NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT
Tiếng Việt:
- CNXH
Chñ nghÜa x· héi
- CNH, HĐH
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
- CTCP
Công ty cổ phần
- DNNVV
Doanh nghiệp nhỏ và vừa
- DNNN
Doanh nghiệp nhà nước
- DNNQD
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
- ĐKKD
Đăng ký kinh doanh
- ĐTNN
Đầu tư nước ngoài
- GPMB
Giải phóng mặt bằng
- GTGT
Giá trị gia tăng
- KH&CN
Khoa học và công nghệ
- KHKT
Khoa học kỹ thuật
- KCN
1.1.1. Khái lược về lý thuyết cạnh tranh 5
1.1.2. Năng lực cạnh tranh và các yếu tố ảnh hưởng 8
1.1.2.1. Quan niệm về năng lực cạnh tranh 8
1.1.2.2. Các yếu tố cấu thành và chỉ tiêu đánh giá NLCT 14
1.1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh trong
bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 21
1.1.3. Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ 23
1.1.3.1 Quan niệm về DNNVV 23
1.1.3.2 Những lợi thế cạnh tranh của DNNVV 28
1.1.3.3 Những hạn chế cạnh tranh của DNNV 30
1.2 Kinh nghiệm của một số nước về nâng cao NLCTcủa DNNVV 32
1.2.1. Vai trò của nhà nước trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp nhỏ và vừa 32
1.2.1.1 Hàn Quốc 32
1.2.1.2 Singapore 36
1.2.1.3 Đài Loan 40
1.2.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 42
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DNNVV
ở Việt Nam hiện nay 45
2.1 . Tình hình phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam
trong thời kỳ đổi mới 45
2.1.1 Giai đoạn 1986 đến 1989 46 2.1.2 Giai đoạn 1991 đến 1999 46
2.1.3 Giai đoạn 2000 đến nay 49
* Những kết quả chung trong việc phát triển DNNVV 54
2.2 Phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa
ở Việt Nam hiện nay 59
2.2.1 Các yếu tố cấu thành sức cạnh tranh của DNNVV 59
3.3.1.4.Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại thông tin thị trường 92
3.3.1.5. Phát triển các tổ chức tư vấn, dịch vụ và hỗ trợ DNNVV 93
3.3.1.6. Cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực, sắp xếp lại
các doanh nghiệp nhà nước 94
3.3.2 Các giải pháp thuộc về Doanh nghiệp 94
3.3.2.1. Tăng cường hoạt động Marketing hỗn hợp 94
3.3.2.2. Giảm chi phí sản xuất, giảm giá thành sản phẩm 99
3.3.2.3. Xây dựng và phát triển thương hiệu của DNNVV 99
3.3.2.4. Đổi mới cơ cấu tổ chức quản lý, hoàn thiện kỹ năng quản lý
của đội ngũ lãnh đạo, quản trị trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa 100
3.3.2.5. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong các DNNVV 102
3.3.2.6. Xây dựng văn hoá và đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp. 103
3.3.2.7. Minh bạch hoạt động DN 104
KẾT LUẬN 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106 1
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Từ khi nước ta thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển nền kinh tế thị
trường theo định hướng XHCN cho đến nay, các doanh nghiệp nhỏ và vừa
ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Cùng với việc
đóng góp cho xã hội một lượng hàng hoá lớn và giải quyết việc làm cho
người lao động, các doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo nên nguồn thu nhập ổn định
cho một bộ phận dân cư, khai thác nguồn lực và tiềm năng tại chỗ của các địa
phương trên các vùng của cả nước. Đồng thời với việc phát triển doanh
nghiệp nhỏ và vừa, một đội ngũ các nhà doanh nghiệp năng động, sáng tạo,
thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển có hiệu quả hơn đã hình thành. Các
doanh nghiệp nhỏ và vừa đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh
tế, ngày càng gắn bó chặt chẽ với các doanh nghiệp lớn, có tác dụng hỗ trợ,
kinh tế, trước nhu cầu chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
2. Tình hình nghiên cứu.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về đề tài doanh nghiệp nhỏ và vừa
được thực hiện ở nước ta. Các nghiên cứu đó đã góp phần quan trọng trong
việc nhận thức đầy đủ hơn về doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nhiều kiến nghị và
giải pháp đã được trình Chính phủ, làm cơ sở cho việc hoạch định nhiều chính
sách kinh tế quan trọng, khuyến khích phát triển các loại hình doanh nghiệp
này. Các công trình có thể kể tên như: Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa;
Kinh nghiệm nước ngoài và phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
(Vũ Quốc Tuấn, Hoàng Thu Hoà) hoặc Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam
trên đường đi đến phồn vinh (Leila Webster, MPDF 1999) hay Quản lý năng
suất và chất lượng trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa (Quốc Hương, 1999),
Chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (PGS.TS Nguyễn Cúc)
và Giải pháp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam (GS.TS Nguyễn 3
Đình Hương, 2002), Chính sách đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
(Nguyễn Văn Thiềng, 2003). Nhiều công trình kể trên được biên soạn khá
công phu và đã đưa ra rất nhiều giải pháp hay nhằm phát triển loại hình doanh
nghiệp này. Tuy nhiên, xu thế toàn cầu hoá kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế
đang diễn ra mạnh mẽ. Đây là cơ hội to lớn những cũng là thách thức không
nhỏ đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Cạnh tranh quốc tế đang diễn ra
khốc liệt và có nhiều nhân tố mới tác động. Do đó, việc nghiên cứu về năng
lực cạnh tranh và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong bối cảnh mới rất cần được tiếp
tục.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn.
Mục đích: Từ việc nghiên cứu thực trạng về khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp nhỏ và vừa, luận văn đưa ra các quan điểm và các giải pháp
phương pháp đối chiếu so sánh
6. Những đóp góp mới của luận văn.
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận chủ yếu về cạnh tranh và năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Đánh giá tổng quát và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và
vừa Việt Nam và những nhân tố ảnh hưởng.
- Đề xuất các quan điểm và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn.
Ngoài lời mở đầu, kết luận, mục đích, mục lục, danh mục các tài liệu
tham khảo luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cạnh tranh và năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa. 5
Chương II: Thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở
Việt Nam hiện nay.
Chương III: Quan điểm và một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh
doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam.
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.1. TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
NHỎ VÀ VỪA.
1.1.1. Khái lƣợc về lý thuyết cạnh tranh.
Cạnh tranh là quy luật kinh tế của nền sản xuất hàng hoá. Trong lịch sử
phát triển của các lý thuyết kinh tế, khái niệm cạnh tranh được định nghĩa
ích từ hoạt động ngoại thương. Tuy nhiên, lý thuyết này không đủ để giải
thích tại sao các doanh nghiệp, các ngành lại thành công trên thị trường quốc
tế với sự khác biệt về sản phẩm, về công nghệ và lợi thế nhờ quy mô trong
kinh tế thị trường hiện đại.
Đầu những năm 1940, lý thuyết "cạnh tranh hiệu quả" được xây dựng
trên cơ sở luận điểm của nhà kinh tế Mỹ J.M.Clack: những nhân tố không
hoàn hảo trên thị trường có thể được sửa chữa bằng những nhân tố không
hoàn hảo khác. Chẳng hạn, tính không hoàn hảo của thị trường do có ít người
cung ứng sẽ được cải thiện phần nào nhờ nhân tố không hoàn hảo khác như sự
thiếu tường minh của thị trường và tính đa dạng của hàng hoá. Chính tính
không hoàn hảo này sẽ làm giảm sự phụ thuộc lẫn nhau trong chính sách giá
giữa các hãng ở thị trường tập quyền, tạo điều kiện cho các hoạt động cạnh
tranh mang lại kết quả. Clack đã tiếp thu luận điểm của Schumpeter - cạnh
tranh phải bằng hình thức tổ chức mới - để xây dựng lý thuyết cạnh tranh hiệu 7
quả. Theo đó, siêu lợi nhuận mà các doanh nghiệp tiên phong đạt được trên cơ
sở lợi thế nhất thời vừa là hệ quả, vừa là tiền đề của cạnh tranh. Lợi nhuận
này không nên xoá bỏ ngay lập tức mà chỉ nên giảm dần để doanh nghiệp có
thể có điều kiện thời gian tạo ra được đo bằng sự giảm giá, tăng chất lượng
hàng hoá cũng như hợp lý hoá trong quy trình sản xuất.
Một trong những lý thuyết cạnh tranh được biết đến nhiều nhất trong
những năm 80 tới nay là lý thuyết về lợi thế cạnh tranh của M.Porter. Ông đã
nghiên cứu cạnh tranh dưới nhiều giác độ - năng lực cạnh tranh quốc gia,
chiến lược cạnh tranh ngành, lợi thế cạnh tranh của các chuỗi giá trị, cạnh
tranh trong nước và cạnh tranh quốc tế. Lý thuyết của Porter về lợi thế cạnh
tranh giải thích hiện tượng thương mại hoá quốc tế ở góc độ doanh nghiệp
tham gia cạnh tranh quốc tế và qua đó đã khắc phục được những thiếu sót
trong lý thuyết lợi thế so sánh của trường phái cổ điển. Khác với các lý thuyết
tranh được xem xét từ các góc độ khác nhau. Có thể xem xét năng lực cạnh
tranh qua các cấp độ sau:
Năng lực cạnh tranh quốc gia
Có nhiều khái niệm về năng lực cạnh tranh của một quốc gia. Theo lý
thuyết lợi thế tuyệt đối của Ricardo, một quốc gia có năng lực cạnh tranh hơn
các quốc gia khác bởi sự trội hơn về một hay một vài yếu tố. Ông cho rằng,
năng lực cạnh tranh của một nước là một hệ thống gồm nhiều yếu tố liên quan
với nhau, có tác động qua lại và bổ sung cho nhau. Các yếu tố này là nền
móng, chỗ dựa cho các công ty, tạo nên lợi thế cạnh tranh trên một lĩnh vực
cụ thể mà nước đó có lợi thế về tài nguyên.
M.Porter lại đưa ra khái niệm về năng lực cạnh tranh của một quốc gia
dựa trên năng suất lao động. Porter cho rằng "Khái niệm có ý nghĩa nhất về
năng lực cạnh tranh ở cấp quốc gia là năng suất lao động. Năng suất sản xuất
phụ thuộc vào môi trường cạnh tranh của mỗi nước. Theo Porter, trong nền
kinh tế ngày càng toàn cầu hoá thì giá trị bản thân các yếu tố thiên phú của 9
các yếu tố sản xuất ngày càng giảm và muốn đạt được năng suất cao thì phải
tạo ra môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp và các thể chế đồng bộ để có
thể sử dụng hiệu quả các yếu tố sản xuất.
Theo khái niệm hiện đại của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (World
Economic Forum-WEF), năng lực cạnh tranh của một quốc gia là năng lực
của một nền kinh tế đầy biến động của thị trường thế giới.
Phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia của WEF được sử
dụng rộng rãi nhất hiện nay. Cho đến năm 1999, WEF đánh giá năng lực cạnh
tranh quốc gia theo 8 nhóm tiêu chí:
Nhóm 1: Độ mở cửa nền kinh tế, bao gồm các chỉ tiêu như thuế quan
và các hàng rào phi thuế quan, chính sách tỷ giá hối đoái;
Nhóm 2: Vai trò và hoạt động của Chính phủ, bao gồm: mức độ can
và đầu tư và 3. Chỉ số quốc tế đo mức độ hội nhập kinh tế của quốc gia với
phần còn lại của thế giới. Chỉ số Năng lực cạnh tranh tăng trưởng được tính
bằng cách lấy bình quân giản đơn từ 3 chỉ số này.
Chỉ số năng lực cạnh tranh quốc gia hiện hành CCI được xây dựng trên
nền tảng kinh tế vĩ mô và gồm hai nhóm chỉ số cơ cấu thành là: Chỉ số trình
độ chiến lược và hoạt động của doanh nghiệp được đánh giá qua trình độ công
nghệ sản xuất, mức độ hoạt động tiếp thị, tính đặc thù của sản phẩm và tiếp
cận thị trường quốc tế. Chỉ số chất lượng môi trường kinh doanh của quốc gia
(Quality of the Business Environment) được hình thành từ 4 nhóm nhân tố:
1.Các điều kiện đầu vào sản xuất; 2. Các điều kiện nhu cầu; 3. Các ngành
công nghiệp hỗ trợ và liên quan; 4. Chiến lược, cấu trúc doanh nghiệp và cạnh
tranh.
Theo các tiêu chí đánh giá hiện đại, những yếu tố truyền thống được coi
là quyết định đối với năng lực cạnh tranh của một quốc gia như tài nguyên
thiên nhiên, lao động rẻ nhưng không được đào tạo, đồng tiền giá trị thấp hay 11
ưu đãi khuyến khích của Chính phủ về thuế hay giá không còn đóng vai trò
quan trọng như trước và vai trò của những yếu tố này sẽ còn giảm đi với sự
phát triển của kinh tế tri thức.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Điểm chung nhất của hầu hết các khái niệm cạnh tranh xét từ phạm vi
của doanh nghiệp là sức mạnh cạnh tranh dựa trên cơ sở chi phí thấp, sản
phẩm tốt, công nghệ cao hoặc là tổ hợp của các yếu tố này. Thông thường,
một nhà sản xuất thường coi là có năng lực cạnh tranh nếu có khả năng cung
ứng một sản phẩm có chất lượng cao với mức giá thấp hơn so với các đối thủ
cạnh tranh, thể hiện qua năng lực tồn tại, duy trì hay gia tăng lợi nhuận, thị
phần trên thị trường cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ, các dịch vụ hậu
mãi của doanh nghiệp.
M.Porter đã đưa ra khái niệm cạnh tranh mở rộng, theo đó năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc vào năm nhân tố: các đối thủ tiềm
năng, sản phẩm thay thế, người cung ứng, khách hàng, những đối thủ cạnh
tranh trong ngành (Mô hình hình thoi của Porter). M.Porter đã chỉ ra các yếu
tố chính có mối quan hệ với nhau như trong mô hình có vai trò quan trọng
quyết định năng lực cạnh tranh quốc tế của doanh nghiệp.
Năng lực cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ
Năng lực cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ được đo bằng thị phần của
hàng hoá hay dịch vụ trên thị trường. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
thể hiện qua năng lực cạnh tranh của các hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp
kinh doanh. Vì vậy, các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của hàng
hoá, dịch vụ trong thương mại quốc tế bao hàm các yếu tố từ phạm vi doanh
nghiệp, ngành công nghiệp đến phạm vi quốc gia như: 13
- Điều kiện hay tình trạng về nhân tố sản xuất như nguồn nhân lực, tài
nguyên thiên nhiên, vốn, kết cấu hạ tầng, tiềm năng khoa học kỹ thuật Cần
phân biệt các loại yếu tố đầu vào khác nhau: đầu vào cơ bản (basic), cao cấp
(advanced); đầu vào chung (generalized), đầu vào chuyên biệt (specialyzed)
và lưu ý rằng mỗi một dạng đầu vào tạo nên lợi thế cạnh tranh khác nhau.
- Tình trạng và nhu cầu trong nước đối với sản phẩm và dịch vụ. Hai
thuộc tính cơ bản của cầu trong nước có ảnh hưởng lớn tới lợi thế cạnh tranh
của doanh nghiệp là: (1). Tính chất của nhu cầu khách hàng; (2). Dung lượng
và phương thức biến chuyển của nhu cầu.
Tính chất của nhu cầu trong nước xác định cách thức doanh nghiệp
nhận thức, lý giải và phản ứng trước nhu cầu của người mua. Có thể phân biệt
ba đặc điểm nổi bật trong tính chất của cầu có tác động đáng kể đến lợi thế
cạnh tranh: (a) Sự phân đoạn cấu trúc của cầu; (b) Độ am hiểu của khách hàng
và (c) Nhu cầu dự đoán của khách hàng.
Mô hình này kết hợp được tất cả các yếu tố tác động đến khả năng của
hàng hoá và dịch vụ cả cấp độ quốc gia và quốc tế, cả phân tích tĩnh và phân
tích động. Tuy nhiên, việc áp dụng mô hình này thường rất khác nhau. Khó
khăn lớn nhất là không thể đề cập đến tất cả các yếu tố và lượng hoá chúng,
đặc biệt là ở các nước đang phát triển do hạn chế về thống kê. Do đó, người ta
thường chỉ lựa chọn những yếu tố chủ yếu, có tác động lớn để phân tích năng
lực cạnh tranh của các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ.
1.1.2.2. Các yếu tố cấu thành và chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh
* Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phụ thuộc vào chiến
lược kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu chiến lược kinh doanh đúng thì sức
cạnh tranh sẽ được nâng cao và ngược lại.
Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm:
Chiến lược phát triển thị trường mục tiêu: Việc xác định thị trường
mục tiêu (thị trường trọng điểm) của doanh nghiệp và chiến lược phát triển thị 15
trường mục tiêu là rất quan trọng. Có thể có ba cách tiếp cận thị trường mục
tiêu mà doanh nghiệp có thể xem xét để đưa vào chiến lược.
Chiến lược giữ vững và phát triển thị trường hiện tại: Một trong
những nội dung chiến lược thành phần của chiến lược kinh doanh là chiến
tranh mua tranh bán ở thị trường nội địa, tranh bán tranh mua trên thị trường
thế giới sẽ đưa tới chỗ giảm đáng kể sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Do đó,
cần phát huy vai trò của các hiệp hội ngành hàng, tạo thành sự hiệp đồng chặt
chẽ khi đưa ra thị trường thế giới.
Đảm bảo “chữ tín” trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt có ý nghĩa quan
trọng hàng đầu. Những hành động bất tín, gian lận chỉ có thể đem lại lợi ích
nhỏ nhoi trước mắt nhưng nhất định sẽ làm cho doanh nghiệp mất bạn hàng
và chỗ đứng trên thị trường.
Trình độ công nghệ: Trình độ máy móc thiết bị và công nghệ có ảnh
hưởng một cách sâu sắc tới sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Nó là yếu tố vật
chất quan trọng bậc nhất thể hiện năng lực sản xuất của một doanh nghiệp và
tác động trực tiếp tới chất lượng sản phẩm. Ngoài ra, công nghệ sản xuất, máy
móc thiết bị cũng ảnh hưởng đến giá thành và giá bán sản phẩm.
Chất lượng đội ngũ lao động, cán bộ quản lý: Đây là yếu tố quyết định
hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp qua đó ảnh hưởng đến sức
cạnh tranh của doanh nghiệp.
Động cơ, không khí xã hội trong doanh nghiệp: Không khí xã hội trong
doanh nghiệp, động cơ cá nhân của mỗi thành viên và chất lượng của con
người tỏ ra là một nhân tố quan trọng trong cạnh tranh. Sức mạnh của doanh
nghiệp không phải chỉ tồn tại trong một số cá nhân hay một nhóm mà trong sự
đoàn kết, nhất trí hết mình vì sự sống còn của doanh nghiệp.
Chi phí kinh doanh: Trong đó bao gồm chi phí nghiên cứu và phát triển
sản phẩm mới (R&D); các chi phí tiện ích (điện, nước ); chi phí vận tải; chi
phí thuê mặt bằng ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của doanh nghiệp thương
mại. Chi phí nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới là chi phí quan trọng
trong nền kinh tế hiện đại bởi các doanh nghiệp muốn tồn tại, có sức cạnh 17
tranh thì cần phải biết đổi mới mình. Các chi phí điện, nước… luôn là một
X
ij
= xuất khẩu sản phẩm i từ nước j
X
i
= xuất khẩu sản phẩm i trên thế giới
X
j
= xuất khẩu tất cả các hàng hoá từ nước j
X = xuất khẩu tất cả các hàng hoá trên thế giới 18
Chỉ số RCA so sánh xuất khẩu một mặt hàng của một nước ( được quy
theo giá trị của nó trong tổng xuất khẩu) với tỷ trọng của mặt hàng đó theo
thương mại thế giới. Giá trị RCA lớn hơn 1 có nghĩa là nước này đang thể
hiện lợi thế tương đối về mặt hàng i, vì tỷ số xuất khẩu sản phẩm đó của đất
nước trong tổng xuất khẩu của nước đó lớn hơn tỷ số đó của thế giới. Ngược
lại, nếu RCA nhỏ hơn 1 nghĩa là nước này dường như không có lợi thế tương
đối trong việc xuất khẩu mặt hàng i.
- Tính tương thích về thương mại: chỉ số tương thích về ( C
x/m
) đo
mức độ tương thích giữa các sản phẩm xuất khẩu của một nước với các sản
phẩm thị trường nước ngoài nhập khẩu. Ví dụ, chỉ số này sẽ tiến đến 0 nếu
nước này không xuất khẩu loại hàng mà thị trường nước ngoài nhập khẩu và
sẽ tiến đến 1 khi lượng xuất khẩu một mặt hàng của nước này tương đồng với
thị phần nhập khẩu sản phẩm đó của thị trường nước ngoài. Chỉ số này cho
biết năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu một nước so với sản phẩm xuất
khẩu tương tự của các nước khác trên thị trường nhất định thông qua khả năng
doanh nghiệp phải có thực lực được thể hiện thành các lợi thế so với các đối
thủ cạnh tranh. Ít có doanh nghiệp nào có đầy đủ các lợi thế mà thường thì
mạnh mặt này thì yếu mặt khác. Vì thế, cần đánh giá từng mặt yếu, mặt mạnh
mà có kế hoạch khắc phục mặt yếu, phát huy thế mạnh.
Việc đánh giá sức cạnh tranh nếu chỉ dừng lại ở định tính thì không
tránh được các yếu tố cảm tính nên phải lượng hoá. Tuy nhiên, khó có được
một chỉ tiêu tổng hợp đo lường sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Do vậy, cần
sử dụng hệ thống chỉ tiêu.
Thị phần doanh nghiệp: đó là phần thị trường mà doanh nghiệp đã
chiếm lược. Thị phần càng lớn càng thể hiện sức cạnh tranh của doanh nghiệp
càng mạnh. Để tồn tại và có sức cạnh tranh, doanh nghiệp phải giữ chiếm giữ
được một phần thị trường bất kể nhiều hay ít dù nó là địa phương, quốc gia
hay thế giới. Chính điều này đã phản ánh được quy mô tiêu thụ của doanh
nghiệp thương mại. Từ đó, có thể đánh giá được sức cạnh tranh của mỗi một
doanh nghiệp, ưu thế cũng như các điểm mạnh, điểm yếu tương đối của doanh
nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh. 20
Vị thế tài chính: Vị thế tài chính của một doanh nghiệp có tầm quan
trọng tối cao trong việc nâng cao vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp thương
mại. Khả năng nguồn tài chính mạnh cần được cân nhắc khi đánh giá năng lực
cạnh tranh các tham số: lợi nhuận, dòng tiền mặt, tỷ lệ vốn vay, mức dự trữ và
hiệu suất lợi tức cổ phần. Cụ thể, các hệ số thanh khoản (Tỷ lệ thanh khoản có
thể sử dụng, tỷ lệ vốn có thể sử dụng ngay), các hệ số hoạt động (Chu chuyển
tài sản, chu chuyển dự trữ, chu chuyển khoản nợ phải thu), các chỉ số sinh lợi
(lợi nhuận cận biên, tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư), các tỷ số vốn vay (nợ
trên tài sản ròng, nợ trên tổng tài sản), phân tích các nguồn vốn và sử dụng
các ngân quỹ.
Quản lý và lãnh đạo: Theo JP.Kotter, quản trị là sự đương đầu với tính
Ch tiờu
H s tm
quan trng
(K
i
)
im nh
hng (P
i
)
im h s
tm quan
trng (K
i
*
P
I
)
1.
Th phn doanh nghip
0,05
4
0,2
2.
Tc tng trng th phn
0,1
2
0,2
3.
V th ti chớnh
i mi v phỏt trin
0,05
1
0,05
10.
Qun lý v lónh o
0,1
2
0,2
11.
Chi phớ kinh doanh
0,05
2
0,1
12.
Trỡnh lao ng
0,1
2
0,2
13.
TNG
1,0
2,35
1.1.2.3. Các yếu tố ảnh h-ởng đến năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội
nhập quốc tế.
* Các nhân tố quốc tế
- Các nhân tố chính trị: Tổ chức chính trị quan trọng nhất là nhà n-ớc vì
nó có khả năng phát hành tiền tệ, đánh thuế và định ra các luật lệ trong một
quốc gia. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn có một số khía cạnh chính trị quan trọng