.1. DNNVV theo tiêu chí lao động (khu vực vốn trong nước)
Khu vực kinh tế Năm 1995 Năm 1999
Tổng số DNNVV
Tổng số
DN
DNNVV
Số DN Tỷ lệ % Số DN Tỷ lệ %
Nhà nước 5.873 4.277 73,0 5.718 5.244 91,7
Ngoài nhà nước 17.143 12.895 75,0 42.415 41.590 98,0
Tổng 23.016 17.172 75,0 48.133 46.834 97,0

Bảng 2.2: Một số chỉ tiêu tài chính của DNNVV Việt Nam
giai đoạn 2000 – 2008
Đơn vị: Tỷ VND
Năm Doanh thu thuần Lợi nhuận trước thuế
2000 203.155 2.041
2001 273.879 3.679
2002 364.844 5.486
2003 485.104 7.236
2004 644.087 8.050
2005 860.338 10.433
2006 1.142.571 19.822
2007 1.679.861 46.887
2008 2.973.456 36.566
Nguồn:. [53]


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status