MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Thất nghiệp hiện đang là một vấn đề đáng báo động trong toàn xã hội.
Trong xu thế kém phát triển của nền kinh tế, hàng loạt các công ty, doanh
nghiệp đã tự gạch tên mình ra khỏi cuộc chơi, điều này đồng nghĩa với việc tỷ
lệ người thất nghiệp tại Việt Nam cũng tăng lên một cách nhanh chóng. Có rất
nhiều nguyên nhân dân đến tình trạng thất nghiệp. Đó không chỉ là do bản thân
người bị thất nghiệp mà còn do yếu tố khách quan nền kinh tế thị trường. Và để
thấy rõ hơn về vấn đề này, em xin chọn đề tài: “Tình hình thất nghiệp ở Việt
Nam hiện nay: thực trạng, nguyên nhân, phương hướng và giải pháp khắc
phục” để hoàn thành bài tập học kì của mình. Do vốn kiến thức còn nhiều hạn
chế nên chắc hẳn trong bài viết của em không tránh khỏi những thiếu xót. Vì
vậy, em rất mong nhận được những góp ý từ thầy cô để bài viết của em được
hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
NỘI DUNG
I. Cơ sở lí luận
1
1. Khái niệm
Người thất nghiệp là người hiện đang chưa có việc nhưng mong muốn và
đang tìm kiếm việc làm.
Tỷ lệ thất nghiệp là phần trăm số người lao động không có việc làm trên
tổng số lực lượng lao động xã hội.
2. Các loại thất nghiệp
a. Phân theo loại hình thất nghiệp
Thất nghiệp là một gánh nặng,nhưng gánh nặng đó rơi vào đâu,
bộ phận dân cư nào, ngành nghề nào,… Cần biết những điều đó để hiểu rõ
ràng về đặc điểm, tính chất, mức độ tác hại… của thất nghiệp trong thực tế. Với
mục đích đó, có thể phân loại thành:
- Thất nghiệp chia theo giới tính ( nam , nữ )
- Thất nghiệp chia theo lứa tuổi ( tuổi , nghề )
3,9%, tiếp theo đến Đồng bằng Sông Cửu Long (không tính TP.HCM) và Hà
Nội. Trong khi tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực miền núi và trung du phía Bắc ở
mức thấp nhất, gần 0,8%.
Trong khi đó, lao động của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và
khu vực Nhà nước có xu hướng giảm dần qua các quý của năm 2012 (giảm 3%
3
từ quý I đến quý III). Ngược lại, khu vực ngoài Nhà nước, bao gồm những
người tự tạo việc làm, hộ kinh doanh cá thể, doanh nghiệp tư nhân và hợp tác
xã lại tăng lên. Ngoài ra, theo kết quả điều tra, bất bình đẳng giới vẫn tồn tại
trong vấn đề lao động việc làm. Có tới 2,5% phụ nữ không có việc làm trong
khi tỷ lệ này ở nam giới là 1,7%.Tìm việc đồng thời cũng là một vấn đề lớn đối
với thanh niên độ tuổi từ 15 đến 24 bởi nhóm này chiếm tới 47% tổng số người
thất nghiệp.
Đặc biệt chỉ trong tháng 1/2013, số người lao động đăng ký thất nghiệp
khoảng 35.000 người. Đây là con số đáng báo động và khả năng số người thất
nghiệp sẽ tiếp tục tăng lên trong 2 quý đầu năm của năm 2013.
III. Nguyên nhân
Nguyên nhân khiến người lao động bị mất việc chủ yếu là do suy thoái
kinh tế toàn cầu. Nhiều doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, có doanh nghiệp
phải đóng cửa hoàn toàn do sản phẩm làm ra không tiêu thụ được, nhất là
những doanh nghiệp xuất khẩu. Chính vì vậy họ phải cắt giảm bớt nguồn nhân
lực khiến nhiều người mất việc làm. Không những vậy tình hình dân số tăng
nhanh cũng khiến cơ hội việc làm của nhiều người gặp khó khăn.
Ngày nay, chúng ta có thể thấy một hiện tượng là sinh viên tốt nghiệp ra
trường chỉ muốn trụ lại thành phố để làm việc kể cả những sinh viên xuất thân
và lớn lên từ những miền quê. Họ chấp nhận ở lại thành phố để làm việc dù là
việc không đúng với ngành được đào tạo hoặc có thu nhập thấp. Như vậy một
số nơi như hải đảo, vùng sâu, vùng xa thì vẫn thiếu trầm trọng nguồn nhân lực
trong khi thành phố vẫn phải đương đầu với sức ép của tình trạng thất nghiệp.
Trên thực tế, sinh viên tốt nghiệp cầm trên tay tấm bằng đỏ đại học
sản xuất kinh doanh.
Nhà nước vẫn chưa có chính sách hợp lí để khuyến khích cũng như tạo
điều kiện cho sinh viên sau khi ra trường yên tâm công tác và phát huy hết khả
5
năng; chẳng hạn như chính sách đối với những người về công tác tại những
vùng sâu, vùng xa, hải đảo chưa hợp lí cho lắm nên không thu hút được sinh
viên sau khi ra trường tự nguyện về đây công tác.
IV. Phương hướng và giải pháp khắc phục
Sinh viên hiện nay rất nhiều người chọn trường đại học nhưng không có
sự định hướng cho khả năng của đầu ra sau này mà chỉ chọn chỉ vì nó đang
“hot”. Đây là một tư tưởng tiêu cực có ảnh hưởng không tốt tới quá trình phát
triển kinh tế –xã hội gây ra tình trạng thừa thiếu bất hợp lý. Ta có thể thấy rõ
khi mà vừa qua ở các ngân hàng đã có rất nhiều đợt cắt giảm nhân sự. Chưa kể
đến tâm lý hiện nay của nhiều bậc phụ huynh là bắt buộc phải vào được đại học
với suy nghĩ chỉ có con đường đại học mới có thể dẫn tới thành công. Phải nói
rằng có được tấm bằng đại học để ra nghề là một điều rất cần và quan trọng.
Nhưng chúng ta cũng cần biết rằng đại học chưa phải là con đường duy nhất để
lập nghiệp. Vì vậy bản thân đối tượng được đào tạo cũng như các bậc phụ
huynh cần phải đánh giá lại cách nhìn nhận làm sao để chọn cho con em mình
và hoàn cảnh gia đình mà vẫn có ích cho xã hội. Những sinh viên ra trường
cũng cần có cách nhìn nhận đúng đắn hơn trong việc chọn cho mình một nơi
làm việc.
Nhà nước cần có những chính sách nhằm đẩy mạnh, khuyến khích các
thành phần kinh tế tham gia vào đầu tư, phát triển mở rộng sản xuất cũng như
tạo ra các điều kiện thuận lợi về môi trường để họ có thể hoạt động thuận tiện
hơn. Bên cạnh đó nhà nước cũng phải là người đi đầu, chủ trương trong việc
thực hiện các chương trình quốc gia về khoa học – kỹ thuật cũng như đưa nó
vào thực tiễn sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng suất lao
động, nâng cao điều kiện sống cho người lao động. Nếu các chính sách này
tạo, đáp ứng được nhu cầu của thực tế, tránh hiện tượng thừa thì vẫn cứ thừa
7
còn thiếu thì vẫn cứ thiếu. Ngành đào tạo cũng có mối liên hệ với thị trường lao
động để luôn cập nhập được xu hướng của nhu cầu để đào tạo cho phù hợp cả
về chất lượng cũng như số lượng.
Bộ trưởng Bộ GD nhấn mạnh trước Quốc hội, các vị đại biểu rằng:“Ý
thức được điều này, Bộ điều chỉnh các trường đại học, tổ chức thông tin cho xã
hội, ngành nào thiếu, ngành nào bão hòa. Chúng tôi quy hoạch lại, phát cảnh
báo về ngành kinh tế quản trị kinh doanh, ngân hàng tài chính, điều dưỡng.
Khu vực, lĩnh vực, địa phương nào cần nhân lực chúng tôi đã phát tín hiệu thu
hút học sinh, sinh viên”.
Và để hạn chế các loại hình đào tạo ồ ạt, nở rộ phức tạp như mở cơ sở
không đảm bảo chất lượng, đào tạo thạc sĩ liên kết chất lượng kém gây ra dư
thừa nhân lực, Bộ GD đã ban hành văn bản giảm đào tạo tại chức còn 50%,
giảm và tiến tới xóa bỏ đào tạo trung cấp chuyên nghiệp; cấm đào tạo tiến sĩ
ngoài cơ sở chính nhà trường, không tổ chức đào tạo tiến sĩ vừa học vừa làm,
chỉ tập trung vào chất lượng, tránh có nhiều tiến sĩ mà không có nhà khoa học.
Tuy nhiên, giải pháp vẫn chỉ là giải pháp nếu không được thực hiện. Đến
bao giờ và làm thế nào để tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp ra trường thất nghiệp, làm
trái ngành giảm vẫn là bài toán khó giải đáp của những người quản lý giáo dục.
KẾT LUẬN
Trên đây là thực trạng cũng như nguyên nhân, giải pháp của tình hình
thất nghiệp. Qua đó ta có thể thấy thất nghiệp đang là một bài toán đau đầu của
các cơ quan chức năng khi lượng người thất nghiệp ngày càng tăng cao và chi
phí cho trợ cấp thất nghiệp cũng là một con số không hề nhỏ.
8
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ giáo dục và đào tạo, Kinh tế học vĩ mô, Nxb Giáo dục.
2. />3. />675426.htm
4. />nghiep/47/9446064.epi